Bản án số 201/2026/DS-PT ngày 30/07/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 201/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 201/2026/DS-PT ngày 30/07/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng trao đổi tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 201/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán giữa nguyên đơn Trần Quang D và bị đơn Trần Thị Á
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Bản án số: 201/2026/DS-PT
Ngày 30/7/2026
Tranh chấp hợp đồng mua bán
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trần Thị Bé.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Mai.
Bà Nguyễn Hữu Thị Hảo Hảo.
- Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Thị Ngọc Linh -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 30 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử
phúc thẩm công khai ván dân sự thụ số: 106/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm
2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 265/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026 của Tòa
án nhân dân Khu vực 1, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra t xử phúc thẩm số: 196/2026/QĐ-PT ngày 01
tháng 7 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số: 282/2026/QĐ-PT ngày 16 tháng 7
năm 2026 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Quang D, sinh năm 1991; Số CCCD: *********xxx; địa
chỉ: K Đường B, phường H, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ liên hệ: Số A đường C, phường
N, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm
1986; SCCCD: *********xxx; địa chỉ: T, T, thành phố Đà Nẵng (Theo Giấy ủy
quyền ngày 26/11/2025). Có đơn xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Trần Thị Á, sinh năm 1993; Số CCCD: *********xxx; địa chỉ: Số A
T, phường H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Hoàng Đỗ Thanh N, sinh năm
1994; Số CCCD: *********xxx; địa chỉ: số A đường M, phường H, thành phố Đà Nẵng
(Theo Giấy ủy quyền ngày 01/7/2026). Có mặt.
- Người làm chứng:
2
+ Ông Đặng Công T1, sinh năm 1979, địa chỉ: Số A đường T, phường H, thành
phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
+ Trần Thị H, sinh năm 1992, địa chỉ: C đường Đ, phường A, thành phố Đà
Nẵng. Vắng mặt.
- Người kháng cáo:Trần Thị Á là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Nguyên đơn ông Trần Quang D trình bày: Ông Trần Quang D chủ sở hữu
Spa mang tên Hana S & W, tại địa chỉ A đường C, phường A, quận S, thành phố Đà
Nẵng. Ông D nhu cầu sang lại S và bà Trần Thị Á đồng ý mua lại với giá 280.000.000
đồng. Trần Thị Á đã đặt cọc số tiền 30.000.000 đồng, đến ngày 1/4/2024, Á thanh
toán số tiền 200.000.000 đồng và còn nợ lại 50.000.000 đồng. Ông D đã bàn giao lại toàn
bộ sở Spa cho bà Á để kinh doanh. Đến nay bà Á vẫn chưa trả cho ông D số tiền còn
nợ là 50.000.000 đồng như trong hợp đồng cam kết. Do đó, ông D yêu cầu bà Trần Thị Á
hoàn trả cho ông D stiền còn nợ mua Spa là: 50.000.000 đồng. Tại trang 4 Hợp đồng
chuyển nhượng cửa hàng ngày 01/4/2024, dòng chữ “Bên A đã nhận bên B lần này
200.000.000 (Hai trăm triệu đồng) Bên B còn nợ bên A 50.000.000 (năm mươi triệu
đồng)”. Chữ trên do bà Á ghi, nội dung mục đích bà Á ghi còn nợ 50.000.000 đồng là số
tiền còn thiếu do sang nhượng cửa hàng H2, không phải do thiếu giấy tờ Phòng cháy
chửa cháy (PCCC). Hợp đồng không quy định khoản tiền 50.000.000 đồng chỉ được
thanh toán sau khi hoàn tất thủ tục phòng cháy chữa cháy. Mặt khác, hợp đồng cũng quy
định bên B trách nhiệm kiểm tra, yêu cầu bên A cung cấp các tài liệu cần thiết trước
khi nhận chuyển nhượng Bên B chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của
mình theo quy định của pháp luật.
bị đơn ông Hoàng Đỗ Thanh N trình bày: Do nhu cầu kinh doanh lĩnh vực
Spa, chăm c da, dịch vụ gội đầu dưỡng sinh nên Á tìm hiểu biết được ông
Trần Quang D đang quản hộ kinh doanh trong lĩnh vực này Spa tại địa chỉ số A C, A,
S, Đà Nẵng. Hai bên kết Hợp đồng đặt cọc vào ngày 19/3/2024. Theo Hợp đồng đặt
cọc này, bà Á đã thanh toán tiền cọc cho ông D là 30.000.000 đồng. Đến ngày 01/4/2024,
hai bên tiếp tục kết Hợp đồng chuyển nhượng cửa hàng, với giá trị 280.000.000
đồng. Tại thời điểmkết Hợp đồng chuyển nhượng cửa hàng thì Hộ kinh doanh H3 của
ông D chưa được cấp Giấy chứng nhận an ninh, trật tự và phòng cháy chữa cháy (PCCC).
Hai bên thỏa thuận miệng với nhau rằng sau khi bà Á được cấp Giấy chứng nhận hộ kinh
doanh tông D sẽ giúp Á thực hiện các thủ tục để được Giấy chứng nhận an ninh,
trật tự và PCCC nhằm phục vụ cho việc kinh doanh Spa. Để đảm bảo trách nhiệm thực
hiện công việc của hai bên, Á ông D đã thỏa thuận với nhau rằng bà Á sẽ giữ lại
50.000.000 đồng khi nào ông D thực hiện xong thủ tục cấp Giấy chứng nhận an ninh, trật
tự PCCC thì Á sẽ thanh toán toàn bộ số tiền còn lại cho ông D. Đến khoảng ngày
30/9/2024, ông D bàn với Á rằng để thực hiện thủ tục xin Giấy chứng nhận an
3
ninh, trật tự PCCC thì ông D cần 5.000.000 đồng, lúc y ông D trao đổi với anh
Đặng Công T1 bạn của Á. Đến ngày 01/10/2024, Á nhờ ông Đặng Công T1
chuyển khoản cho ông D số tiền 5.000.000 đồng để ông D hoàn thiện các thủ tục cần
thiết. Sau này, ông Duy thực hiện xong thì Á sẽ thanh toán tiếp số tiền 45.000.000
đồng sau khi trừ đi 5.000.000 đồng trên. Kể từ thời điểm ông D nhận thêm 5.000.000
đồng của Á, đến bây giờ Á không nhận được thông tin từ ông D hay các loại giấy
phép mà hai bên thỏa thuận. Bà Á không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D do trách
nhiệm thực hiện các thủ tục pháp ông D chưa thực hiện xong nhưng ông D khởi kiện
buộc bà Á phải thanh toán cho ông D 50.000.000 đồng là không có cơ sở.
- Người làm chứng là ông Đặng Công T1 trình bày: Ông T1 thống nhất với ý kiến
của Á. Ông T1 là người góp vốn kinh doanh cùng bà Á tại Hộ kinh doanh H3. Tuy
nhiên mọi giấy tờ do A đứng tên. Trong quá trình mua bán, sang nhượng Spa, ông T1
có liên hệ với nguyên đơn là ông D để hoàn thiện thủ tục sang nhượng quán. Mục đích bà
Á còn nợ ông D s tiền 50.000.000 đồng ghi mặt sau ng của hợp đồng để ông D
hoàn thiện giấy tờ PCCC, do thời điểm ký hợp đồng sang nhượng thì quán Spa của ông D
chưa có giấy tờ PCCC theo quy định, cũng như đây là cam kết trách nhiệm của ông D
quy định tại hợp đồng quyền lợi của Á quy định tại hợp đồng. Ngoài ra, ngày
01/10/2024, ông D còn yêu cầu ông T1 chuyển khoản 5.000.000 đồng để ông D làm giấy
tờ PCCC, và ông T1 đã chuyển khoản số tiền 5.000.000 đồng cho ông D.
Với nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự số: 265/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1, thành phố Đà Nẵng đã xử và quyết định: Căn
cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1
Điều 228; khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 430, 431, 433, 434,
440 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí lphí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang D đối
với bà Trần Thị Á về việc "Tranh chấp hợp đồng mua bán".
Tuyên xử:
1. Buộc bà Trần Thị Á trả cho ông Trần Quang D số tiền 50.000.000 đồng.
Kể từ ngày 29 tháng 4 năm 2026 cho đến khi thi hành án xong, Trần Thị Á n
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được các n
thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định pháp luật; nếu không thỏa thuận về mức
lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân
sự năm 2015.
2. Về án phí: Trần Thị Á phải chịu 2.500.000 đồng (Hai triệu, m trăm ngàn
đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Trần Quang D số tiền tạm ứng án phí
đã nộp 1.250.000 đồng (Một triệu, hai trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số
0004518 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Ngoài ra án thẩm còn thông báo quyền kháng cáo cho các đương sbiết theo
quy định của pháp luật.
4
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/5/2026, bà Trần Thị Á có đơn kháng cáo hủy toàn
bộ bản án thẩm do không đưa ông Đặng Công T1 vào tham gia với cách người
làm chứng vì ông T1 là người cùng góp vốn với Á.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa kết quả tranh tụng
tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận nghị
án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn Trần Thị Á thì thấy: Nguyên đơn
ông Trần Quang D (bên A) bị đơn Trần Thị Á (bên B) Hợp đồng chuyển
nhượng cửa hàng ngày 01/4/2024, nội dung Bên A đồng ý chuyển nhượng lại toàn bộ cửa
hàng H2 cho bên B cùng tất cả các cơ sở vật chất, thiết bị bên trong. Giá chuyển nhượng
280.000.000 đồng. Trần Thị Á đã đặt cọc số tiền 30.000.000 đồng. Ngày 01/4/2024,
Á đã giao cho ông D 200.000.000 đồng. Ông D đã bàn giao sở Spa cho Á kinh
doanh. Á còn nợ ông D 50.000.000 đồng. Tại Biên bản đối chất ngày 19/01/2026, hai
bên đều thừa nhận chữ viết tay tại trang sau của hợp đồng do Á viết. Ông D khai
rằng số tiền 50.000.000 Á ghi còn nợ ông D stiền còn thiếu do sang nhượng cửa
hàng. Á cho rằng 50.000.000 đồng này Á giữ lại đến khi nào ông D thực hiện
xong thủ tục xin Giấy chứng nhận an ninh trật tự PCCC thì Á mới thanh toán số
tiền này cho ông D. HĐXX xét thấy: Căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng cửa hàng
ngày 01/4/2024, trong phần nội dung, hai bên không ghi nhận sthỏa thuận về nghĩa vụ
của Á khi trả số tiền còn lại 50.000.000 đồng thì ông D phải trách nhiệm, nghĩa vụ
thực hiện thủ tục xin Giấy chứng nhận an ninh trật tự và PCCC. Mặt khác, tại Điều 3 của
Hợp đồng chuyển nhượng cửa hàng ngày 01/4/2024, phần cam kết và trách nhiệm của
Bên A (ông Trần Quang D) quy định rõ: Đã được cấp các giấy tờ hợp pháp đối với
lĩnh vực hoạt động kinh doanh”. Đồng thời, tại phần cam kết của Bên B (bà Trần Thị Á)
cũng quy định nghĩa vụ: Đối soát yêu cầu Bên A cung cấp các giấy tờ cần thiết để
phục vụ hoạt động kinh doanh”. Xét thấy, bị đơn cho rằng cụm từ "giấy thợp pháp đối
với lĩnh vực hoạt động kinh doanh" tại hợp đồng bao gồm cả giấy chứng nhận an ninh
trật tự phòng cháy chữa cháy (PCCC), tđó cho rằng ông D phải nghĩa vụ hoàn
thành các loại giấy tờ này không sở. Bởi lẽ, xét về bản chất pháp của giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ gia đìnhgiấy phép con gắn liền với nhân thân chủ
thể kinh doanh thì thấy: Đối chiếu với Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, ngành nghề
kinh doanh dịch vụ spa, chăm sóc da, massage (mã 9610, mã 9631) tại thời điểm giao kết
hợp đồng hoạt động dưới hình thức Hộ kinh doanh do ông Trần Quang D đứng tên chủ
hộ. Giấy tờ pháp lý nền tảng để cơ sở hoạt động hợp pháp chính là Giấy chứng nhận đăng
ký hộ kinh doanh mà ông D đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và thực tế ông
đã bàn giao đầy đủ cho Á. Sau khi làm thủ tục chuyển nhượng xong thì bà Á đã được
cấp Giấy chứng nhận đăng hộ kinh doanh do Á chủ hộ kinh doanh. Về giấy
5
chứng nhận an ninh, trật tự phòng cháy chữa cháy (PCCC), theo quy định tại Nghị
định số: 96/2016/NĐ-CP và Nghị định số: 56/2023/NĐ-CP, đây là các loại giấy phép còn
có điều kiện. Loại giấy phép này gắn liền trực tiếp với nhân thân, tên tuổi, số căn cước và
trách nhiệm pháp lý của người đứng đầu sở kinh doanh (chủ hộ kinh doanh mới). Do
đó, khi ông D chuyển nhượng toàn bộ cơ sở vật chất và quyền quản lý địa điểm cho bà Á,
Á đã đứng tên làm chủ hộ kinh doanh mới, do đó, bà Á phải có trách nhiệm thực hiện
các nghĩa vụ để được cấp Giấy chứng nhận an ninh trật tự, PCCC. Do vậy, cam kết của
ông D tại hợp đồng là đã được cấp các giấy tờ pháp lý để hoạt động, nghĩa là đã được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh và cơ sở vật chất hợp pháp, hoàn toàn không thể
hiểu ông D phải nghĩa vụ xin cấp các loại giấy phép mang tính chất nhân thân
phụ thuộc vào quá trình vận hành thực tế của chủ thể mới. Việc Á nhận chuyển
nhượng đồng nghĩa với việc tiếp quản toàn bộ hiện trạng và tự chịu trách nhiệm thực hiện
các thủ tục pháp phát sinh để đứng tên chủ sở hữu hoạt động theo quy định. Mặt khác,
theo bà Á thì ông T1 người cùng góp vốn với bà Á mua lại cửa hàng H2 của ông D
người đưa cho ông D stiền 5.000.000 đồng để ông D làm các thủ tục cấp Giấy phép
PCCC nhưng trong hợp đồng chuyển nhượng không nội dung nào tên ông T1
người p vốn cùng Á, đồng thời ông T1 không yêu cầu đối với ông D về việc
trả lại số tiền 5.000.000 đồng nên cấp thẩm đưa ông T1 tham gia với cách người
làm chứng, mà không đưa ông T1 với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là
đúng. Tại cấp thẩm trong quá trình xét xử phúc thẩm, Á không cung cấp các tài
liệu, chứng cứ để chứng minh giữa Á ông T1 cùng người nhận chuyển nhượng
như đã trình bày. Do đó, cấp thẩm buộc Á phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông D
số tiền 50.000.000 đồng là hoàn toàn có cơ sở.
[2] Từ những phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn
Trần Thị Á.
[3] Về án phí DSST: Bà Trần Thị Á phải chịu 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm
nghìn đồng). Hoàn trả lại số tiền tạm ứng án phí ông Trần Quang D đã nộp 1.250.000
đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí số
0004518 ngày 27 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
[4] Về án pDSPT: Do không chấp nhận kháng cáo nên Trần Thị Á phải chịu
án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân
theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sgiai đoạn phúc thẩm đề nghị
Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án
sơ thẩm số: 265/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 1,
thành phố Đà Nẵng theo hướng không chấp nhận kháng cáo của Trần Thị Á. Xét đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên
chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
6
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 430, 431, 433,
434, 440 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
I. Không chấp nhận kháng cáo của Trần Thị Á đối với ông Trần Quang D.
II. Giữ nguyên Bản án thẩm số: 265/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Đà Nẵng.
III. Án phí DSPT: Trần Thị Á phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng)
nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án
phí số 0005425 ngày 22/5/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Trường hp bn án, quyết định được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut thi
hành án dân s thì người được thi hành án dân sự, người phi thi hành án dân s
quyn tha thun thi hành án, quyn u cu thi hành án, t nguyn thi hành án hoc b
ng chế thi hành án theo quy đnh tại các Điều 6, 7 và 9 Lut Thi hành án dân s; thi
hiệu thi hành án được thc hin theo quy định tại Điu 30 Lut Thi hành án dân s.
IV. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- TAND khu vực 1 - Đà Nẵng;
- Phòng THADS khu vực 1 - Đà Nẵng;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Bé
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 201/2026/DS-PT Bản án số 201/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất