Bản án số 968/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 968/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 968/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 968/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Quốc Bảo - Văn Thị Đẹp - tranh chấp QSDĐ
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 968/2026/DS-PT Bản án số 968/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 968/2026/DS-PT Bản án số 968/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 968/2026/DS-PT
Ngày: 29-7-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế.
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét x phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Thanh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Phương
Thị Bích Tuyền
- Thư phiên tòa: Ông Ngọc Khánh Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Nguyễn Thị Tho - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22 29 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 425/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng
5 năm 2026 v việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử
dụng đất thừa kế”.
Do Bản án dân sự thẩm số 48/2026/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 6 Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2026/QĐ-PT ngày 25 tháng 6 năm
2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Quốc B, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp C, xã L, tỉnh
Tây Ninh. (Có mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của ông B: Ông Trần Hữu T, sinh năm 1971; Địa
chỉ: Số A, khu phố T, phường L, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản ủy quyền ngày
19/6/2024). (Vắng mặt)
2. Bị đơn:
2.1. Văn Thị Đ, sinh năm 1946; Địa chỉ: Ấp C, L, tỉnh Tây Ninh.
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Đoàn Thị Phương D, sinh năm
1969; Địa chỉ liên hệ: Số A, đường N, phường L, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy
quyền ngày 21/6/2024). (Có mặt)
2.2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Ấp C, L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Phan Thị Hồng H1, sinh năm
1984; Địa chỉ: Số D ấp C, L, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày
28/10/2025). (Có mặt)
3. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Văn phòng C.
Địa chỉ: Số B, Quốc lộ E Ấp C, trung tâm thương mại K1, C, tỉnh Tây Ninh.
(Xin vắng mặt)
3.2. Phạm Thị Kim T1, sinh năm: 1973; Địa chỉ: Ấp C, L, tỉnh Tây Ninh.
(Có mặt)
Người đại diện ủy quyền của T1: Ông Trần Hữu T, sinh năm 1971; Địa chỉ:
A, khu phố T, phường L, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày 11/12/2024).
(Vắng mặt)
3.3. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp C, L, tỉnh Tây Ninh.
3.4. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1972; Địa chỉ: Số D ấp C, L, tỉnh Tây
Ninh.
Người đại diện ủy quyền của ông N ông T2: Trần Thị Ngọc H2, sinh
năm 1963. Địa chỉ: Ấp L, H, tỉnh Tây Ninh (theo văn bản ủy quyền ngày
24/12/2024). (Xin vắng mặt)
3.5. Ông Trần Văn H3, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số D Ấp C, L, tỉnh Tây
Ninh. (Xin vắng mặt)
3.6. Trần Thị N1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số A ấp D, T, tỉnh Tây Ninh.
(Xin vắng mặt)
3.7. Ông Trần Phúc H4, sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp A, B, Thành phố Hồ
Chí Minh. (Xin vắng mặt)
3.8. Phan Thị Hồng H1, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số D ấp C, L, tỉnh Tây
Ninh. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện các ngày 11/4/2024, 22/5/2024, 27/10/2025 các lời trình
bày trong q trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Huỳnh Quốc B nội dung:
Ngày 19/8/1995, cha ông B ông Huỳnh Văn H5 mua diện tích đất căn nhà
của ông Văn S, sinh năm 1942, ngụ tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay
L, tỉnh Tây Ninh) với số vàng 6 chỉ ng 24K (hiện nay khu A, diện tích
87m² theo mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của Công ty TNHH K2 do Chi nhánh
3
Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 12/9/2025). Cha ông đã cho ông
cất n ổn định trên diện tích đất này từ năm 1995 đến nay, không ai tranh chấp.
Khi mua bán với ông S, ông H5 làm giấy tay nhiều người làm chứng. Đến
năm 2004, ông B tiến hành xây nhà cấp 4 như hiện nay. Vào năm 2004, Văn Thị
Đ con trai anh Nguyễn Văn H bán cho ông một phần diện tích đất tại thửa
đất số 22, tờ bản đồ số 3, loại đất tại nông thôn với diện tích khoảng 160m², phía
sau phần đất cha ông đã mua của ông S trước đây, với chiều ngang 5,5m, chiều
dài hết ranh đất khoảng 30m với giá 3.500.000 đồng, ông đã trả tiền đủ, phần đất
này tiếp giáp với phía sau phần đất gia đình ông mua của ông S vào năm 1995. Khi
mua bán làm giấy tay mua bán ngày 01/3/2004, hiện nay ông xác định Khu B,
diện tích 73,9m
2
, theo mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của Công ty TNHH K2
do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 12/9/2025.
Năm 2010, Văn Thị Đ đã khai đăng đối với thửa đất số 22, tờ bản đồ
số 03, diện tích 309,3m² Đ được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất ngày 31/12/2010 trong đó phần đất cha ông B đã mua của ông
Văn S (khu A, diện tích 87m² mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của Công ty
TNHH K2 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày
12/9/2025) làm ảnh hưởng quyền lợi ích hợp pháp của ông.
Sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của Đ ông H, ông đã
nhiều lần yêu cầu Đ thực hiện việc sang n quyền sử dụng đất cho ông nhưng
Đ không thực hiện. Vào năm 2013, Đ khiếu nại v hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ra Ủy ban nhân dân được hòa giải vào ngày 08/8/2023,
Đ thừa nhận đã chuyển nhượng cho gia đình ông phần đất tiếp giáp phía sau
ngang 5,5m chiều dài hết đất, khi nào Đ thực hiện thủ tục chuyển nhượng xong
thì T1 (vợ ông B) sẽ cho thêm Đ số tiền 6.500.000 đồng, đây số tiền cho
thêm không phải tiền chuyển nhượng nhưng đến nay Đ vẫn không thực hiện việc
chuyển nhượng đất lại lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông H.
Nay ông khởi kiện yêu cầu a án giải quyết:
Tuyên hiệu một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Văn
Thị Đ cho ông Nguyễn Văn H đối với diện tích 160,9m², loại đất ONT, thuộc thửa
đất số 22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay L,
tỉnh Tây Ninh) tại Hợp đồng công chứng số 3577, quyển số 02TP/CC-SCC do Văn
phòng C lập ngày 31/7/2020 (gồm Khu A Khu B theo mảnh trích đo địa chính số
55-2025 của ng ty TNHH K2 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực
C duyệt ngày 12/9/2025).
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/3/2004 giữa
ông Huỳnh Quốc B với Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H đối với một phần thửa
đất số 22, tờ bản đồ s 3, chiều ngang 5,5m, chiều dài từ đầu đến cuối thửa đất số 22,
tờ bản đ s 03, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay L, tỉnh Tây
Ninh) với diện tích 73,9m
2
(Khu B theo mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của
Công ty TNHH K2 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày
12/9/2025) hiệu lực pháp luật để ông B được đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền
4
sử dụng đất.
Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Quốc B đối với một phần thửa
đất số 22, tờ bản đ s 3, diện tích 87m
2
, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp C, L,
tỉnh Tây Ninh thuộc khu A theo mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của Công ty
TNHH K2 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày
12/9/2025.
Đối với yêu cầu chia thừa kế của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Văn N ông Nguyễn Văn T2 yêu cầu chia thừa kế đối với di sản của ông
Nguyễn Văn H6 (sinh năm 1945, chết năm 1974) chồng của Văn Thị Đ: Do
ông H6 chết năm 1974 đến nay đã quá 30 năm hết thời hiệu khởi kiện theo quy
định của pháp luật nên đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện đình chỉ yêu cầu
khởi kiện của ông N ông T2.
Bị đơn Văn Thị Đ do Đoàn Thị Phương D trình bày nội dung:
Đối với Khu A diện tích 87m
2
thuộc một phần thửa 22, tờ bản đồ số 3, loại đất
ONT, tại L, huyện C, bà Đ đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất từ năm 1997, nguồn gốc đất này là của gia đình Đ s dụng cha
truyền con nối, ông để lại cho cha mẹ của Đ, cha mẹ cho lại vợ chồng Đ từ
năm 1969. Khoảng năm 1990, Đ cho ông T3 Khỏe cất nhà vách cây tạp nhờ
trên đất của Đ ngang khoảng 5,5m, dài khoảng 15m giáp đường đi hướng ra kênh
sau đó Đ không cho ông Tám K nữa thì Nguyễn Thị L căn nhà lá
Đ cho ông Tám K nhờ (bà L nói ông T3 Khỏe bán xác căn nhà cho L),
Đ phản đối không cho L ở, thì L bỏ đi, sau khi L bỏ đi thì ông Văn S
vào ở, Đ cũng không cho ông S trên đất của bà Đ t đến khoảng năm 1995 ông
S bỏ đi không nữa, căn nhà này Đ đ trống không cho ai nữa. Năm 2004,
Đ bán cho vợ chồng ông B phần đất phía sau (Khu B), còn phần đất phía trước
(khu A) căn nhà của ông S thì Đ để trống không bán, không cho ai ở. Việc
ông B cho rằng ông Huỳnh Văn H5 (cha ông B) mua đất (khu A) của ông S là sai
chủ thể ông S không phải chủ đất chỉ người nhờ trên đất của Đ, nên
giao dịch giữa ông S ông H5 không hợp pháp, nếu ông B kiện thì kiện ông
S người bán đất trái pháp luật cho gia đình ông B. Mặt khác, nếu ông Huỳnh Văn
H5 (cha ông B) mua đất này từ năm 1995, vậy tại sao từ trước đến nay ông H5 (cha
ông B) không xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đề nghị đưa ông S tham
gia vụ án để lấy lời khai, cần thiết thể đối chất với Đ về nguồn gốc sử dụng
đất.
Đối với thời gian xây dựng căn nhà tại khu A năm 2003 căn nhà tại khu B
xây dựng năm 2004 (các khu theo mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của Công ty
TNHH K2 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày
12/9/2025) không đúng. vào năm 2013, vợ chồng T1, ông B chưa trả hết
tiền mua phần đất 5,5m x 22m cho Đ cất nhà kiên cố Đ không đồng ý nên
Đ thưa lên UBND xã L, huyện C đòi tiền (Biên bản hòa giải thành của UBND
L, huyện C ngày 08/8/2013), do đó, Đ mới xác định được mốc thời gian xây
dựng căn n tại khu B là vào năm 2013 chứ không phải năm 2004. Đối với căn nhà
5
tại khu A (được xây hai lần): lần 1 khoảng năm 2013 (hiện nhà trên) dài khoảng
7m, ngang 5,5m xây nối liền với căn nhà phía sau khu B xây gần thời điểm Đ
thưa lên Ủy ban L, huyện C năm 2013 để đòi tiền bán đất còn thiếu, khi Đ
phát hiện ông B chiếm đất (khu A) xây nhà Đ ngăn cản không được lúc đó 03
con trai đều đi tàu không nhà, đi bán từ sáng sớm đến chiều mới về, ông
B xây nhà không hay, nhà đơn thân nên ngăn cản không được, nhưng Đ
thưa lên Ủy ban nhân dân L, huyện C nhưng không giải quyết cho rằng
tranh chấp liên quan đến mua bán đất không phải thẩm quyền của xã, lúc đó Đ
nghèo không tiền để kiện ra tòa nên hai bên cứ lằng nhằng mắng chửi nhau hoài,
kéo dài đến m 2023 thì ông B lại xây lấn chiếm thêm phần đất phía trước, xây tiếp
sân xi măng dài khoảng 8-9m, mái nhà tiền chế làm hàng rào tông kiên cố, lúc
này con Đ ông H đứng tên chủ sử dụng thửa 22 mới thưa lên nhưng hòa giải
không thành. Đối với Giấy chứng nhận bán đất ruộng sau nhà Đ đang ngụ đề
ngày 02/3/2004 do bên nguyên đơn cung cấp cho Tòa án, Đ không đồng ý nội
dung trong giấy bán đất do ông B ghi không đúng (không ghi số thửa đất chuyển
nhượng, tờ bản đồ, vị trí thửa đất, chiều dài thửa đất cũng ghi sai, từ năm 1997 bà
Đ đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này, biết số thửa là
557 (sau này đổi thành thửa 22), chiều dài hết thửa đất là 37,01m 36,07m chứ
không phải 30m như đã ghi trong giấy bán đất). Việc lập giấy mua n đất giữa
Đ ông B trước đây không mời ai làm chứng nhưng trong giấy bán đất ngày
02/3/2004 lại thêm 2 người làm chứng thêm xác nhận của T4 ấp sau thời
điểm lập giấy bán đất không chính xác. Đ hoàn toàn không chứng kiến, không
biết v sự việc này.
Nay Đ yêu cầu Tòa án xem xét các vấn đề sau: Đề nghị Tòa án xem xét đưa
ông Văn S tham gia tố tụng với tư cách người làm chứng để lấy lời khai của
ông S m nguồn gốc đất thuộc khu A, diện tích 87m², thuộc thửa 22 theo mảnh
trích đo địa chính số 55-2025 của Công ty TNHH K2 do Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai khu vực C duyệt ngày 12/9/2025, nhưng nay ông S đã chết nhưng trước
khi ông S chết thì đến nói chuyện với ông S ghi âm cuộc nói chuyện giữa
Đ với ông S thì ông S cũng chỉ xác định bán xác n cho gia đình ông B chứ
không bán đất.
Văn Thị Đ yêu cầu phản tố như sau: Buộc ông Huỳnh Quốc B Phạm
Thị Kim T1 tháo dỡ nhà trả lại phần đất diện tích 5,5m x15m = 82,5m
2
thuộc một
phần thửa đất số 22, t bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C,
tỉnh Long An (nay L, tỉnh Tây Ninh). Hiện nay, xác định là khu A, diện tích
87m
2
(theo mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của ng ty TNHH K2 do Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 12/9/2025). Buộc ông
Huỳnh Quốc B Phạm Thị Kim T1 tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất trả cho Đ s tiền chuyển nhượng 50.000.000 đồng tương
đương 1/3 g trị của hợp đồng.
Tại phiên tòa, Đ thống nhất phần đất chuyển nhượng cho ông B T1
vào năm 2004 khu B diện tích 73.9m
2
, thống nhất với mảnh trích đo địa chính
số 55-2025 của Công ty TNHH K2 do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu
6
vực C duyệt ngày 12/9/2025 chứng thư thẩm định giá số 040/2024/1675.CNLA
ngày 29/10/2024 của Công ty Cổ phần T7 yêu cầu cầu ông B T1 trả tiếp
1/3 số tiền chuyển nhượng giá trị theo chứng thư thẩm định giá số
040/2024/1675.CNLA ngày 29/10/2024 416.057.000 đồng x 1/3 = 138.685.600
đồng.
Đối với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của người quyền lợi nghĩa vụ liên
quan ông Nguyễn Văn N yêu cầu được nhận một kỷ phần thừa kế của ông Nguyễn
Văn H6 trong khối tài sản chung với Văn Thị Đ giá trị quyền sử dụng đất thửa
đất s 22 tờ bản đồ số 3 gồm Khu A, Khu B Khu C tổng giá trị 766.523.500 +
905.867.000 = 1.672.930.500/2/5 = 167.239.000 đồng thì đồng ý.
Ông Nguyễn Văn H do Phan Thị Hồng H1 đại diện trình bày: Thống nhất
với lời trình bày của D H1 trình bày bổ sung như sau:
Đối với yêu cầu chia thừa kế của ông Nguyễn Văn N thì ông Nguyễn Văn H
đồng ý liên đới cùng bà Văn Thị Đ chia thừa kế cho ông N số tiền 167.239.000 đồng.
Ông H rút yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Huỳnh Quốc B Phạm
Thị Kim T1 tiếp tục thực hiện hợp đồng thanh toán tiếp 1/3 số tiền chuyển
nhượng khi chuyển nhượng cho ông B thì quyền sử dụng đất của Đ nên để
một mình Đ khởi kiện, số tiền chuyển nhượng không liên quan đến ông H. Ông
H chỉ có yêu cầu ông B trả lại đất phần đất thuộc khu A, diện tích 87m
2
, mảnh trích
đo địa chính số 55-2025 của Công ty TNHH K2 do Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai khu vực C duyệt ngày 12/9/2025.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N ông Nguyễn Văn
T2 do Trần Thị Ngọc H2 đại diện trình bày nội dung:
đại diện cho ông Nguyễn Văn T2 đề nghị rút toàn bộ yêu cầu độc lập của
ông T2.
Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N trình bày như sau: Cha mẹ
ông N ông T2 ông Nguyễn Văn H6, sinh năm 1945 (chết năm 1974), mẹ
Văn Thị Đ, đăng kết hôn năm 1969. Cha, mẹ 04 con chung, cụ thể: 1.
Nguyễn Văn N, sinh năm 1969; 2. Nguyễn Thị B1, sinh năm 1970 (chết năm 2024);
3. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1972; 4. Nguyễn Văn H, sinh năm 1975. Trong đó,
Nguyễn Thị B1 chết năm 2024, 03 người con Trần Văn H3, sinh năm 1990;
Trần Thị N1, sinh năm 1993; Trần Phúc H4, sinh năm 2002. Ông H6 Đ không
con riêng, con nuôi nào khác; ông, nội (cha, mẹ của ông H6) cũng đã chết. Tài
sản chung của ông H6 Đ được trong thời kỳ hôn nhân là: thửa đất thổ
ngang khoảng 12m, dài hơn 37m, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay
xã L, tỉnh Tây Ninh), trên đất cất sẵn căn nhà được ông, ngoại (cha, mẹ
của Đ) cho vào khoảng năm 1969. Năm 1974, ông H6 chết không để lại di chúc.
Tài sản ông H6 để lại trong khối tài sản chung giữa Đ ông H6 mảnh đất thổ
ngang khoảng 12m, dài hơn 37m, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay
L, tỉnh Tây Ninh) kể trên. Năm 1997, tài sản chung của Đ ông H6
phần đất ông, ngoại cho kể trên được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận
7
quyền sử dụng đất cho Văn Thị Đ đứng tên, số thửa 557, diện tích 357m²,
loại đất thổ, tờ bản đồ s 5, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay xã
L, tỉnh Tây Ninh). Năm 2010, thửa 557 được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất sửa thành thửa 22, tờ bản đồ số 03, loại đất ONT, diện tích 309,3m², tọa
lạc tại L, huyện C, tỉnh Long An (nay L, tỉnh Tây Ninh) do Văn Thị Đ
đứng tên. Khi ông, ngoại cho cha, mẹ đất đã sẵn căn nhà lá. Sau khi cha chết,
thì đến năm 1981, Đ tháo dỡ nhà xây lại thành nhà ngói, vách cây, đến năm
2016, sửa chữa lại thành nhà mái tole, vách tường, nền gạch bông như hiện nay.
Khi ông Huỳnh Quốc B khởi kiện, Đ ông H mới biết sự việc như sau:
Năm 2004, Đ ông H chuyển nhượng một phần thửa 557 cho vợ chồng ông
Huỳnh Quốc B không sự đồng ý của ông Nguyễn Văn N, ông Nguyễn Văn
T2 Nguyễn Thị B1. Do ông T2 ông N riêng, nên không biết việc chuyển
nhượng này. Đ ông H từ trước đến nay luôn giấu giếm không cho biết việc
chuyển nhượng phần đất phía sau của thửa 557 dài khoảng 20m x ngang trước
5,5m cho vợ chồng ông B (lúc đó thửa 557 chiều dài hai cạnh thửa đất lần lượt
37,01m 36,07m).
Năm 2020, Đ lập hợp đồng tặng cho toàn bộ thửa 22 cho con trai ông
Nguyễn Văn H do Văn phòng C1 công chứng ngày 31/07/2020, ông T2 ông N
cũng không biết.
Nay, thấy rằng thửa 22 tài sản chung hợp nhất của cha, mẹ trong thời kỳ hôn
nhân. Trong đó, tài sản của cha các ông trong khối tài sản chung với bà Đ một
phần thửa 22. Khi chết, ông H6 không để lại di chúc nên phần di sản của ông H6 đã
trở thành tài sản chung chưa phân chia của bà Đ 04 anh em các ông. Năm 2004,
Đ ông Nguyễn Văn H tự chuyển nhượng một phần thửa 22 cho ông B
T1 nhưng không hỏi ý kiến của các ông t ý định đoạt không đúng. Đồng thời,
hợp đồng chuyển nhượng này không được công chứng, chứng thực không tuân
thủ về hình thức. Bên cạnh đó, hợp đồng tặng cho thửa 22 giữa Đ và ông Nguyễn
Văn H cũng không ý kiến của các ông.
Tuy nhiên, tại phiên tòa đại diện Đ đại diện ông H đồng ý chia di sản
thừa kế cho ông N nên ông Nguyễn Văn N chỉ còn yêu cầu khởi kiện chia di sản
thừa kế của ông Nguyễn Văn H6 để lại đối với thửa 22, tờ bản đồ số 03, loại đất
ONT, diện tích 309,3m², tọa lạc tại L, huyện C, tỉnh Long An (nay L, tỉnh
Tây Ninh), diện tích đo đạc thực tế hiện nay 296.4m
2
theo mảnh trích đo. Ông N
yêu cầu được nhận g trị 167.300.000 đồng.
Do Đ ông H đã đồng ý chia di sản thừa kế cho ông N nên ông N rút các
yêu cầu khởi kiện gồm: Yêu cầu Tòa án xác định thửa 22, tờ bản đ số 03, loại đất
ONT, diện tích 309,3m², tọa lạc tại L, huyện C, tỉnh Long An (nay L, tỉnh
Tây Ninh) tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của Văn Thị Đ chồng là
ông Nguyễn Văn H6 (sinh năm 1945, chết năm 1974); Yêu cầu hiệu hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/3/2004 giữa ông Huỳnh Quốc B với
Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H đối với một phần thửa 22 (ngang khoảng 5,5m x
dài khoảng 20m), tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An
8
(nay L, tỉnh Tây Ninh); hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với
thửa 22 k trên giữa Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H do Văn phòng C1 công
chứng ngày 31/07/2020.
đồng ý với mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của Công ty TNHH K2 do
Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 12/9/2025 Chứng
thư thẩm định g số 040/2024/1675.CNLA ngày 29/10/2024 của Công ty Cổ phần
T7 Chứng thư thẩm định g số 040/2025/3636.CNLA ngày 30/9/2026 làm giá trị
giải quyết chia thừa kế ông N đồng ý chịu tiền chi p tố tụng đo đạc định giá
lần 2.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn H3, Trần Thị N1,
ông Trần Phúc H4 vắng mặt nhưng ý kiến trình bày: Các ông con của
Nguyễn Thị B1 (sinh năm 1970, chết năm 2024), B1 con của Văn Thị Đ
ông Nguyễn Văn H6, nên các ông gọi Đ ngoại. Các ông thống nhất
với lời trình bày của ông Nguyễn Văn N ông Nguyễn Văn T2. Các ông xác
định không yêu cầu giải quyết thừa kế trong vụ án này, đề nghị giao phần di sản nếu
B1 được hưởng cho Văn Thị Đ.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng C trình bày tại văn bản số
64/CV ngày 04/12/2024: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 31/7/2020, số
công chứng 3577, quyển số 02TP/CC-SCC/HĐGD giữa Văn Th Đ với ông
Nguyễn Văn H được thực hiện trên sở tự nguyện giữa các bên tham gia giao dịch
tiến hành theo đúng trình tự pháp luật quy định nên chúng tôi không đồng ý hủy
hợp đồng này. Nếu nguyên đơn chứng minh được yêu cầu của mình căn cứ
hoặc các bên có sự thỏa thuận với nhau thì do Tòa án xem xét quyết định việc
hiệu một phần hợp đồng tặng cho nói trên không phải do lỗi của Văn phòng. Đối với
việc tham gia hòa giải xét xử các phiên tòa (nếu có), Văn phòng C yêu cầu được
vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng cho đến khi bản án hiệu lực pháp luật.
Tại Bản án dân sự thẩm số 48/2026/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn H về tranh
chấp hợp đồng chuyển nợng quyền sử dụng đất đối với nguyên đơn ông Huỳnh
Quốc B và người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Kim T1.
2. Đình chỉ toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 về tranh chấp chia
di sản thừa kế, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất, xác định tài sản chung đối với bị đơn Văn Thị Đ, ông Nguyễn
Văn H.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N về tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất,
xác định tài sản chung đối với bị đơn Văn Thị Đ, ông Nguyễn Văn H
4. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Quốc B
với bị đơn Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H.
9
T5 hiệu một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Văn Thị Đ
cho ông Nguyễn Văn H diện tích 160,9m², loại đất ONT, thuộc thửa đất số 22, tờ bản
đồ số 3, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay là L, tỉnh Tây Ninh) tại
Hợp đồng công chứng số 3577, quyển số 02TP/CC-SCC do Văn phòng C (trước đây
Văn phòng C1) lập ngày 31/7/2020 (gồm Khu A Khu B).
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/3/2004 giữa ông
Huỳnh Quốc B với Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H đối với một phần thửa đất số
22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An (nay L, tỉnh Tây
Ninh) với diện ch 73,9m
2
(Khu B) hiệu lực pháp luật để ông B được đăng cấp
giấy chứng nhận quyền s dụng đất.
Công nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Quốc B đối với một phần thửa đất
số 22, tờ bản đồ số 3 diện tích 87m
2
, loại đất nông thôn, tọa lạc tại p C L, tỉnh
Tây Ninh (nay là L, tỉnh Tây Ninh) thuộc khu A theo mảnh trích đo địa chính số
55-2025 của Công ty TNHH K2 được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện
C duyệt ngày 12/9/2025.
Ông Huỳnh Quốc B Phạm Thị Kim T1 quyền, nghĩa vụ liên hệ
quan thẩm quyền để đăng ký, khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối
với diện tích đất thuộc khu A khu B theo mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của
Công ty TNHH K2 được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện C duyệt ngày
12/9/2025.
Ông Nguyễn Văn H quyền liên hệ với quan thẩm quyền khai đăng
ký, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích còn lại của
thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3 loại đất ng thôn, tọa lạc tại p C L, tỉnh Tây Ninh.
5. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn Văn Thị Đ.
Buộc ông Huỳnh Quốc B Nguyễn Thị Kim T6 tr cho Văn Thị Đ số tiền
138.685.600 đồng tiền chuyển nhượng quyền s dụng đất.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
6. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản t của Văn Thị Đ ông
Nguyễn Văn H yêu cầu ông Huỳnh Quốc B Phạm Thị Kim T1 tr lại một phần
thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3 diện tích 87m
2
, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp C L,
tỉnh Tây Ninh thuộc khu A theo mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của Công ty
TNHH K2 được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện C duyệt ngày
12/9/2025.
7. Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Văn N với Văn Thị Đ ông
Nguyễn Văn H. Văn Thị Đ và ông Nguyễn Văn H trách nhiệm chia di sản
thừa kế cho ông Nguyễn Văn N số tiền 167.230.000 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi p tố tụng, án phí, quyền, thời hạn
10
kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của c đương sự.
Ngày 09/3/2026, nguyên đơn ông Huỳnh Quốc B kháng cáo yêu cầu cấp
phúc thẩm cải sửa một phần bản án dân sự thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu
phản tố, yêu cầu kháng cáo của Đ, ông H. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của ông B.
Ngày 10/3/2026, bị đơn ông Nguyễn Văn H Văn Thị Đ kháng cáo yêu
cầu cấp phúc thẩm cải sửa một phần bản án dân sự thẩm theo hướng không công
nhận khu A, diện tích 87m
2
thuộc thửa đất số 22 cho ông B chấp nhận một phần
yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm các đương sự chấp hành đúng quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn b đơn đủ điều kiện để
xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H, không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh
Quốc B. Căn cứ khoản 2 Điều 308 BLTTDS, sửa một phần Bản án dân sự thẩm
số 48/2026/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh
Tây Ninh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của nguyên đơn bị đơn thực hiện đúng theo quy định tại Điều
271, Điều 272, Điều 273 Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn vẫn
giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các
đương sự không tự thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Vụ án được
xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Việc xét xử vắng mặt các đương sự: Văn phòng C các ông Nguyễn
Văn N, Nguyễn Văn T2, Trần Văn H3, Trần Thị N1, Trần Phúc H4, Phan Thị Hồng
H1 vắng mặt nhưng đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân
sự, Tòa án vẫn xét x phúc thẩm vụ án.
[3] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp:
Theo đơn khởi kiện ông Huỳnh Quốc B yêu cầu: Tuyên hiệu một phần Hợp
đồng tặng cho quyền s dụng đất giữa Văn Thị Đ cho ông Nguyễn Văn H đối với
diện tích 160,9m², loại đất ONT, thuộc thửa đất số 22, t bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp
C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay xã L, tỉnh Tây Ninh) theo Hợp đồng công
chứng do Văn phòng C lập ngày 31/7/2020; Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 01/3/2004 giữa ông Huỳnh Quốc B với Văn Thị Đ
11
ông Nguyễn Văn H đối với một phần thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, chiều ngang
5,5m, chiều dài từ đầu đến cuối thửa đất số 22, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại ấp C, L,
huyện C, tỉnh Long An (nay L, tỉnh Tây Ninh) với diện tích 73,9m
2
; Công
nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Quốc B đối với một phần thửa đất số 22, tờ
bản đồ số 3, diện tích 87m
2
, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp C, L, tỉnh Tây
Ninh.
Văn Thị Đ, ông Nguyễn Văn H yêu cầu phản tố: Buộc ông Huỳnh Quốc
B Phạm Thị Kim T1 tháo dỡ nhà trả lại phần đất diện tích khoản 5,5m
x15m = 82,5m
2
thuộc một phần thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, loại đất ONT, tọa lạc
tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay L, tỉnh Tây Ninh). Buộc ông
Huỳnh Quốc B Phạm Thị Kim T1 trả số tiền chuyển nợng 50.000.000
đồng tương đương 1/3 giá trị của hợp đồng.
Tòa án cấp thẩm xác định vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế thụ giải quyết
đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Do ông Nguyễn Văn H rút một phần yêu cầu phản tố về tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền s dụng đất đối với nguyên đơn ông Huỳnh Quốc B
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị Kim T1; Ông Nguyễn Văn T2
rút toàn bộ yêu cầu độc lập về tranh chấp chia di sản thừa kế, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, xác định tài sản
chung đối với bị đơn Văn Thị Đ, ông Nguyễn Văn H. Ông Nguyễn Văn N rút
một phần yêu cầu độc lập về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, xác định tài sản chung đối với bị đơn
Văn Thị Đ, ông Nguyễn Văn H nên cấp thẩm đình chỉ các yêu cầu của các ông
trên căn cứ.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bị đơn, thấy rằng:
[5.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Quốc B yêu cầu
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/3/2004 giữa ông B
với Đ, ông H đối với một phần thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, đất tọa lạc tại ấp C,
L, huyện C, tỉnh Long An (nay L, tỉnh Tây Ninh) với diện tích 73,9m
2
(Khu
B của Mảnh trích đo) hiệu lực pháp luật để ông B được đăng cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất yêu cầu phản tố của bị đơn Văn Thị Đ yêu cầu ông B
tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền chuyển nhượng được xác định theo
đơn khởi kiện tạm tính 50.000.000 đồng, theo chứng thư thẩm định giá tại
phiên tòa xác định tổng giá trị quyền sử dụng đất 416.057.000 đồng 1/3 giá trị
tương đương 138.685.600 đồng, thấy rằng:
[5.1.1] Trong quá trình thu thập chứng cứ tại phiên t hôm nay, ông B
Đ, ông H trình bày thống nhất nội dung: Năm 2004, Đ, ông H chuyển nhượng
cho ông B một phần thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, được xác định hiện nay Khu B,
diện tích 73,9m
2
theo Mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của ng ty TNHH K2
12
do Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai khu vực C duyệt ngày 12/9/2025. Sau khi
chuyển nhượng Đ, ông H đã giao đất cho ông Bảo quản L1, sử dụng đến nay.
Như vậy, sở xác định Đ, ông H đã chuyển nhượng cho ông B 01 phần thửa
đất nêu trên.
[5.1.2] V quá trình thực hiện hợp đồng: Ông B cho rằng giá chuyển nhượng
01 phần thửa đất nêu trên là 3.500.000 đồng, sau khi hợp đồng thì ông B đã giao
đủ số tiền chuyển nhượng cho bà Đ. Đ ông H cho rằng giá chuyển nhượng 01
phần thửa đất nêu trên 3.000.000 đồng, sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì
phía ông B mới trả được số tiền 2.000.0000 đồng, còn lại 1.000.000 đồng đến nay
ông B vẫn chưa thanh toán, thấy rằng: Ông B không cung cấp được tài liệu chứng
cứ chứng minh đã trả cho Đ, ông H số tiền 3.500.000 đồng. Ông Đ, ông H không
cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh đã nhận từ ông B số tiền 2.000.000
đồng. Tại biên bản hòa giải của Ủy ban nhân dân L, huyện C, tỉnh Long An (nay
L, tỉnh Tây Ninh) ngày 08/8/2013, các bên đã thoả thuận T1 (vợ ông B)
đồng ý trả cho Đ số tiền 6.500.000 đồng nhưng với điều kiện Đ phải lập thủ
tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B. Như vậy, nội dung biên bản trên
chỉ thể hiện nếu Đ lập thủ tục chuyển nhượng cho ông B thửa đất trên thì T1
hỗ trợ cho Đ số tiền 6.500.000 đồng. Do đó, căn cứ vào biên bản h giải trên
chưa đ n cứ để xác định sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng thì ông B bà T1
chưa thanh toán hết s tiền chuyển nhượng cho Đ. Tuy nhiên, sau khi chuyển
nhượng thì Đ, ông H giao đất cho ông Bảo quản L1, sử dụng ổn định đến nay
nhưng Đ, ông H không ý kiến về việc giao nhận tiền (ngoài lần h giải
ngày 08/8/2013 thì Đ, ông H cho rằng mới nhận 2.000.000 đồng từ ông B). Khi
ông B khởi kiện thì Đ, ông H mới trình bày đã nhận của ông B 2.000.000 đồng.
Từ những phân tích trên, sở xác định ông B đã giao đủ số tiền chuyển nhượng
01 phần thửa đất nêu trên cho Đ, ông H. Cấp sơ thẩm căn cứ vào biên bản hoà
giải ngày 08/8/2018 cho rằng ông B chỉ thanh toán cho Đ, ông H 2/3 g trị của
hợp đồng chưa phù hợp.
[5.1.3] Về hình thức của hợp đồng: Ông B Đ, ông H đều thừa nhận khi
chuyển nhượng các bên làm hợp đồng chuyển nhượng bằng văn bản, ông B cung
cấp hợp đồng chuyển nhượng bằng giấy viết tay thể hiện ngày 01/03/2004, Đ
ông H cho rằng không phải hợp đồng này nhưng Đ, ông H không cung cấp được
hợp đồng nào khác. Tuy nhiên, các bên đều thừa nhận khi chuyển nhượng lập
hợp đồng bằng giấy viết tay. Thời điểm chuyển nhượng thì Đ đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 27/6/1997 thửa đất số 557, hiện
nay thửa đất số 22, tờ bản đồ số 2 nhưng hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên
vi phạm về mặt hình thức về công chứng, chứng thực hợp đồng. Tuy nhiên, Đ
ông H đã giao đất cho ông Bảo quản L1 sử dụng ông B đã thanh toán giá trị của
hợp đồng nên căn cứ Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hợp đồng đủ điều
kiện để công nhận hiệu lực pháp luật.
[5.1.4] Đối với yêu cầu phản tố của Đ yêu cầu ông B T1 tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng thanh toán tiếp số tiền chuyển nhượng, thấy rằng: Như
phân tích trên, sở xác định hợp đồng chuyển nhượng đủ điều kiện để
13
công nhận hiệu lực ông B, T1 đã thanh toán xong g trị của hợp đồng cho
Đ, ông H nên không sở chấp nhận yêu cầu phản tố của Đ, ông H.
[6.] Đối với yêu cầu công nhận quyền s dụng đất cho ông B đối với một phần
thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3 diện tích 87m
2
, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp C,
L, tỉnh Tây Ninh thuộc khu A mảnh trích đo địa chính số 55-2025 của Công ty
TNHH K2 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực C duyệt ngày
12/9/2025 yêu cầu phản tố của Đ, ông H yêu cầu ông B T1 trả lại phần
đất này thấy rằng:
[6.1] Ngày 27/6/1997, Đ được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 557, tờ bản đồ số 5, diện tích 350m
2
, khi
cấp không tiến hành đo đạc thực tế. Ngày 31/12/2010, Đ được cấp đổi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thành thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, diện tích 309m
2
.
Đ cho rằng đối với khu A diện tích 87m
2
nguồn gốc do ông đ lại cho
cha mẹ, cha mẹ cho lại vợ chồng Đ từ năm 1969. Khoảng năm 1990, Đ cho
ông T3 Khỏe cất nhà vách cây tạp nhờ trên đất của ngang khoảng 5,5m, dài
khoảng 15m giáp đường đi hướng ra kênh. Sau đó Đ không cho ông Tám K
nữa t Trần Thị L2 căn nhà cho ông Tám K nhờ (bà L2 nói ông
T3 Khỏe bán xác căn nhà cho L2). Đ phản đối không cho L2 ở, thì
L2 bỏ đi. Sau khi L2 bỏ đi thì ông Văn S ở, Đ cũng không cho ông S
trên đất của thì khoảng năm 1995, ông S b đi không nữa, căn nhà lá này Đ
để trống không cho ai nữa, thấy rằng: Đ thừa nhận năm 1990 cho ông Tám
K trên phần đất này trước khi được cấp giấy chứng nhận quyền s dụng đất lần
đầu năm 1997. Tại biên bản ghi lời khai ngày 12/12/2025 của Tòa án đối với
Trần Thị L2, L2 cũng thừa nhận vào khoảng năm 1993, mua một căn nhà
của ông Tám K đó khoảng 01 năm thì bán lại cho ông Văn S, sau đó
ông Văn S tiếp tục chuyển nhượng cho ông Huỳnh Văn H5. Ngoài ra, bị đơn là
Văn Thị Đ cung cấp một bản tường trình nội dung xác định đoạn ghi âm của ông
Văn S trước khi chết ông S cũng thừa nhận bán cho ông Huỳnh Quốc B một căn
nhà không bán đất. Tuy nhiên theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày
08/7/2024 thì trên phần đất tranh chấp Khu A hiện nay một căn nhà cấp 4 do ông
Huỳnh Quốc B xây dựng. Đồng thời những người liên quan đến việc chuyển
nhượng phần đất này gồm ông Văn S Trần Thị L2 đều xác định khi chuyển
nhượng thì trên đất đã nhà chứ không phải đất trống từ năm 1995 đến nay như lời
trình bày của Đ. Như vậy căn cứ xác định phần đất tranh chấp này gia đình
ông B đã quản sử dụng từ khoảng năm 1995 đến nay trước khi Đ được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu. Do đó việc Ủy ban nhân dân huyện C
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Đ bao gồm cả phần đất ông Huỳnh
Quốc B đang quản sử dụng không đúng đối tượng.
[6.2] Đối với các lời trình bày của ông Trần Văn Á (tên thường gọi Tám K),
Trần Thị L2, ông S cho rằng: Diện tích đất tranh chấp của Đ, các ông chỉ
mượn để cất nhà ở. Các ông chỉ bán nhà chứ không bán đất. Xét thấy, đây chỉ
lời trình bày một phía của các ông trên. Các ông trên không có chứng cứ
chứng minh lời trình bày của mình nên lời trình bày của các ông trên không
14
căn cứ. Từ những phân tích trên sở xác định ông Huỳnh Quốc B khởi kiện yêu
cầu công nhận quyền sử dụng đất đối với khu A căn cứ nên không chấp nhận
yêu cầu phản tố đòi lại quyền sử dụng đất của Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H.
[7] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông B yêu cầu: hiệu một phần Hợp đồng
tặng cho quyền sử dụng đất giữa Đ cho ông H diện tích 160,9m², loại đất ONT,
thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An
(nay L, tỉnh Tây Ninh) tại hợp đồng công chứng số 3577, quyển số 02TP/CC-
SCC/HĐGD do Văn phòng C (trước đây Văn phòng C1) lập ngày 31/7/2020
(gồm Khu A Khu B), thấy rằng: Như nhận định trên, do yêu cầu khởi kiện công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với khu B yêu cầu công
nhận quyền sử dụng đất đối với khu A của ông B được chấp nhận. Do đó, việc Đ
lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho ông H đối với khu A khu B là
hiệu do đó chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B.
[8] Từ những phân tích trên chấp nhận kháng cáo của ông B; Không chấp nhận
kháng cáo của Đ, ông H; Không chấp nhận quan điểm đề nghị của Vị đại diện
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên tòa; Sửa bản án thẩm.
[9] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 12, Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc
Hội, về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản s dụng án phí, lệ phí Tòa án:
[9.1] Yêu cầu kháng cáo của ông H, Đ không được chấp nhận nên ông H,
Đ phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm.
[9.2] Yêu cầu kháng cáo của ông B được chấp nhận nên ông B không phải chịu
án phí phúc thẩm.
[10] Các quyết định khác của bản án thẩm không có kháng o, kháng nghị
hiệu lực pháp.
các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Quốc B; Không chấp nhận kháng cáo
của Văn Thị Đ, ông Nguyễn Văn H.
3. Sửa Bản án Dân sự thẩm số 48/2026/DS-ST ngày 27 tháng 02 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 6, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào khoản 3, khoản 5, khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c
khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 246,
Điều 266, Điều 273 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
15
Căn cứ vào khoản 42 Điều 3, Điều 26, Điều 235, Điều 236 của Luật đất đai
năm 2024.
Căn cứ vào Điều 129, Điều 166, Điều 175, khoản 1 Điều 176; Điều 429, Điều
649, Điều 650, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 12, Điều 14, Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14
về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản s dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30
tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn H về
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với nguyên đơn ông
Huỳnh Quốc B người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Kim T1.
2. Đình chỉ toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 về tranh chấp chia
di sản thừa kế, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho
quyền s dụng đất, xác định tài sản chung đối với bị đơn Văn Thị Đ ông
Nguyễn Văn H.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn N về tranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất,
xác định tài sản chung đối với bị đơn Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H.
4. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Quốc B
với bị đơn Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H.
[4.1] Tuyên hiệu một phần Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa Văn
Thị Đ cho ông Nguyễn Văn H, diện ch 160,9m², loại đất ONT, thuộc thửa đất số 22,
tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay L, tỉnh Tây
Ninh) tại hợp đồng ng chứng số 3577, quyển s 02TP/CC-SCC do Văn phòng C
(trước đây Văn phòng C1) lập ngày 31/7/2020 (gồm khu A khu B theo Mảnh trích
đo địa chính số 55-2025 do Công ty TNHH K2 đo đạc được Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai tại huyện C duyệt ngày 12/9/2025).
[4.2] Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 01/3/2004
giữa ông Huỳnh Quốc B với Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H đối với một phần
thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại ấp C, L, huyện C, tỉnh Long An (nay
L, tỉnh Tây Ninh) với diện tích 73,9m
2
(khu B theo Mảnh trích đo địa chính số 55-2025
do Công ty TNHH K2 đo đạc được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện C
duyệt ngày 12/9/2025) hiệu lực pháp luật để ông B được đăng cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
[4.3] Công nhận quyền s dụng đất cho ông Huỳnh Quốc B đối với một phần thửa
đất số 22, tờ bản đồ số 3, diện tích 87m
2
, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp C, L,
tỉnh Tây Ninh (nay L, tỉnh Tây Ninh) thuộc khu A theo Mảnh trích đo địa chính
số 55-2025 do Công ty TNHH K2 đo đạc được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai
tại huyện C duyệt ngày 12/9/2025.
[4.4] Ông Huỳnh Quốc B Phạm Thị Kim T1 quyền, nghĩa vụ liên h
quan thẩm quyền đ đăng ký, khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
16
đối với diện tích đất thuộc khu A khu B theo Mảnh trích đo địa chính số 55-2025
do Công ty TNHH K2 đo đạc được Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai tại huyện C
duyệt ngày 12/9/2025.
[4.5] Ông Nguyễn Văn H quyền liên hệ với quan thẩm quyền khai
đăng ký, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích đất còn
lại của thửa đất số 22, tờ bản đồ số 3, loại đất nông thôn, tọa lạc tại ấp C, L, tỉnh
Tây Ninh.
5. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là Văn Thị Đ về việc buộc ông
Huỳnh Quốc B Phạm Thị Kim T1 trả cho Đ số tiền chuyển nhượng theo
Chứng thư thẩm định giá số 040/2024/1675.CNLA ngày 29/10/2024 138.685.600
đồng tương đương 1/3 giá trị hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
6. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H
yêu cầu ông Huỳnh Quốc B Phạm Thị Kim T1 tháo dỡ nhà trả lại một phần
thửa đất số 22, tờ bản đ số 3, diện tích 87m
2
, loại đất nông thôn, đất tọa lạc tại ấp C,
L, tỉnh Tây Ninh thuộc khu A theo Mảnh trích đo địa chính số 55-2025 do Công ty
TNHH K2 đo đạc được Chi nhánh n phòng đăng đất đai tại huyện C duyệt ngày
12/9/2025.
7. Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Nguyễn Văn N với Văn Thị Đ ông
Nguyễn Văn H. Văn Thị Đ và ông Nguyễn Văn H trách nhiệm chia di sản
thừa kế cho ông Nguyễn Văn N với số tiền 167.230.000 đồng.
8. Về chi p tố tụng:
Ông Huỳnh Quốc B Phạm Thị Kim T1 thoả thuận chịu 8.633.300 đồng
(Bằng chữ: Tám triệu sáu trăm ba mươi ba ngàn ba trăm đồng), đã nộp đủ.
Văn Thị Đ ông Nguyễn Văn H phải nộp đ hoàn trả ông B 17.066.700
đồng (Bằng chữ: Mười bảy triệu không trăm sáu mươi sáu ngàn bảy trăm đồng).
Ông Nguyễn Văn N phải nộp để hoàn trả ông Nguyễn Văn T2 số tiền
24.800.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi bốn triệu, tám trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357; Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
9. Về án phí dân sự thẩm:
Ông Huỳnh Quốc B và Phạm Thị Kim T1 không phải chịu án phí dân sự
thẩm. H7 lại cho ông B số tiền 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số
0010695 ngày 04/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh
Long An (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Tây Ninh) 300.000 đồng
tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0015282 ngày 12/12/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Tây Ninh.
Ông Nguyễn Văn H phải chịu 900.000 đồng tiền án phí dân sự thẩm nhưng
được khấu trừ 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án p theo biên lai thu số 0011861
17
ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Long An
(nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Tây Ninh), hoàn trả ông Nguyễn Văn
H số tiền tạm ứng án phí còn thừa 2.850.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn N phải chịu 8.361.000 đồng tiền án phí thẩm nhưng được
khấu trừ 6.430.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0018506 ngày
18/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Long An (nay
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Tây Ninh). Ông N phải nộp thêm 1.931.000
đồng.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn T2 6.430.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo
biên lai thu số 0018505 ngày 18/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần
Đước, tỉnh Long An (nay Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Tây Ninh).
Miễn án p cho Văn Thị Đ.
10. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông H phải chịu 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0004749 ngày 12/3/2026
của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
H7 tạm ng án phí cho ông B 300.000 đồng (Bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng)
theo Biên lai thu số 0005151 ngày 17/3/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
Văn Thị Đ được miễn án phí.
11. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
12. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
13. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 của Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 9 của Luật Thi hành án;
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 của Luật Thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 6 Tây Ninh;
- Phòng THADS khu vực 6 Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, HS./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Phước Thanh
18
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 968/2026/DS-PT Bản án số 968/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 968/2026/DS-PT Bản án số 968/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất