Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST ngày 22/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 72/2026/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST ngày 22/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 14 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 14 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 72/2026/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/07/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14 – VĨNH LONG
Bản án số: 72/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 22-7-2026
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con”.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 – VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Quãng Thanh Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Vũ Bằng
2. Ông Đoàn Văn Dũng
- Thư phiên tòa: Thị Quí, Thư viên Tòa án nhân dân Khu
vực 14 – Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân Khu vực 14 Vĩnh Long tham gia
phiên tòa: Bà Kiên Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 14 Vĩnh
Long xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
189/2026/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 177/2026/QĐXXST-
HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2026 Quyết định hoãn phiên tòa số
126/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 7 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Thị H, sinh năm 1988, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Anh Thạch B, sinh năm 1993, vắng mặt không có lý do.
Địa chỉ: Ấp G, xã L, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/02/2026 các lời khai trong quá trình
giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Thị H trình bày:
Vào năm 2012, chị anh B do tự quen biết đã tiến tới hôn nhân, tổ
chức đám cưới theo tập quán tại địa phương đăng kết hôn tại Ủy ban
nhân dân T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay T, tỉnh An Giang) năm
2015. Sau khi cưới nhau vợ chồng sinh sống tại ấp T, T cho đến nay. Quá
2
trình chung sống vợ chồng 02 con chung tên Thạch Thị Bích T, sinh ngày
17/4/2013 và Thạch Tuấn K, sinh ngày 22/01/2015. Thời gian đầu cưới nhau vợ
chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn.
Nguyên nhân do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm, thường
xuyên cãi nhau trong cuộc sống hằng ngày, anh B ham chơi cờ bạc không
chăm lo làm ăn, không quan tâm vợ con. vậy vợ chồng đã ly thân từ cuối
năm 2016 cho đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng không qua lại, hỏi
thăm để cùng nhau đoàn tụ. Nay tự nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời
sống vchồng không thể tiếp tục được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết
như sau:
- Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với anh Thạch B.
- Về con chung: 02 con chung tên Thạch Thị Bích T, sinh ngày
17/4/2013 và Thạch Tuấn K, sinh ngày 22/01/2015 hiện đang sống chung với
chị; chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung sau khi ly hôn.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi 02
con chung.
- Về tài sản, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Thạch B luôn vắng mặt tại các phiên họp
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải; anh B cũng
không có lời khai.
Theo bản tự khai đề ngày 26/02/2026, em Thạch Thị Bích T trình bày:
Em con của cha tên Thạch B mẹ tên Thị H. Hiện em đang sống
chung với mẹ. Cha mẹ ly hôn em có nguyện vọng sống chung với mẹ.
Theo bản tự khai đề ngày 26/02/2026, em Thạch Tuấn K trình bày:
Em con của cha tên Thạch B mẹ tên Thị H. Hiện em đang sống
chung với mẹ. Cha mẹ ly hôn em có nguyện vọng sống chung với mẹ.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn chị H đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn chị H giữ
nguyên lời trình bày và yêu cầu như trong quá trình giải quyết vụ án, không bổ
sung gì thêm.
Bị đơn anh B vắng mặt không có lời trình bày.
Lời phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thủ tục tố tụng: Thủ tục thụ lý hồ sơ, xác định quan hệ pháp luật, xác
định người tham gia tố tụng, thành phần tham gia phiên họp tiếp cận công khai
chứng cứ hòa giải, thành phần Hội đồng xét xử đều đúng quy định pháp luật.
Các văn bản tố tụng từ khi khởi kiện đến khi Quyết định đưa vụ án ra xét xử,
3
Quyết định hoãn phiên tòa đều tống đạt cho các đương sự đầy đủ đúng quy định
của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tthủ tục
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Thị H
được ly n với anh Thạch B; về con chung tên Thạch Thị Bích T, sinh ngày
17/4/2013 và Thạch Tuấn K, sinh ngày 22/01/2015 giao cho chị H được tiếp tục
nuôi dưỡng; vcấp dưỡng nuôi con, tài sản nợ chung: Các đương sự không
có tranh chấp nên không xem xét.
- Về án phí: Buộc chị H phải chịu án phí hôn nhân thẩm theo quy định
của pháp luật.
Các tình tiết, sự kiện đương sự đã thống nhất: Không có.
Các tình tiết, sự kiện đương sự không thống nhất:
- Nguyên đơn chị H yêu cầu được ly hôn với anh B; yêu cầu được tiếp tục nuôi
02 con chung sau khi ly n; không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng, tài sản
nợ chung.
- Bị đơn anh B vắng mặt không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên tòa căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị H khởi kiện anh B yêu cầu ly hôn nuôi con, không yêu cầu giải
quyết về cấp dưỡng, tài sản nợ chung. Anh B không yêu cầu phản tố nào
khác. Hội đồng xét xử xác định đây ván ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị
đơn anh B có địa chỉ cư trú tại ấp G, xã L, tỉnh Vĩnh Long. Căn cứ khoản 1 Điều
28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 14 – Vĩnh Long.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị H đơn xin xét
xử vắng mặt; bị đơn anh B dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn
vắng mặt không do. Căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh B theo quy định của
pháp luật.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị H:
4
[3.1] Về hôn nhân: Chị H và anh B xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng
kết hôn tại Ủy ban nhân dân T, huyện G, tỉnh Kiên Giang (nay T,
tỉnh An Giang) năm 2015. Tại thời điểm đăng kết hôn, chị H và anh B đủ
điều kiện kết hôn. Căn cứ vào các Điều 8, 9 của Luật hôn nhân gia đình, xác
định hôn nhân của chị H và anh B là hợp pháp.
Trong quá trình chung sống, chị H khai nhận: Nguyên nhân vợ chồng mâu
thuẫn do không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau
trong cuộc sống hằng ngày, anh B ham chơi cờ bạc không chăm lo làm ăn,
không quan tâm vợ con. Vợ chồng đã ly thân tcuối năm 2016 cho đến nay.
Trong thời gian ly thân vchồng không qua lại, hỏi thăm để cùng nhau đoàn
tụ.
Xét thấy gia đình tế bào hội, gia đình tốt thì hội mới tốt. Vợ
chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau,
cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc bền vững. Quá trình chung
sống giữa chị H và anh B chưa thống nhất với nhau về quan điểm sống, về ứng
xử giao tiếp; đáng lẽ khi mâu thuẫn xảy ra anh chị phải ngồi lại tìm phương án
để giải quyết mọi vấn đề bất đồng phát sinh nhằm bảo vhạnh phúc gia đình,
nhưng khi xảy ra mâu thuẫn anh chị bỏ mặt, không có biện pháp hàn gắn, không
quan tâm đến hạnh phúc anh chị đã xây dựng nhiều năm qua, tđó làm cho
tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Tại các phiên họp tiếp cận công khai
chứng cứ và hòa giải, Tòa án đã tạo điều kiện và cho anh chị thêm thời gian
để hàn gắn lại, tuy nhiên anh B đều vắng mặt, chị H kiên quyết xin ly hôn.
Từ đó cho thấy mâu thuẫn giữa chị H anh B ngày càng trầm trọng, đời
sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ các
Điều 51, 56 của Luật hôn nhân gia đình, xét yêu cầu xin ly hôn của chị H
phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Chị H anh B chung sống với nhau có 02 con tên
Thạch Thị Bích T, sinh ngày 17/4/2013 Thạch Tuấn K, sinh ngày
22/01/2015. Xét từ khi vợ chồng ly thân đến nay, chị H người trực tiếp nuôi
dưỡng 02 con và đảm bảo phát triển tốt vmọi mặt của các con; chị H yêu
cầu được tiếp tục nuôi 02 con, cháu T và cháu K nguyện vọng sống chung
với mẹ. Tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình quy định “…Vợ, chồng thỏa
thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn
đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con
cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ
đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con…”. Do đó Hội đồng xét
xử giao quyền trực tiếp nuôi 02 con cho chị H phù hợp với quy định của pháp
luật và điều kiện hiện tại của các con.
5
[3.3] V cp dưng nuôi con: Chị H anh B không tranh chấp nên
không xem xét.
[3.4] Về tài sản nợ chung: Chị H anh B không tranh chấp nên
không xem xét.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị H phải
nộp án phí hôn nhân gia đình không có giá ngạch là 300.000 đồng.
[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định
của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các
Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật sửa
đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân gia
đình;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Nghị quyết số 01/2024/NQ-TP ngày 16 tháng 5 năm 2024 của
Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chị Thị H được ly hôn với anh Thạch B.
2. Về con chung: Chị Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục 02 con chung tên Thạch Thị Bích T, sinh ngày 17/4/2013 Thạch
Tuấn K, sinh ngày 22/01/2015 cho đến khi các con đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia
đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng
việc thăm nom đcản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa
án hạn chế quyền thăm nom của người đó.
6
lợi ích của con chung, trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, chH
anh B được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con theo quy
định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng, tài sản nợ chung: Các đương sự không tranh chấp
nên không xem xét.
4. Về án phí: Buộc chị Thị H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án
phí hôn nhân gia đình thẩm nhưng được trừ o số tiền tạm ứng án phí
300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị H đã nộp theo biên lai số 0005208 ngày 23
tháng 3 năm 2026 do Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long thu.
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể tngày tuyên án; đương sự vắng mặt quyền kháng cáo trong hạn
15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7, 8, 34, 36, 71 72 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực
hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Vĩnh Long; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Khu vực 14 – Vĩnh Long;
- PTHADS Khu vực 14 – Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- UBND xã Thạnh Hưng;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Quãng Thanh Trung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST Bản án số 72/2026/HNGĐ-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất