Bản án số 599/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 599/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 599/2026/DS-PT ngày 16/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 599/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Quyền sở hữu tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 599/2026/DS-PT Bản án số 599/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 599/2026/DS-PT Bản án số 599/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 599/2026/DS-PT
Ngày: 16-7-2026
V/v tranh chấp: “Hợp đồng đặt
cọc và phạt cọc”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Tính.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Nhàn;
Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng;
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khanh - Thư ký Toà án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Phan Thị Thanh
Xuân - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 15 tháng 7 năm 2026, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm ng khai vụ án thụ số: 367/2026/TLPT-DS ngày 01 tháng 6 năm
2026 về việc tranh chấp “Hợp đồng đặt cọc và phạt cọc”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 384/2025/DS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2026
của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1163/2026/QĐ-PT
ngày 10 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Thanh P, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khu phố
H, phường S, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo ủy quyền: Anh Đoàn Thanh H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ
A, khu phố L, phường S, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Chị Thị Thùy T, sinh năm 1987. Địa chỉ: 8 khu phố A, phường C,
tỉnh Đồng Tháp. Tạm trú: Ấp Chùa Đ, xã T, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
2.2. Anh Bùi Trường C, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp C, xã T, tỉnh Đồng
Tháp (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Thanh S, sinh năm 1950. Địa chỉ: p C, T, tỉnh Đồng
Tháp (xin vắng mặt).
2
3.2. Nguyễn Thị B, sinh năm 1953. Địa chỉ: Ấp C, T, tỉnh Đồng
Tháp (có mặt).
3.3. Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp M, xã H, tỉnh Đồng
Tháp (vắng mặt).
4. Người làm chứng:
4.1. Ông Nguyễn Văn B1, sinh năm 1962. Địa chỉ: Khu phố H, phường S,
tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
4.2. Anh Trần Ngọc T1, sinh năm 1991. Địa chỉ: p B, xã T, tỉnh Đồng
Tháp (xin vắng mặt).
4.3. Anh Bùi Xuân D1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp C, T, tỉnh Đồng
Tháp (vắng mặt).
4.4. Chị Đỗ Thị Thu T2, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp C, T, tỉnh Đồng
Tháp (vắng mặt).
5. Người kháng cáo: Bị đơn anh Bùi Trường C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm,
* Nguyên đơn anh Nguyễn Thanh P đại diện ủy quyền của nguyên đơn
là anh Đoàn Thanh H trình bày:
Tháng 3/2025, anh Bùi Trường C cùng vợ là chị Lê Thị Thùy T nhu cầu
chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 568, tờ bản đồ số 11, diện tích
705,8m
2
, tọa lạc tại ấp C, T, tỉnh Đồng Tháp (trước đây ấp Chùa Đ, xã T,
huyện G, tỉnh Tiền Giang) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà tài sản gắn liền với đất số CA668414, số vào sổ cấp GCN:
CH04926, do Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 12/6/2015
cho anh Bùi Trường C với giá 350.000.000 đồng. Anh C chị T nói tài sản
cần bán để thanh toán nợ ngân hàng nên hai bên sẽ hợp đồng đặt cọc trước,
anh chị sẽ sử dụng số tiền này để trả ngân hàng, giải chấp tài sản và khi hoàn tất
thủ tục ngân hàng các bên cùng nhau thực hiện thủ tục công chứng.
Sau khi xem nhà đất, anh P đồng ý nhận chuyển nhượng nên ngày
24/3/2025, anh P anh C, chị T hợp đồng đặt cọc với thỏa thuận: Anh P
sẽ đặt cọc trước số tiền 200.000.000 đồng, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày
24/3/2025 đến ngày 14/4/2025, anh C và chị T nhận đủ số tiền cọc sẽ cùng làm
thủ tục công chứng chuyển nhượng tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Sau khi nhận tiền cọc, anh C và chị T đã đến ngân hàng thanh toán nợ
giải chấp tài sản nhưng khi anh P yêu cầu các bên tiến hành thủ tục cần thiết để
đến văn phòng công chứng thực hiện chuyển nhượng theo thoả thuận thì anh chị
trốn tránh, tiếp tục muốn chuyển nhượng cho bên thứ ba.
Do đó, anh P khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
3
+ Yêu cầu anh C chị T tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng theo hợp
đồng đặt cọc ngày 24/3/2025 đối với thửa đất số 568 nêu trên anh P sẽ thanh
toán cho anh C, chị T số tiền còn lại là 150.000.000 đồng.
+ Hủy hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tài
sản gắn liền với đất ngày 24/3/2025 giữa anh Nguyễn Thanh P anh Bùi
Trường C, chị Lê Thị Thùy T.
+ Buộc anh C chị T trả cho anh P số tiền 600.000.000 đồng, trong đó:
Tiền cọc đã nhận 200.000.000 đồng tiền bồi thường cọc 400.000.000
đồng.
- Ngày 01/12/2025, đại diện ủy quyền của nguyên đơn Nguyễn Thanh P
anh Đoàn Thanh H thay đổi yêu cầu khởi kiện cụ thể:
+ Tuyên hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài
sản gắn liền với đất ngày 24/3/2025 giữa anh Nguyễn Thanh P anh Bùi
Trường C, chị Lê Thị Thùy T là vô hiệu.
+ Buộc anh C chị T trả lại stiền cọc đã nhận 200.000.000 đồng
bồi thường thiệt hại do bị lừa dối dẫn đến hợp đồng hiệu với mức lãi suất
1,6%/tháng tính tngày nhận tiền cọc ngày 24/3/2025 đến khi hoàn thành
việc trả tiền cho anh P, số tiền tạm tính từ ngày 24/3/2025 đến ngày 01/12/2025
với số tiền là: 200.000.000 đồng x 8 tháng 7 ngày x 1,6%/tháng = 27.444.000
đồng yêu cầu bị đơn tiếp tục trả lãi với mức lãi suất 1,6%/tháng cho đến khi
hoàn thành việc trả tiền cho anh P.
* Bị đơn anh Bùi Trường C trình bày:
Nguyên anh thửa đất số 568, tờ bản đồ số 11, diện tích 705,8m
2
toạ lạc
ấp C, T, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp C, T, tỉnh Đồng Tháp) theo
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với
đất số CA668414, số vào sổ cấp GCN: CH04926, do Ủy ban nhân dân huyện G,
tỉnh Tiền Giang cấp ngày 12/6/2015.
Mẹ anh Nguyễn Thị B muốn bán mới liên hệ môi giới em ruột của
- ông Nguyễn Văn B1. Sau khi thương lượng, mẹ anh ông B1 đồng ý bán
trọn thửa với giá 500.000.000 đồng. Ngày 24/3/2025 khi nhận cọc, anh không có
mặt nhà mà chỉ vợ anh chị T m anh thì ông B1 kêu nhận cọc
200.000.000 đồng, còn lại 150.000.000 đồng. Mẹ anh phản bác thì ông B1 lợi
dụng niềm tin nói rằng ghi như vậy cho đỡ thuế. Đến sáng ngày 25/3/2025,
khi tiến hành đóng cột ranh đất thì những người giáp ranh cũng biết anh bán
với giá 500.000.000 đồng. Đến chiều cùng ngày, anh đi lấy giấy tờ đất, nhà
ông B1 nói với ba anh chỉ còn 150.000.000 đồng đủ nên anh không đồng ý
bán với giá như vậy. Ông B1 nói không chịu giá 350.000.000 đồng thì đền gấp
đôi. Vì vậy anh không đồng ý với số tiền như nguyên đơn đã nêu.
Cuối năm 2024, ông B1 là cậu của anh có đến nhà anh chơi và hỏi anh: “
người muốn mua đất, có bán không?”. Anh chưa đồng ý thì ông B1 chửi anh
nói: bán hay không do cha với mẹ mày, chứ mày không quyền”. Khi đó
anh không trả lời và bỏ đi.
4
Vài ngày sau, anh gặp lại ông B1 anh hỏi: Miếng đất đó cậu bán
được bao nhiêu?”. Ông B1 trả lời: “Khoảng 350 triệu đồng đến 400 triệu hà”.
Anh nói: Tưởng được 500 triệu đến 600 triệu thì con mới bán cho cha mẹ con
vui”. Ông B1 nói để ông xem lại, với lại gần Tết rồi, để qua Tết tính.
Khoảng đầu tháng 3/2025, anh nghe mẹ anh là bà B nói: “Cậu mày bán
được 500 nhưng tiền thuế mình chịu” thì anh không đồng ý. Vài giờ sau, mẹ anh
nói bên mua chịu giá 500 anh khỏi chịu thuế nên anh đồng ý bán. Đến ngày
24/3/2025, ông B1 gọi điện thoại kêu anh nhà nhận tiền cọc, anh nói đ
ngày mai anh mới xin nghỉ làmnhà được ông B1 đồng ý nhưng sau đó ông
B1 gọi điện thoại cho manh nói không có anh ở nhà cũng được nên phía anh P
đến nhà giao tiền cọc với diễn biến như vanh chị T trình bày. Sau khi chị T
đi rước con tan học thì nhà ba mẹ anh đã nhận số tiền cọc 200.000.000
đồng do anh P giao. Sau đó, ba mẹ anh kêu chị T đem tiền trả nợ ngân hàng
ngay trong ngày nhưng chưa lấy giấy tờ đất về được anh đứng tên vay. Đến
sáng ngày 25/3/2025, ông B1 cùng anh P đến đất để đóng cột ranh đất. Đến
chiều cùng ngày, ông B1 đến nhà anh kêu anh đến ngân hàng lấy giấy tđất
về. Sau khi anh đi, nhà ông B1 nói với ba anh chcòn 150.000.000 đồng nữa
đủ. Khi đó mẹ anh đi về nghe được hỏi: “500 mà sao còn 150
cậu?” thì ông B1 nói: “500/m
2
”. Khi đó vợ chồng anh về tới thì ba anh nói: “Còn
150 triệu nữa hà con ơi, thôi bán đại đi”, vợ chồng anh im lặng không trả lời.
Ông B1 nói: “Nếu không bán thì bồi thường theo hợp đồng”. Vợ chồng anh bỏ
ra nhà sau và gọi điện thoại cho anh P xin trả lại tiền cọc, anh P trả lời để hỏi lại
ý kiến ông B1 như vợ anh đã trình bày. Sau đó, ông B1 gọi điện thoại cho m
anh nói bồi thường cho anh P 50.000.000 đồng cũng được nhưng gia đình
anh không đồng ý. Vài ngày sau, ông B1 gọi điện thoại cho mẹ anh nói chỉ trả
lại tiền cọc cho anh P, không cần bồi thường nhưng vợ chồng anh không thể vay
lại ngân hàng do nợ xấu. Đến ngày 01/4/2025, ông B1 gọi điện thoại kêu anh
ngày 2/4/2025 nhà để phía anh P đến thương lượng. Tuy nhiên, sáng ngày
02/4/2025 chỉ có ông B1anh T1 đến nhà anh; ông B1 nói giá chuyển nhượng
đất vẫn là 350.000.000 đồng nên không thỏa thuận được. Đến ngày 03/4/2025,
vợ chồng anh gọi điện thoại cho anh P xin thỏa thuận hai bên người lên giá,
người xuống giá cho xong thì anh P nói giá vẫn 350.000.000 đồng thì công
chứng, sau này anh P làm ăn tiền thì anh P cho thêm v chồng anh, còn
không thì đợi ngày ra Tòa nên vợ chồng anh đợi ngày ra Tòa.
Tại phiên họp công khai chứng cứ hòa giải ngày 23/6/2025, bị đơn anh
C vẫn giữ nguyên lời trình bày nêu trên chỉ đồng ý chuyển nhượng thửa đất
số 568 cho anh P với giá 500.000.000 đồng. Anh C trình bày bổ sung:
Gia đình anh nhờ ông B1 bán dùm thửa đất này từ tháng 12/2024 nhưng
chưa tìm được người mua đất. Đến khoảng tháng 3/2025, khi đó anh đi làm hồ
tại C, Long An sáng đi chiều về, thì anh nghe mẹ anh nói ông B1 bán được
với giá 500 nhưng anh phải chịu tiền thuế nên anh không đồng ý. Hai tuần sau,
bên mua nói bên mua chịu thuế nên anh đồng ý bán. Chiều cùng ngày, khi đi
làm về thì anh nghe vợ anh nói lại người mua đất đưa cọc lúc sáng và vợ anh đã
trả tiền ngân hàng X. Qua ngày hôm sau, được ngân hàng xóa thế chấp đem
5
sổ đỏ về. Khi người mua đất đến đất xem ranh và cắm cọc thời điểm nào thì anh
không biết. Đến khi lấy sổ đỏ về, anh nghe ba anh nói số tiền còn lại chỉ
150.000.000 đồng, lúc đó anh không ý kiến gì. Khi đó tại nhà anh vợ
chồng anh, ba manh và ông B1; manh nói “Tôi không nghe nói mét vuông,
chỉ nghe nói năm trăm mua hết miếng đất.”, ông B1 chửi vợ anh “Khi tên
hợp đồng sao không đọc lại”, ông B1 còn nói nếu không bán nữa phải đền cọc
gấp đôi cho người ta. Vợ chồng anh biết chỉ bán được với giá 350.000.000 đồng
nên không đồng ý bán nữa. Ngay trong ngày, vợ anh gọi điện cho người mua đất
nói là chỉ đồng ý bán với giá 500.000.000 đồng, xin trả lại tiền cọc nhưng người
mua đất nói để hỏi lại ông B1. 05 ngày sau, anh nghe mẹ anh nói người mua đất
đồng ý cho vợ chồng anh trả lại 200.000.000 đồng nhưng vợ chồng anh không
vay lại được nên không tiền trả cọc lại cho người mua đất; vợ chồng anh
nan nỉ người mua đất tăng giá lên nhưng anh P không đồng ý và khởi kiện.
* Bị đơn chị Lê Thị Thùy T trình bày:
Mẹ chị là bà Nguyễn Thị B có hỏi vợ chồng chị để bán thửa đất số 568. Vợ
chồng chị ng đồng ý bán nhưng với giá khoảng 500.000.000 đồng đến
600.000.000 đồng. Khoảng một thời gian sau, B nói bán được 500.000.000
đồng nhưng tiền thuế thì vợ chồng chị phải chịu nên anh C không đồng ý. Sau
đó, B gọi điện thoại trao đổi với ông B1 được thông báo bên mua đồng
ý mua với giá 500.000.000 đồng và chịu luôn thuế nên anh C đồng ý bán.
Đến ngày 24/3/2025, ông B1 gọi điện thoại cho bà B nói bên bán vào nhà
để đặt cọc nhưng anh C hẹn lại ngày hôm sau, khi anh C xin nghỉ làm mới ở n
được và ông B1 cũng đồng ý. Nhưng khoảng 30 phút sau khi anh C đi làm t
ông B1 gọi điện thoại cho bà B nói chỉ cần chị cũng được, không cần có mặt anh
C. Khoảng 09 giờ 40 phút cùng ngày, ông B1, anh P anh T1 đến nchị làm
giấy tờ đặt cọc. Trong khi ghi giấy tờ thì phía anh P chỉ lo ghi và hỏi chị có giấy
kết hôn chưa chứ không đề cập đến số tiền đã giao dịch với B cho chị biết.
Trong lúc ghi giấy đặt cọc, bà B có hỏi ông B1: “Sao ghi gì kỳ vậy cậu?” thì ông
B1 trả lời: “Ghi vậy cho đỡ thuế” nên chị cũng không hỏi thêm gì khác. Đến khi
chị nói phải đi rước con thì ông B1 kêu chị tên rồi hả đi nên chị vào hợp
đồng đặt cọc rồi đi ớc con của chị luôn mà không đọc lại nội dung. Phía anh P
đưa tiền cọc cho bà B và ra về.
Đến sáng ngày 25/3/2025, anh C có xem nội dung hợp đồng đặt cọc và nói:
“Sao kỳ vậy 350.000.000 đồng à mẹ?”. B nói: Cậu mày ghi vậy cho
đỡ thuế, chứ em tao không lẽ lật”. Khi đó anh C mới đến ngân hàng lấy
giấy tờ đất về. Đến chiều cùng ngày, ông B1 đến nhà chị và nói còn 150.000.000
đồng nữa đủ nên vợ chồng chị không đồng ý bán. Ông B1 nói: Không chịu
thì bồi thường theo hợp đồng”. Trong lúc ông B1 nói chuyện với ba anh C ở nhà
trên thì chị ra nhà sau và gọi điện thoại cho anh P để xin trả lại tiền cọc
không phải bồi thường, anh P trả lời là để hỏi lại ý kiến của ông B1. Vài ngày
sau thì anh P đồng ý cho vợ chồng chị trả lại tiền cọc đã nhận nhưng vợ chồng
chị không thể vay lại ngân hàng do nợ xấu nên không có tiền trả cho anh P.
Đến khoảng 08 giờ ngày 03/4/2025, chị gọi điện thoại cho anh P nói sự thật
là vchồng chị vay tiền không được nên không tiền trả và xin anh P tăng giá
6
lên một ít vợ chồng chị giảm giá xuống một ít để mọi chuyện êm xuôi nhưng
anh P không đồng ý và khởi kiện vợ chồng chị.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B trình bày:
Bà là mẹ ruột của anh C, vào đầu năm 2025, bà có kêu vợ chồng con trai bà
anh P, chT bán thửa đất số 568 tọa lạc ấp Chùa Đ, T khoảng hơn 7 sào.
Trước đây, hiện trạng đất ruộng, gia đình ban đất bờ kênh và đổ thêm đất
san lấp thành đất giồng khoảng ời mấy năm nay và bà đã sang tên cho anh C
đã lâu nhưng không nhớ thời điểm nào. Anh C chị T đồng ý nên vợ chồng
có nhờ em ruột của bà là ông B1u bán dùm.
Sau đó, ông B1 nói có người mua với giá “Năm trăm” bà tưởng là bán thửa
đất này với giá 500.000.000 đồng nên anh C đồng ý bán. Ông B1 dẫn
người mua đất đến xem đất và chỉ ranh cắm cọc sau khi giao tiền cọc
200.000.000 đồng theo yêu cầu của để trả cho ngân hàng chuộc sổ, bên n
đã giao cọc cho bà nhận, con dâu bà là chị T ký tên nhận cọc. Ông B1 đã nhờ
người thanh niên viết dùm giấy đặt cọc nhưng không ai đọc lại cho chị
T nghe, bà cũng không biết chữ. Bà đã đưa lại toàn bộ số tiền cọc này cho chị T
trả cho ngân hàng khi đó thửa đất này đang thế chấp. Chiều cùng ngày khi
cắm cọc ranh thì ông B1 đến nhà nói với chồng bà chồng bà nói lại với
bên mua chỉ mua thửa đất này với giá 350.000.000 đồng. hỏi lại ông B1:
“Sao bây giờ n 350 vậy cậu?”, thì ông B1 nói Năm trăm 500.000
đồng/m
2
nên anh C không đồng ý bán với giá này không đồng ý
sang tên đất. Khi đó người mua đất yêu cầu gia đình hoàn trả số tiền cọc
đã nhận phạt cọc tổng cộng 350.000.000 đồng, gia đình chỉ đồng ý trả
lại số tiền đã nhận nhưng người mua đất không đồng ý. Đồng thời, do nợ xấu
nên anh C không được vay lại và không có tiền trả lại cho người mua đất.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông
Trần Thanh S chị Nguyễn Thị D không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không
gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đã
được Tòa án triệu tập và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp
luật.
* Người làm chứng ông Nguyễn Văn B1 trình bày:
Ông em ruột của B và cậu ruột của anh C. Vào khoảng đầu năm
2025, vợ chồng B nhờ ông bán dùm thửa đất số 568 nêu trên nhưng không
kêu giá bán. Sau đó, thông qua mối quan hệ quen biết trước đây thì anh P
đồng ý mua với giá 500.000 đồng/m
2
ông nói lại vợ chồng B ràng là
500.000.000 đồng/10 sào (1.000m
2
) và vợ chồng bà B cũng đồng ý. Ông còn nói
rõ thêm là chủ đất gần đó cũng bán với giá này. Sau đó, anh P giao đủ tiền cọc là
200.000.000 đồng hai bên thỏa thuận tại nhà của anh C; khi đó mặt ông,
anh P, chị T - vợ anh C và vợ chồng bà B. Ông có nhờ anh T1 (là con cháu trong
xóm) đến viết dùm hợp đồng đặt cọc, do anh T1 mẫu hợp đồng đặt cọc mua
bán đất. Sau khi anh T1 viết hợp đồng đặt cọc mua bán thửa đất này có diện tích
hơn 07 sào với giá 350.000.000 đồng, giao trước cọc 200.000.000 đồng, còn lại
150.000.000 đồng ra văn phòng công chứng ký sang tên sẽ giao đủ. Sau khi viết
7
xong, anh T1 đọc lại cho những người có mặt đó cùng nghe chị T
tên, điểm chỉ vào hợp đồng. Khoảng 02 ngày sau, sau khi trả tiền ngân hàng
xong thì anh C không đồng ý bán với giá 350.000.000 đồng nữa, cho rằng tưởng
bán được với giá 500.000.000 đồng. Ông nói nếu không đồng ý bán nữa thì
trả tiền cọc đã nhận lại cho người ta cùng lãi ngân hàng, chi phí đi lại nhưng vợ
chồng anh C không hoàn trả được tiền do không vay lại được nên anh P cũng
không đưa ra số tiền phải trả lại là bao nhiêu.
* Người làm chứng anh Trần Ngọc T1 trình bày:
Anh là hàng xóm với vợ chồng anh C, không bà con thân thích. Anh không
biết người mua thửa đất này ai. Vào khoảng đầu năm 2025, ông B1 hàng
xóm với anh gọi điện thoại nhờ anh đi cùng đến nhà anh C viết dùm hợp
đồng mua bán đất nên anh đi cùng ông B1 đến nhà anh C. Sau đó, anh
mượn giấy đỏ, căn cước công dân hai bên giá cả, hai bên thỏa thuận đã
thỏa thuận trước chuyển nhượng thửa đất này với giá 350.000.000 đồng, đặt cọc
trước 200.000.000 đồng để bên bán trả ngân hàng chuộc sổ ra, số tiền
150.000.000 đồng còn lại khi ra văn phòng công chứng sang tên hoàn tất thì
bên bán sgiao đủ. Sau đó, anh đọc lại cho gia đình chị T anh P cùng
nghe, hai bên tên lăn tay vào hợp đồng đặt cọc, hợp đồng này được lập 3
bản, người mua 1 bản, người bán 1 bản lưu trong cùi lai của anh 1 bản. Lúc
đó, tại nhà anh C gồm có: anh, anh P, ông B1, ba mẹ anh C và vợ anh C. Sau đó,
anh ra về không còn biết thêm khác không liên quan, các bên cũng
không ai trả tiền hoa hồng cho anh. Khi đó, anh chứng kiến việc anh P giao
đủ số tiền 200.000.000 đồng cho chị T, chị T đưa lại số tiền này cho B mẹ
anh C đếm lại.
* Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng anh Bùi Xuân D1 chị Đỗ
Thị Thu T2 không đến Tòa án theo giấy triệu tập, không gửi văn bản trình bày ý
kiến dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
* Bản án dân sự thẩm số: 384/2025/DS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Đồng Tháp đã quyết định:
Áp dụng: Các Điều 117, 122, 123, 127, 131 328 Bộ luật Dân sự năm
2015; Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 2 Điều 244,
điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn
Thanh P về việc yêu cầu bị đơn anh Bùi Trường C chị Thị Thùy T trả tiền
phạt cọc là 400.000.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh P.
8
- Tuyên hợp đồng đặt cọc vviệc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất ký ngày 24/3/2025 giữa anh Nguyễn Thanh P và anh Bùi
Trường C, chị Lê Thị Thùy T đối với thửa đất số 568 nêu trên là vô hiệu.
- Buộc anh C và chị T nghĩa vụ liên đới hoàn trả lại anh P số tiền cọc
đã nhận là 200.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại cho anh P với số tiền
29.000.000 đồng, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí,
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, bị đơn anh Bùi Trường C kháng cáo Bản án
dân sự thẩm số: 384/2025/DS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Toà án
nhân dân Khu vực 2 - Đồng Tháp. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ
thẩm không chấp nhận phần yêu cầu bồi thường stiền 29.000.000 đồng của
nguyên đơn anh P.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Thanh P anh Đoàn
Thanh H và bị đơn chị Lê Thị Thùy T anh Bùi Trường C thống nhất thỏa thuận:
1. Đề nghị Tòa tiếp tục “Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn anh Nguyễn Thanh P về việc yêu cầu bị đơn anh Bùi Trường C chị
Thị Thùy T trả tiền phạt cọc là 400.000.000 đồng”.
2. Tuyên bố “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất ngày 24/3/2025 giữa anh Nguyễn Thanh P anh
Bùi Trường C, chị Lê Thị Thùy T đối với thửa đất số 568 nêu trên là vô hiệu”.
3. Anh Bùi Trường C và chị Lê Thị Thùy T có nghĩa vụ liên đới trả cho anh
Nguyễn Thanh P số tiền cọc đã nhận ngày 24/3/2025 là 200.000.000 đồng, thực
hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Anh Bùi Trường C chị Thị Thùy T liên đới chịu 10.000.000
đồng.
4.2. H1 lại anh P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.050.000 đồng theo biên
lai thu số 0014171 ngày 06/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Công Đông, tỉnh Tiền Giang (nay thuộc Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp)
11.000.000 đồng theo biên lai thu số 0001231 ngày 17/9/2025 của Thi hành án
dân sự tỉnh Đồng Tháp.
5. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
9
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đảm bảo
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm hoàn
toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức hội nên đề nghị Hội
đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự
thẩm số: 384/2025/DS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân
Khu vực 2 - Đồng Tháp, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng
xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tòa cấp thẩm xác định quan hệ
pháp luật tranh chấp là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng đặt cọc và phạt cọc”
có căn cứ.
[2]. Xét thời hạn kháng cáo: Ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân
dân Khu vực 2 - Đồng Tháp ban hành Bản án dân sự thẩm số 384/2025/DS-
ST, đến ngày 24 tháng 12 năm 2025, bị đơn anh Bùi Trường C đơn kháng
cáo. Nvậy, kháng cáo của anh C còn trong thời hạn theo quy định tại Điều
273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét.
[3]. Xét nội dung kháng cáo:
[3.1]. Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn
Thanh P anh Đoàn Thanh H bị đơn anh Bùi Trường C, chị Thị Thùy T
thống nhất thỏa thuận:
1. Đề nghị Tòa tiếp tục “Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn anh Nguyễn Thanh P về việc yêu cầu bị đơn anh Bùi Trường C chị
Thị Thùy T trả tiền phạt cọc là 400.000.000 đồng”.
2. Tuyên bố “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
tài sản gắn liền với đất ngày 24/3/2025 giữa anh Nguyễn Thanh P anh
Bùi Trường C, chị Lê Thị Thùy T đối với thửa đất số 568” nêu trên là vô hiệu.
3. Anh Bùi Trường C và chị Lê Thị Thùy T có nghĩa vụ liên đới trả cho anh
Nguyễn Thanh P số tiền cọc đã nhận ngày 24/3/2025 là 200.000.000 đồng, thực
hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
4.1. Anh Bùi Trường C chị Thị Thùy T liên đới chịu 10.000.000
đồng.
4.2. H1 lại anh Nguyễn Thanh P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.050.000
đồng theo biên lai thu số 0014171 ngày 06/5/2025 của Chi cục Thi hành án n
sự huyện Công Đông, tỉnh Tiền Giang (nay thuộc Thi hành án dân sự tỉnh
10
Đồng Tháp) 11.000.000 đồng theo biên lai thu số 0001231 ngày 17/9/2025
của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
5. Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3.2]. Xét thỏa thuận của các đương shoàn toàn tự nguyện, thỏa thuận
trên không trái pháp luật, không vi phạm đạo đức hội giải quyết triệt để
tranh chấp giữa các bên đương sự trong vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận
kháng cáo của b đơn anh Bùi Trường C, sửa bản án dân sự sơ thẩm số:
384/2025/DS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2 -
Đồng Tháp theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Tuy sửa án
nhưng do các đương sự có thỏa thuận mới nên cấp sơ thẩm không có lỗi.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát căn cứ pháp luật, phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn anh Bùi Trường C được chấp nhận
kháng cáo nên không phải chịu án p dân sự phúc thẩm. H1 lại cho anh C
300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000095 ngày 05/01/2026 của
Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 148, Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 117, 122, 123, 127, 131 328 Bộ luật Dân sự năm
2015; Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, khoản 2 Điều 244,
điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2
Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Bùi Trường C. Sửa Bản án dân sự
thẩm số: 384/2025/DS-ST ngày 23 tháng 12 năm 2025 của Toà án nhân dân
Khu vực 2 - Đồng Tháp. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như
sau:
1.1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn
Thanh P về việc yêu cầu bị đơn anh Bùi Trường C và chị Lê Thị Thùy T trả tiền
phạt cọc là 400.000.000 đồng.
1.2. Tuyên bố “Hợp đồng đặt cọc về việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền với đất ngày 24/3/2025 giữa anh Nguyễn Thanh P
anh Bùi Trường C, chị Thị Thùy T đối với thửa đất số 568 nêu trên”
hiệu.
11
1.3. Anh Bùi Trường C, chị Thị Thùy T nghĩa vụ liên đới trả cho
anh Nguyễn Thanh P số tiền cọc đã nhận ngày 24/3/2025 200.000.000 đồng,
thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
1.4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho
đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
1.5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Anh Bùi Trường C và chị Lê Thị Thùy T liên đới chịu 10.000.000 đồng án
phí dân sự sơ thẩm.
H1 lại anh Nguyễn Thanh P số tiền tạm ứng án phí đã nộp 4.050.000
đồng theo biên lai thu số 0014171 ngày 06/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân
sự huyện Công Đông, tỉnh Tiền Giang (nay thuộc Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Tháp) 11.000.000 đồng theo biên lai thu số 0001231 ngày 17/9/2025
của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn anh Bùi Trường C không phải chịu
án phí, hoàn lại cho anh C 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số
0000095 ngày 05/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự./.
Án tuyên lúc 10 giờ và kết thúc lúc 10 giờ 10 phút cùng ngày 15/7/2026, có
mặt anh H, anh C, chị T và bà B; các đương sự còn lại vắng mặt.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND KV 2 - Đồng Tháp;
- Phòng THADS KV 2 - Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Trần Hữu Tính
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 599/2026/DS-PT Bản án số 599/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 599/2026/DS-PT Bản án số 599/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất