Bản án số 213/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 213/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 213/2026/DS-PT ngày 07/07/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 213/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 07/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà Đ kiện bà H yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất do giả tại nhằm che dấu hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 213/2026/DS-PT Bản án số 213/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/DS-PT Bản án số 213/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 213/2026/DS-PT
Ngày: 07 tháng 7 năm 2026
V/v Tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
hiệu giải quyết hậu quả của
hợp đồng vô hiệu.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Như Hiển
Ông Phạm Văn Tú
- Thư phiên tòa: ông Nguyễn Văn Cường Thư k Tòa án nhân dân
tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Thúy - Kim sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở
phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số 91/2026/TLPT- DS
ngày 12 tháng 5 năm 2026 về việc “Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu; do Bản án dân sự
sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 24 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 1 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa án ra xét xử số 166/2026/QĐ-PT ngày 18 tháng 5
năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Vũ Thị Đ, sinh năm 1962; Địa chỉ: Số nhà A, đường H,
phường Đ, tỉnh Bắc Ninh.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần C- Luật
sư, Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; Địa chỉ: Tầng H, Tòa nhà B,
đường H, phường N, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Chị Lê Thị Bích H, sinh năm 1999; Địa chỉ: Số nhà G, đường H,
phường B, tnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Ngô Văn C1, sinh năm 1958;
Địa chỉ: Số nhà A, đường N, phường B, tỉnh Bắc Ninh.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Văn phòng C3 (nay Văn phòng C3); Địa chỉ: 3 đường H, phường B,
tỉnh Bắc Ninh;
Người đại diện theo pháp luật:Nguyễn Thị Hồng B- Chức vụ: Trưởng
Văn phòng.
2. Bà Phùng Thị T, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số nhà F đường T, phường B,
tỉnh Bắc Ninh.
3. Chị Nguyễn Thị B1, sinh năm 1986; Địa chỉ: thôn A, P, tỉnh Bắc Ninh.
4. Anh Nguyễn Thành L, sinh năm 1984; Địa chỉ: Kiốt A chợ H2, phường
B, tỉnh Bắc Ninh.
- Người kháng cáo: nguyên đơn bà Vũ Thị Đ.
Thị Đ, luật Trần C, Phùng Thị T mặt; các đương sự khác
vắng mặt.
NI DUNG V ÁN
Theo đơn khởi kiện quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn
Thị Đ người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình
bày:
Ngày 15/7/2024, bà và chị Lê Thị Bích H có k Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ 67,
địa chỉ thửa đất: Tổ I, khu C, S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; diện tích thửa
đất 63,1m
2
. Mục đích sử dụng thửa đất: Đất nông thôn (ONT); Thời hạn s
dụng: Lâu dài. Trên thửa đất có ngôi nhà bê tông 2 tầng. Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác trên đất số BĐ 193093 do UBND
thành phố B cấp ngày 29/01/2011 và được công chứng tại Văn phòng C3. Trị g
quyền sử dụng đất tài sản trên đất được 2 bên thỏa thuận miệng
5.679.000.000,00 đồng (bằng chữ: Năm tỷ sáu trăm bảy mươi chín triệu đồng).
Tuy nhiên, do khi soạn thảo Hợp đồng, công chứng viên của Văn phòng công
chứng không ghi giá chuyển nhượng, mà chỉ ghi “do hai bên tự thỏa thuận
tự chịu trách nhiệm”. Nên sau khi nhận được bản hợp đng chứng thực và Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác trên đất số BĐ
193093, chị Lê Thị Bích H là bên nhận chuyển nhượng đã không thực hiện thỏa
thuận nêu tại điều 2 của Hợp đồng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền cho
bà. Ngày 27/10/2024, bà đã gửi cho chị Thị Bích H 01 “Biên bản thỏa thuận
về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”, nhưng ch
H vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán tiền. Ngày 28/10/2024, bà đã gửi cho
chị Lê ThBích H 01 bản “Thông báo về việc thực hiện quyền nghĩa vụ của
Thị Bích H theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn
liền với đất ngày 15/7/2024”.
3
Do chị Thị Bích H đã vi phạm Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất và tài sản gắn liền với đất, làm đơn này khởi kiện chị Lê Thị Bích H đề
nghị Tòa án giải quyết yêu cầu:
- Tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản gắn
liền với đất đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ 67, địa chỉ thửa đất: Tổ I, khu C, xã
S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã k giữa chị Thị Bích H ngày
15/7/2024. Buộc chị Thị Bích H phải trả lại cho bà bản gốc Giấy chứng nhận
quyền sử dng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác trên đất số193093 do
Chủ tịch UBND thành phố B cấp ngày 29/01/2011.
- Yêu cầu chị Thị Bích H bồi thường thiệt hại cho do vi phạm Hợp
đồng đã k với số tiền 400.000.000 đồng (bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng) chi
phí mời Luật sư tại Công ty L2 và các chi phí đi lại, bỏ thời gian bán hàng ở chợ
Đ1 để nhiều lần yêu cầu chị H thực hiện Hợp đồng trên từ ngày 15/7/2024 đến
ngày vụ án được thụ l giải quyết xong.
- Ngày 27/8/2025, bà Thị Đ có đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi
kiện về buộc chị Lê Thị Bích H bồi thường thiệt hại do vi phạm Hợp đồng đã k
với số tiền 400.000.000 đồng (bằng chữ: Bốn trăm triệu đồng) chi phí mời Luật
sư tại Công ty L2 (Đoàn Luật sư T) và các chi phí đi lại, bỏ thời gian bán hàng ở
chợ Đ1.
Đề nghị Tòa án tuyên bố vô hiệu đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ 67, địa chỉ
thửa đất: Tổ I, khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã k giữa bà Vũ Thị Đ
và chị Lê Thị Bích H ngày 15/7/2024 tại Văn phòng C3. Buộc chị Lê Thị Bích H
phải trả lại cho bà Vũ Thị Đ bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền
sở hữu nhà ở và tài sản khác trên đất số BĐ 193093 do Chủ tịch UBND thành phố
B cấp ngày 29/01/2011. trách nhiệm hoàn trả cho chị Nguyễn Thị B1 số
tiền 530.000.000 đồng, mặc đã nhận từ chị B1 chuyển khoản 600.000.000
đồng.
Quá trình tham gia ttụng tại Tòa án, bị đơn chị Thị Bích H
người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:
Chị cháu của Phùng Thị T. Do T chưa được cấp Căn cước công
dân nên đầu tháng 7/2024, T nhờ chị đứng tên giao dịch dân sự. Ngày
15/7/2024, chị có k hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Th
Đ. Theo đó, chị đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ 67, địa chỉ thửa đất: Tổ I, khu C, xã
S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; diện tích thửa đất 63,1m
2
, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác trên đất số 193093
ngày 29/01/2011 được công chứng tại Văn phòng C3, thống nhất giá là
1.000.000.000 đồng. Sau khi k hợp đồng, Đ nhờ số tài khoản của chị
Nguyễn Thị B1, để T chuyển 1.000.000.000 đồng. Sau đó, chị B1 chuyển lại
cho Đ số tiền 600.000.000 đồng, còn lại chị B1 trả cho bà Đ 400.000.000 đồng
4
tiền mặt. Nay, theo yêu cầu khởi kiện của bà Đ, chị cũng đề nghị Tòa án tuyên bố
“Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” đối với
thửa đất số 41, tờ bản đồ 67, địa chỉ thửa đất: Tổ I, khu C, xã S, thành phố B, tỉnh
Bắc Giang đã k giữa chị Đ ngày 15/7/2024 hiệu do giả tạo hoàn
trả cho nhau những gì đã nhận. Chị đồng  trả lại cho bà Đ bản gốc “Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác trên đất” số
193093 do Chủ tịch UBND thành phố B cấp ngày 29/01/2011.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có lời khai xác định:
- Đại diện Văn phòng C3 (nay là Văn phòng C3) trình bày: Ngày
15/7/2024, Văn phòng C3 thực hiện công chứng hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng
Thị Đ có căn cước công dân số ************ và bên nhận chuyển nhượng là bà
Thị Bích H căn cước công dân số ************. Tài sản chuyển nhượng
thửa đất số 41; tờ bản đồ 67; địa chthửa đất: tổ I, Khu C, S, thành phố B.
Tài sản gắn liền với đất: Nhà cấp IV. Số công chứng 1789, quyển số
01/2024/TP/CC-SCC/HĐGD. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài
sản gắn liền với đất do công chứng viên chứng nhận được thực hiện theo đúng
trình tự, thủ tục tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tại thời điểm ng
chứng, Văn phòng không nhận được bất kỳ văn bản, tài liệu nào của quan
thẩm quyền hoặc của tổ chức, cá nhân nào yêu cầu dừng giao dịch đối với tài sản
nêu trên; tài sản không có tranh chấp, không bị phong tỏa, kê biên để đảm bảo thi
nh án cũng không thuộc trường hợp đã có thông báo hay quyết định thu hồi ca
quan thẩm quyền; Hai bên tự nguyện giao kết hợp đồng; Mục đích, nội dung
thỏa thuận của các bên trong hợp đồng không vi phạm pháp luật, không trái đạo
đức hội; Hai bên tham gia giao dịch đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo
quy định của pháp luật; Hai bên đã tự đọc lại hợp đồng trước khi k, đồng  toàn
bộ nội dung hợp đồng và tự nguyện k tên vào hợp đồng trước mặt Công chứng
viên. Quá trình giải quyết v án, đại diện văn phòng đề nghị được vắng mặt trong
tất cả các buổi làm việc của Tòa án và xin vắng mặt trong tất cả các phiên xét xử
của Tòa án.
- Phùng Thị T trình bày: Đầu tháng 7/2024 do giấy tờ đổi Căn cước
công dân của chưa làm xong, nên nhờ cháu chị Thị Bích H đứng
tên k Hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sdụng đất của bà Vũ Thị Đ tại Văn
phòng C3. Trước khi k Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hai bên
giữa Đ đã thống nhất giá cả nhà đất của bà Đ 1.000.000.000 đồng (Một
tỷ đồng). Sự thống nhất giá cả chuyển nhượng nhà đất và phương thức thanh toán
giữa bà với bà Đ, có sự tham gia của chị Nguyễn Thị B1 nhận cháu bà Đ, bà Đ
giao toàn quyền cho chị B1 từ khi k Hợp đồng đến khi thanh toán tiền xong, có
sự tham gia của anh Nguyễn Thành L người môi giới. Sau khi k Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị H với bà Đ thì bà có xin số tài khoản
của Đ để chuyển tiền nhưng Đ nói không tài khoản nên Đ nhờ
tài khoản của chị Nguyễn Thị B1. Nên, ngay sau khi k Hợp đồng chuyển nhượng
5
quyền sử dụng đất ngày 15/7/2024 chuyển tiền cho chị B1 1.000.000.000 đồng.
Sau đó chị B1 đã chuyển tiền cho Thị Đ 600.000.000 đồng, n
400.000.000 đồng chị B1 nói là sẽ trả bà Đ bằng tiền mặt. Sở dĩ bà biết bà Vũ Thị
Đ nhà đất muốn bán là do anh Nguyễn Thành L người môi giới giới thiệu,
chị B1 nhận là cháu ruột bà Đ để hai bên mua bán nhà đất với nhau chị B1, anh
L là người liên quan đến sự việc mua bán, chuyển tiền k Hợp đồng chuyển
nhượng đất. Nay Vũ Thị Đ khởi kiện chị H yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất k ngày 15/7/2024. Bà đnghị Tòa án xác định Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị H và bà Đ là Hợp đồng vô hiệu
giả tạo theo điều 124 Bộ luật Dân sự và hậu quả của Hợp đồng vô hiệu theo điều
131 BLDS là các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những
gì đã nhận. Bà và chị H đồng  trả bà Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gốc
mang tên ông Nguyễn Minh H1 và bà Vũ Thị Đ do UBND thành phố B cấp ngày
29/01/2011.
Ngày 27/8/2025, Phùng Thị T đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án
buộc Đ trách nhiệm hoàn trả cho số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm
triệu đồng) lãi suất phát sinh tính từ ngày 15/7/2024 với mức lãi 10%/năm, tính
đến nay 95.000.000 đồng, tổng cộng là 695.000.000 đồng. thực tế số tiền
1.000.000.000 đồng chuyển cho chị B1 để trả tiền mua nhà đất cho Đ,
chứ không phải cho chị B1 vay, nhưng chị B1 chỉ chuyển khoản cho Đ
600.000.000 đồng. Nên nay bà đề nghị bà Đ trả lại cho số tiền này, số tiền còn lại
bà sẽ yêu cầu đối với chị B1 sau.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra,
- Phùng Thị T khai: Thông qua anh Nguyễn Thành L, Phùng Thị T
được giới thiệu cho bà Vũ Thị Đ vay 1.000.000.000 đồng bằng hình thức k hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất để bảo đảm khoản vay trong thời hạn 03
tháng. Nếu bên vay trả đtiền thì sẽ chuyển nhượng lại; nếu không trả thì bà được
quyền sở hữu thửa đất. Ngày 15/7/2024, T đến Văn phòng công chứng Phạm
Mạnh C2, sử dụng cháu là Lê Thị Bích H đứng tên nhận chuyển nhượng. Bà cho
rằng Đ trực tiếp đọc, nghe công chứng viên giải thích, xác nhận đã hiểu nội
dung hợp đồng rồi mới k. Sau khi công chứng, theo hướng dẫn của chị Nguyễn
Thị B1, bà T giao 100.000.000 đồng tiền mặt cho anh L chuyển khoản
900.000.000 đồng vào tài khoản của chị B1, tổng cộng 1.000.000.000 đồng. Sau
giao dịch, bà nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hợp đồng công chứng,
còn chị B1 nhận toàn bộ số tiền 1.000.000.000 đồng.
- Chị Nguyễn Thị B1 trình bày: Chị làm công việc môi giới về việc vay vốn
ngân hàng và bất động sản, nên có nhiều mối quan hệ với ngân hàng và cộng tác
viên. Chị không quen biết với Thị Đ. Khi được biết thông tin Đ
nhu cầu muốn vay tiền ngân hàng nhưng do đã quá tuổi và nợ xấu nên không
thực hiện được giao dịch vay vốn ngân hàng. Ngày 12/7/2024, anh M là cộng tác
viên của ngân hàng, bất động sản, anh M đã người chủ động gửi hồ gồm biên
bản thẩm định giá của Ngân hàng V, căn cước công dân, giấy chứng nhận quyền
6
sử dụng đất, trích lục thửa đất đến để giới thiệu việc chủ shữu của thửa đất muốn
vay tiền, là thửa đất số 41, tờ bản đồ số 67; địa chỉ: Tổ I, khu C, xã S, thành phố
B mang tên Thị Đ. Sau khi xem xét hồ sơ và thông báo cho anh M về việc cho
vay số tiền 600.000.000 đồng. Sau đó chị chuyển hồ pháp l gồm các nội dung:
Căn cước công dân của chị để k vi bằng (văn bản thoả thuận để k sang tên chị
hoặc người do chị chỉ định) kèm theo mẫu vi bằng do Thừa Phát L1 Thủ đô, số
6A, P, Hà Nội phát hành.
Sau khi thống nhất với M xong số tiền vay chị gửi hồ đến anh Nguyễn
Thành L là người kinh doanh bất động sản tại Bắc Giang do đã quen biết tình cờ
gặp nhau từ tháng 6/2024 hiểu về việc giới thiệu vay vốn, môi giới bất động
sản. Do đó, anh L chủ động khớp khách để làm sao được hưởng hoa hồng. Ngày
13/7/2024, chị gửi thông tin hồ sơ của bà Đ giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất mang tên Vũ Thị Đ cho anh L nắm được thông tin để khớp khách hàng.
Anh Nguyễn Thành L là cháu của bà Phùng Thị T, chị được quen biết T
qua anh L, T đã cho chị vay số tiền là 1 tỷ đồng để chị thực hiện giao dịch mua
đất của bà Đ. T đã chuyển khoản cho chị 900.000.000 đồng vào số tài khoản
và 100.000.000 đồng đưa tiền mặt cho anh L, sau đó anh L đã chuyển lại cho chị
số tiền 100.000.000 đồng này. Chị xác nhận đã vay của bà Phùng Thị T 1 tỷ đồng.
Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi cho bà Phùng Thị T, T đã nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất thửa đất số 41, tờ bản đồ số 67; địa chỉ: Tổ I, khu C,
xã S, thành phố B từ bà Vũ Thị Đ, hợp đồng chuyển nhượng đã được chứng thực
tại văn phòng công chứng ngày 15/7/2024. Nhưng do T thời điểm đó không
căn cước công dân, nên T đã để cho cháu của bà T là chị H nhận đứng tên nhận
chuyển nhượng đất trên. Trong ngày 15/7/2024, chị đã chuyển khoản cho Đ
tổng số tiền là 600.000.000 đng là trong s tiền 1.000.000.000 đồng ch vay của
bà T. Còn 400.000.000 đồng còn lại, chị đã chi phí để làm hồ sơ vay vốn cho các
bên. Về yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Đ, chị có quan điểm như sau:
Đ yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài sản
gắn liền đất đi với thửa đất số 41, tờ bản đồ 67, địa ch thửa đất: Tổ I, khu C, xã
S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã k giữa Thị Đ chị Thị Bích H ngày
15/7/2024 tại Văn phòng C3. Buộc chị Lê Thị Bích H phải trả lại cho bà Vũ Thị
Đ bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản
khác trên đất số 193093 do Chủ tịch UBND thành phố B cấp ngày 29/01/2011
mang tên ông Nguyễn Minh H1 Vũ Thị Đ đã được Chi nhánh Văn phòng đăng
k đất đai thành phố B xác nhận biến động sang tên Thị Đ, thì chị hoàn toàn
nhất trí về yêu cầu này của bà Đ.
Trong trường hợp Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền đất đối với thửa đất số 41, tờ bản đồ 67, địa chỉ thửa
đất: Tổ I, khu C, S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đã k giữa Thị Đ
chị Lê Thị Bích H ngày 15/7/2024 tại Văn phòng C3 thì chu cầu bà Vũ Thị Đ
7
phải trả lại chị số tiền 600.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại cho chị
chi phí đã bỏ ra là 300.000.000 đồng, tổng cộng là 900.000.000 đồng.
- Anh Nguyễn Thành L khai: Anh chỉ là người môi giới chứng kiến sự việc
các bên giao dịch chuyển nhượng đất, thực tế thì anh không quyền lợi, nghĩa
vụ giữa các bên. Nên, đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục giải quyết vụ án,
anh xin được vắng mặt, kể cả các phiên hòa giải phiên tòa do Tòa án mở ra.
Giữa các bên chH, bà Đ, chị T và chị B1 tự giải quyết với nhau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DSST ngày 24/02/2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 1- Bắc Ninh đã tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Thị Đ về buộc chị
Thị Bích H bồi thường thiệt hại do vi phạm Hợp đồng đã k với số tiền
400.000.000 đồng là chỉ phí mời Luật sư tại Công ty L2 (Đoàn Luật sư T) và các
chi phí đi lại, bỏ thời gian bán hàng ở chợ Đ1 (phường Đ, TP B).
2. Chấp nhận yêu cầu của các đương sự, tuyên bố hiệu đối với Hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số
41, tờ bản đồ 67, địa chỉ thửa đất: Tổ I, khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
đã k giữa bà Vũ Thị Đ và chị Lê Thị Bích H ngày 15/7/2024 tại Văn phòng C3.
3. Buộc chị Lê Thị Bích H phải trả lại cho Thị Đ bản gốc Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác trên đất số bìa:
193093; số vào số cấp: H 00248-số 336/QĐ-UBND do UBND thành phố B
cấp ngày 29/01/2011 mang tên ông Nguyễn Minh H1 và bà Vũ Thị Đ.
4. Buộc Thị Đ phải hoàn trả cho Phùng Thị T số tiền gốc
600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) số tiền lãi 95.000.000 đồng (Chín
mươi nhăm triệu đồng). Tổng cộng là 695.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo hướng
dẫn thi hành án theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/3/2026, bà Vũ Thị Đ kháng cáo một phần
bản án thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án thẩm theo hướng không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà
Phùng Thị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
- Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phùng Thị T rút toàn bộ yêu
cầu độc lập về việc yêu cầu bà Đ trách nhiệm hoàn trả cho bà số tiền
600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng) và tiền lãi phát sinh là 95.000.000 đồng,
tổng cộng là 695.000.000 đồng.
- Nguyên đơn Thị Đ đồng với việc rút yêu cầu độc lập của bà Phùng
Thị T; đồng thời bà Đ xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
- Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn đồng với
kiến của bà Đ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định ca pháp luật.
8
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc
giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử Thư k phiên a đã thực hiện đúng quy
định của Bộ Luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp
luật dân sự.
Về nội dung vụ án: xét thấy việc rút yêu cầu độc lập của người liên quan
và việc đồng  với việc rút yêu cầu độc lập, rút đơn kháng cáo của nguyên đơn là
tự nguyện, không trái quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xhủy
một phần bản án sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập ca người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị T.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã
được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan, không kháng cáo nên căn cứ theo quy định
tại khoản 2 điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử
vắng mặt đối với các đương sự trên.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Phùng Thị T rút toàn bộ yêu cầu độc lập vviệc đề nghị Tòa án buộc Đ
trách nhiệm hoàn trả cho số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng)
tiền lãi phát sinh 95.000.000 đồng, tổng cộng 695.000.000 đồng. Nguyên đơn
Thị Đ đồng với việc rút yêu cầu độc lập của Phùng Thị T; đồng thời
Đ xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo.
Xét việc rút toàn bộ yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan Phùng Thị T việc nguyên đơn Thị Đ đồng việc rút yêu cầu
độc lập của T hoàn toàn tự nguyện, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của người khác nên căn cứ quy định của Điều 299 và Điều 311 của Bộ luật
tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm, đình chỉ giải quyết
đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phùng Thị
T.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản l và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[3.1] Án phí dân sự sơ thẩm: các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
theo quyết đnh của Tòa án cấp sơ thẩm.
[3.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Thị Đ được miễn do thuộc trường
hợp người cao tuổi.
9
[4] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ
- Điều 299, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Điều 124, Điều 131, Điều 463, Điều 466 của B luật dân sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l sử
dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 16/2026/DS-ST ngày 24 tháng
02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Bắc Ninh đình chỉ giải quyết
yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phùng Thị T về
việc buộc bà Vũ Thị Đ trả cho bà số tiền 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đng)
và tiền lãi phát sinh 95.000.000 đồng, tổng cộng là 695.000.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: tuyên bố vô hiệu đối với
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất tài sản gắn liền với đất đối với
thửa đất số 41, tờ bản đồ 67, địa chỉ thửa đất: Tổ I, khu C, xã S, thành phố B, tỉnh
Bắc Giang đã k giữa bà Vũ Thị Đ và chị Lê Th Bích H ngày 15/7/2024 tại Văn
phòng C3.
3. Buộc chị Thị Bích H phải trả lại cho Thị Đ bản gốc Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác trên đất số bìa:
193093; số vào sổ cấp: H 00248-số 336/QĐ-UBND do UBND thành phố B
cấp ngày 29/01/2011 mang tên ông Nguyễn Minh H1 và bà Vũ Thị Đ.
4. Về án phí:
4.1 Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Vũ Thị Đ được miễn.
- Chị Lê Thị Bích H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
- Phùng Thị T không phải chịu; hoàn trả số tiền 15.200.000 đồng (Mười
lăm triệu, hai trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí T đã nộp theo Biên lai thu số
0000537 ngày 04/9/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh
4.2 Án phí dân sự phúc thẩm: bà Vũ Thị Đ được miễn.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
10
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Nguyễn Như Hiển Phạm Văn
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Chuyền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 213/2026/DS-PT Bản án số 213/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 213/2026/DS-PT Bản án số 213/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất