Bản án số 488/2026/DS-PT ngày 29/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 488/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 488/2026/DS-PT ngày 29/05/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 488/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Phát T1, sửa 01 phần bản án dân sự sơ thẩm số số 73/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 488/2026/DS-PT Bản án số 488/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 488/2026/DS-PT Bản án số 488/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 488/2026/DS-PT
Ngày: 29/5/2026
V/v tranh chấp “Quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Lê Huy;
Ông Nguyễn Phú Thọ.
- Thư phiên tòa: Ông Trần Thanh Bảo, Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dântỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bùi Văn Bình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2026/TLPT - DS ngày 03
tháng 3 năm 2026 về việc tranh chấp “Quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự thẩm s73/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 11– Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 852/2026/QĐ-PT ngày
23 tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Lê Thị Ngọc T, sinh năm 1989
(theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 15/02/2024).
Cùng địa ch: Số A, đường N, ấp T, xã C, tỉnh An Giang.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Bùi Quốc
N, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số D, ấp M, C, tỉnh An Giang. Luật của Chi
nhánh Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư thành phố C.
2. Bị đơn: Nguyễn Phát T1 (tên thường gọi là D), sinh năm 1977.
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tnh Đồng Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Nguyễn Văn V, sinh năm 1968. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.2. Nguyễn Thị M, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.3. Nguyễn Thị M1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đng Tháp.
2
3.4. Lê Tự D1, sinh năm 1970.
3.5. Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1970.
Cùng địa ch: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.6. Nguyễn Văn N1, sinh năm 1959. Địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh Đồng Tháp.
3.7. Nguyễn Văn D2, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp L, xã L, tỉnh An Giang.
3.8. Nguyễn Văn B, sinh năm 1964. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.9. Nguyễn Thị H, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp C, xã P, tỉnh An Giang.
3.10. Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Ấp D, T, tỉnh Đồng Tháp.
3.11. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1973. Địa chỉ: Ấp T, xã P, tỉnh An Giang.
3.12. Nguyễn Thị S, sinh năm 1977. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
3.13. Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân n huyện T: Ch
tịch Ủy ban nhân dân xã T. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đng Tháp.
4. Người làm chứng:
4.1. Nguyn Văn H1, sinh năm 1971. Đa ch: SC, p T, T, tnh Đồng Tp.
4.2. Ông Nguyn Văn D3, sinh năm 1964. Địa chỉ: p T, xã T, tỉnh Đồng Tp.
4.3. Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1967. Địa chỉ: Số I, ấp T, xã T, tỉnh
Đồng Tháp.
4.4. Ông Nguyễn Văn X, sinh m 1935. Địa ch: p T, T, tỉnh Đồng Tp.
Người kháng cáo: bị đơn Nguyễn Phát T1.
(Tại phiên tòa có mặt bà T, luật sư N, ông T1, ông N1. Còn lại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo tờ tự khai, đơn khởi kiện, các ý kiến trình bày tại Tòa án phía nguyên
đơn có người đại diện hợp pháp là chị Lê Thị Ngọc T trình bày:
Cha mẹ của bà Nguyễn Thị Đông Nguyễn Văn H2 Nguyễn Thị Ớ.
Ông H2 04 người con gồm: Nguyễn Thị Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn
Thị M, Nguyễn Thị M1.
Nguồn gốc đất tranh chấp của ông để lại cho ông H2 ông H2 đã
đăng ký kê khai được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất gồm thửa 1279, diện tích 2.020m
2
thửa 1388, diện tích
900m
2
, loại đất trồng lúa, cùng tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T (nay
T), tỉnh Đồng Tháp. Trước khi chết thì ông H2, bà không lập di chúc để
quyền sử dụng đất nêu trên cho ai.
Sau khi ông H2 chết thì ông Nguyễn Văn T5 (anh ruột ông H2) giữ bản
chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sử dng đất. Khi ông T5 chết thì con
ông T5 là ông Nguyễn Phát T1 tiếp tục giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất sử dụng, canh tác đất cho đến nay. Hiện nay, ông T1 ý định chuyển
3
nhượng phần đất này cho người khác. Đ nhiều lần yêu cầu ông T1 trả lại đất
và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông T1 không đồng ý.
Nay bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu ông Nguyễn Phát T1 trả cho bà Đ quyền sử
dụng đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn Văn H2 đối
với diện tích đất qua đo đạc thực tế 2.718,2m
2
gồm: Diện tích 1996,2m
2
thuộc
thửa số 1279 diện tích 722m
2
thuộc thửa 1388, cùng tờ bản đồ số 02, loại đất
trồng lúa (2L), tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp. Bà Đ tự nguyện h trợ cho ông T1
chi phí san lấp, sửa chữa, cải tạo, giữ gìn đất là 100.000.000 đồng.
- Quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Phát T1 trình bày:
Nguồn gốc đất là trước đây vào năm 1973, cha của ông Nguyễn Phát T1
ông Nguyễn Văn T5 nhận cố của vợ chồng ông Nguyễn Thành L1, bà Bùi Thị T6
(có làm Tờ cố đất ngày 22/7/1973). Đến khoảng năm 1974, 1975 thì ông T5 nhận
chuyển nhượng luôn phần đất cố này của ông L1, bà T6 với diện tích là nửa mẫu
đất (0,5ha). Việc nhận chuyển nhượng không lập thành văn bản, giấy tờ
ông L1, T6 giao cho ông T5 giữ bản chính giấy Chứng thư cấp quyền sở hữu
Chứng khoán do chế độ cấp cho ông L1. Sau khi nhận chuyển nhượng đất
thì đến năm 1994, ông T5 kê khai đối với phần đất nhận chuyển nhượng của ông
L1, T6 gồm phần đất cho em ông T5 ông Nguyễn Văn H2 đứng tên giùm
(phần đất tranh chấp) phần đất cho con ông T5 ông Nguyễn Văn N1 đứng
tên giùm là:
- Ông H2 đứng tên: Thửa 1279, diện tích 2.020m
2
thửa 1388, diện tích
900m
2
, loại đất trồng lúa, cùng tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, huyện T, tỉnh Đồng
Tháp;
- Ông N1 đứng tên: Thửa 1280, diện tích 2.215m
2
thửa 1394, diện tích
1.315m
2
, loại đất trồng lúa, cùng tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại T, huyện T, tỉnh
Đồng Tháp.
Sau này, 02 thửa đất 1280 và 1394 thì ông N1 đã trả lại cho ông T5 và sau
đó ông T5 cho lại con của ông N1 sử dụng.
Đối với thửa 1279 và thửa 1388 thì cách nay khoảng 40 năm (khoảng năm
1984), ông T5 cho ông H2 mượn sử dụng để nuôi cha mẹ. Đến năm 1990 thì ông
T5 lấy lại phần đất để làm lúa vì kinh tế ông H2 đã khá giả. Khi ông T5 chết vào
khoảng năm 2020 thì ông T1 tiếp tục sử dụng phần đất này. Hiện nay, ông T1
đang cho ông Lê Tự D1 thuê sử dụng. Đối với bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, tkhi được cấp giấy vào năm 1994 thì do ông T5 quản lý, khi ông
T5 chết thì ông T1 tiếp tc quản lý cho đến nay.
vậy, nay ông Nguyễn Phát T1 không đng ý trả lại đất giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho Đ theo yêu cầu khởi kiện của Đ. Đối với hợp
đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông T1 với ông D1 thì ông T1 không tranh
chấp, trường hợpphát sinh tranh chấp thì ông sẽ khởi kiện vụ án khác.
- Người quyền li, nghĩa vụ liên quan Nguyễn n V, Nguyễn Thị M
trình bày: Ông V, bà M đồng ý để Đ khởi kiện tranh chấp với ông T1, không
4
tranh chấp với Đ đồng ý để Đ được hưởng và toàn quyền định đoạt đối
với diện tích đất tranh chấp.
- Người quyền lợi, nghĩa vliên quan Tự D1, Nguyễn Thị Thúy L
trình bày: Phần đất tranh chấp hiện ông D1, L đang hợp đồng thuê với ông
Nguyễn Phát T1. Ông không yêu cầu hay tranh chấp gì trong vụ án, thống
nhất theo quyết định của Toà án. Đối với hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với
ông T1 thì các bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn N1 trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Nguyễn Văn T5 nhận chuyển nhượng
của ông Nguyễn Thành L1. Diện tích ông T5 nhận chuyển nhượng của ông L1
½ mẫu 3,5 công. Việc ông Nguyễn Văn H2 đứng tên quyền sử dụng đất là do
ông T5 cho ông H2 mượn đất để canh tác lúa nuôi cha mẹ chung của ông T5
ông H2 (ông bà nội của ông N1) vì ông H2 sống chung nhà với cha mẹ. Ông H2
sử dụng đất đến trước khi ông H2 chết khoảng 2 đến 3 năm thì trả lại cho ông T5
sử dụng. Ông T5 không yêu cầu ông H2 làm thủ tục sang tên lại cho ông T5
nghĩ là anh em trong nhà, khi ông T5 lấy đất lại để sử dụng thì sử dụng ổn định,
không ai tranh chấp, đến khi ông T1 canh tác thì Đ mới tranh chấp. Nay ông
N1 không có tranh chấp và không có yêu cầu gì, thống nhất ông T1 được hưởng
thừa kế theo di chúc phần đất này của ông T5 thể hiện tại Tờ di chúc ngày
20/6/2013.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn D2, Nguyễn Văn B,
Nguyễn Thị H trình bày:
Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông T5 nhận chuyển nhượng đất vào thời
N2. Việc chuyển nhượng cụ thể thế nào thì ông D2 không biết do còn nhỏ. Việc
ông H2 đứng tên quyền sử dụng đất là do ông T5 cho ông H2 ợn đất để canh
tác lúa nuôi cha mẹ vì ông H2 sống chung nhà. Ông H2 sử dụng đất đến trước khi
ông H2 chết khoảng 2 năm năm 1989 (ông H2 chết năm 1991) thì trả lại cho
ông T5 sử dụng. Ông T5 không yêu cầu ông H2 làm thủ tục sang tên lại cho ông
T5 vì nghĩ là anh em trong nhà, khi ông T5 lấy đất lại để sử dụng thì sử dụng ổn
định, không ai tranh chấp, đến khi ông T1 canh tác thì Đ mới tranh chấp. Do
thấy đất chưa sang tên cho ông T5 nên bà Đ mới tranh chấp, chứ ông V là em bà
Đ đã đồng ý trả đất lại cho ông T5. Nay ông D2, ông B, bà H không tranh chấp
không có yêu cầu , thống nhất ông T1 được hưởng thừa kế theo di chúc phần
đất này của ông T5 thể hiện tại Tờ di chúc ngày 20/6/2013.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 73/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 Điều 273 Bộ
luật tố tụng n sự; các Điều 163, 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều
26, Điều 31 Luật Đất đai năm 2024; các Điều 26 Điều 27 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Tuyên xử:
5
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Nguyễn
Phát T1 về việc yêu cầu trả lại đất.
Buộc ông Nguyễn Phát T1 trách nhiệm giao trả lại cho bà Nguyễn Thị
Đ quyền sdụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn
Văn H2 ngày 01/3/1994 đối với thửa đất số 1388, diện tích 900m
2
(đo đạc thực tế
722,5m
2
) trong phạm vi các mốc M1, M2, M8, M9 về mốc M1 thửa đất số
1279, diện tích 2.020m
2
o đạc thực tế 1.996,2m
2
) trong phạm vi các mốc M3,
M4, M5, M6, M7 về mốc M3, cùng tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, huyện T (nay
là xã T), tỉnh Đồng Tháp.
Theo Sơ đồ đo đạc ngày 12/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất
đai huyện T (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1 - Đồng Tháp) và biên bản xem xét,
thẩm định tại chỗ của Tòa án.
Đề nghị quan nhà nước thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/3/1994 cho ông Nguyễn
Văn H2 đứng tên đối với thửa đất số 1279, diện tích 2.020m
2
(đo đạc thực tế
1.996,2m
2
) và thửa 1388, diện tích 900m
2
(đo đạc thực tế 722,5m
2
) cùng tờ bản đồ
số 2, mục đích sử dụng đất: 2L, tại xã T, huyện T (nay là T), tỉnh Đồng Tháp
để cấp lại cho Nguyễn Thị Đ theo quy định.
Nguyễn Thị Đ được đến quan thẩm quyền để đăng lại Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên theo quy định.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Đ về việc tự nguyện trả lại cho
ông Nguyễn Phát T1 công S1 giữ gìn, cải tạo đối với phần đất trên với số tiền là
100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến
khi thi hành xong số tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn lại phải thi hành, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 khoản
2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương s
theo quy định của pháp luật.
* Ngày 27/10/2025, bị đơn Nguyễn Phát T1 đơn kháng cáo với nội dung:
Yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án của Tòa án cấp
thẩm giải quyết.
* Tại phiên tòa phúc thẩm;
Ông Nguyễn Phát T1 vẫn ginguyên kháng cáo, không chấp nhận yêu cầu
của nguyên đơn, của bản án sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện nguyên đơn chị Lê Thị Ngọc T trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu kháng o ca ông T1. Đại diện Đ chấp
nhận trả thêm cho ông T1 50.000.000 đồng, tổng cộng là 150.000.000 đồng công
sức gìn giữ phần đất.
Hai bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
6
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn, Luật sư Bùi Quốc
N tóm tắt ngun gốc đất, nêu diễn biến quá trình sử dụng đất, các căn cứ chứng
minh cho yêu cầu khởi kiện đã được thu thập trong hồ sơ. Luật sư đnghị
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp
luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
những người tham gia tố tụng từ khi th vụ án cho đến trước thời điểm
Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự. Về nội dung: Viện kiểm sát phân tích, đánh giá về nhận định của bản án
thẩm, qua trình bày của người tham gia tố tụng, xác định phán quyết của cấp
thẩm n cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa đại diện nguyên
đơn chấp nhận trả thêm cho ông T1 số tiền 50.000.000 đồng, xác định đây là việc
tự nguyện của bên nguyên đơn, lợi cho bđơn. Do đó, đề nghị Hi đồng xét x
không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, công nhận sự tự nguyện của phía
nguyên đơn, sửa 01 phần án thẩm của Toà án nhân dân khu vực 11 Đồng
Tháp.
NHẬN ĐNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý
kiến phát biểu ca đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
[1]. Về tố tụng: Ông Nguyễn Phát T1 nộp đơn kháng cáo thực hiện các
thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem
xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung kháng cáo:
Qua nghiên cứu tài liệu trong hồ sơ vụ án, qua tranh tụng tại phiên tòa
nhận thấy:
Với lời trình bày, yêu cầu của người tham gia t tụng. Sau khi thu thập toàn
bộ tài liệu liên quan, Tòa cấp thẩm xác định: Căn cứ Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 00374 ngày 01/3/1994, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 1388 và thửa 1279 cho ông Nguyễn Văn H2
(chết năm 1997). Văn bản cung cấp thông tin ngày 13/01/2025 của Công an huyện
T thì không đủ thông tin tra cứu hộ ông H2 vào năm 1994. Ông H2 vợ
Nguyễn Thị Ớ (chết năm 1983), ông H2 có 04 người con là Nguyễn Thị
Đ, Nguyễn Văn V, Nguyễn Thị M, Nguyễn Thị M1. Ông V, bà M thống nhất yêu
cầu khởi kiện của bà Đ, đồng ý bà Đ khởi kiện, không tranh chấp với bà Đ, đồng
ý Đ được hưởng toàn quyền định đoạt đối với phần đất tranh chấp thuộc
thửa 1279 thửa 1388. Đối với M1, Toà án đã thông báo để Đ yêu cầu
tuyên b M1 mất năng lực hành vi dân sự do cho rằng bà M1 bbệnh tâm thần
nhưng Đ không yêu cầu. M1 đã được tống đạt hợp lệ c văn bản tố tụng
nhưng bà M1 không có văn bản ghi ý kiến gửi cho Toà án và vắng mặt không có
lý do, do đó nếu sau này bà M1 có tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất này đối
với bà Đ thì khởi kiện tranh chấp giải quyết trong v kiện khác. Hiện giấy chứng
7
nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Phát T1 giữ (không cầm cố, thế
chấp,…).
Căn cứ văn bản cung cấp thông tin ngày 03/12/2024 của Ủy ban nhân n
huyện T thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất cho ông Nguyễn Văn H2
thửa 1388 thửa 1279, cùng tờ bản đồ số 2 thực hiện theo trình tự, thủ tục
năm 1993; ông H2 thuộc trường hợp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần
đầu; đến nay 02 thửa đất chưa cấp đổi sang bản đồ địa chính chính quy.
Đ trình bày nguồn gốc đất của ông đlại cho cha là ông H2. Ông
H2 canh tác sử dụng đất đến năm 1997 thì bị bệnh qua đời. Trước khi ông H2
chết, không nhớ thời gian nào, chỉ nhớ là trước năm 1995 thì ông Nguyễn Văn T5
(cha ông T1) anh ruột của ông H2 giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để
đóng thuế giùm cho ông H2; đến năm 1995 tông T5 lấy phần đất của ông H2
để canh tác cho đến khi ông T5 chết vào năm 2021 thì con ông T5ông T1 tiếp
tục giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất canh tác phần đất tranh chấp cho
đến nay. Nay Đ yêu cầu ông T1 trả lại đất và bản chính giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất của cha bà Đ lại cho bà Đ; bà Đ đồng ý hỗ trợ cho ông T5 và ông T1
chi phí san lấp, sửa chữa, cải tạo, giữ gìn đất từ năm 1997 cho đến nay
100.000.000 đng.
Đối với ông Nguyễn Phát T1 cho rằng phần đất này của cha ông ông
T5 nhận c của ông Nguyễn Thành L1 vào năm 1973, và sử dụng liên tục từ năm
1973 cho đến nay. Khoảng năm 1974, 1975 thì ông T5 nhận chuyển nhượng luôn
phần đất này của ông L1, và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
H2 là do ông T5 cho ông H2 đứng tên giùm.
Đối với việc nhận cố đất thể hiện tại “Tờ cố đất đứt” ngày 02/7/1973 do ông
Nguyễn Phát T1 cung cấp thì không thể hiện thửa đất cố thửa đất số mấy, tờ
bản đồ số mấy, đất toạ lạc tại đâu, chỉ thể hiện diện tích là nửa mẫu đất
(5.000m
2
) trong khi toàn b phần đất tranh chấp có diện tích là 2.718,7m
2
. Ngoài
ra, ông T1 còn trình bày ông T5 khai chung nửa mẫu đất này cho ông H2 và ông
N1 đứng tên, nhưng tổng diện tích khai cho ông H2 và ông N1 đứng tên trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất không phải nửa mẫu đất (5.000m
2
) mà là 6.450m
2
(ông H2 đứng tên diện tích 2.920m
2
gồm thửa 1279 thửa 1388; ông N1 đứng
tên diện tích 3.530m
2
gồm thửa 1280 thửa 1394). Còn ông N1 lại trình bày nửa
mẫu đất ông T5 nhận chuyển nhượng của ông L1 là 3,5 công đất. Đối với việc
nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông T5 với ông L1 thì không lập
thành văn bản, giấy tờ gì, không có người làm chứng nên không có căn cứ chứng
minh. Ngoài ra, ông T1 còn cung cấp 02 biên lai thu thuế ruộng vườn và Chứng
khoán, chứng thư cấp quyền sở hữu cho ông L1 để chứng minh nguồn gốc đất là
của ông L1. Tuy nhiên việc ông T5 nhận chuyển nhượng đất của ông L1 không
có tài liệu, chứng cứ để chứng minh như nêu trên. Hơn nữa, con của ông L1
anh Nguyễn Văn H3 khai rằng phần đất tranh chấp trước đấy không phải của
ông L1. Ông T1 khai nại là ông T5 đã sử dụng đất tranh chấp từ năm 1973 nhưng
không có gì chứng minh. Qua lấy lời khai những người canh tác lận cận phần đất
tranh chấp ông Nguyễn Văn X (sinh năm 1935) trình bày ông H2 đã canh tác
8
phần đất tranh chấp từ trước năm 1975; ông Nguyễn Văn T4 (sinh năm 1967)
trình bày ông biết ông H2 canh tác phần đất tranh chấp vào khoảng năm 1978,
1979 ông T4 cùng cha ông chạy đường nước gần đất tranh chấp trong thời
gian này; ông Nguyễn Văn D3 (sinh năm 1964) trình bày vào khoảng trước
năm 1978 thì ông H2 đã canh tác phần đất đến khi chết thì ông T5 vào canh tác,
sau này con ông T5 là ông T1 vào canh tác.
Đối với lời trình bày của ông N1, ông D2, ông B, H cho rằng phần đất
tranh chấp là ông T1 được hưởng thừa kế theo di chúc của ông T5 tại Tờ di chúc
ngày 20/6/2025. Tuy nhiên, tại tờ di chúc này không xác định ông T1 được hưởng
diện tích bao nhiêu, thửa số mấy, tờ bản đồ số mấy, đất toạ lạc tại đâu. Ngoài ra,
trong nội dung di chúc ghi“… Còn lại bao nhiêu đất để phần hương quả, tôi
còn sống canh tác số đất đó để sống ng kiến ông, bà, cha, mẹ. Khi tôi qua
đời, đứa nào ở đó thì được hưởng số đất hương quả thờ phượng cúng kiến hàng
năm” nhưng cũng không xác định vị trí đất, diện tích đất, đất thuộc thửa số my,
tờ bản đồ số mấy nên không có cơ sở để chứng minh.
Do đó sở xác định, ông H2 canh tác, sử dụng đất, phía ông T5
ông T1 biết việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H2 vào năm
1994 nhưng không có ý kiến, vẫn thống nhất cho ông H2 đứng tên, do đó việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông H2 căn cứ, đúng đối
tượng. 03 người làm chứng ông H2 canh tác đất từ trước năm 1975 đến năm
1997 nên xác định đất thuộc quyền sử dụng của ông H2. Qua xem xét Tờ cố
đất và theo lời trình bày của anh H3 (con ông L1) là không phải đất của ông L1.
Lời trình bày của ông T1 là chưa có cơ sở. Ông V, bà M thống nhất yêu cầu khởi
kiện của Đ, đồng ý Đ khởi kiện, đồng ý Đ được hưởng toàn quyền
định đoạt đối với phần đất tranh chấp; trường hợp M1, nếu sau này bà M1
tranh chấp thừa kế quyền sdụng đất này đối với Đ thì khởi kiện tranh chấp
giải quyết trong vụ kiện khác. Nên yêu cầu khởi kiện của bà Đ là có căn cứ chấp
nhận, ông T1 trách nhiệm trả lại cho bà Đ phần đất tranh chấp thuộc thửa 1279
và thửa 1388, và bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Với phân tích như nêu trên cho thấy Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử là có căn
cứ. Bị đơn ông T1 kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu chứng minh cho
yêu cầu của mình nên không có cơ sở để chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm chị
Lê Thị Ngọc T người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đồng ý trả thêm
cho ông T1 50.000.000 đồng tiền công gìn giữ đất. Tổng cộng 150.000.000
đồng. Xét thấy đây sự tự nguyện của bên nguyên đơn có lợi cho bị đơn, không
trái pháp luật, đạo đức xã hội nên được công nhận. Vì vậy, cần sửa 01 phần án sơ
thẩm.
[3]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu vquan điểm
giải quyết v án có căn cứ, phù hợp nội dung ván, đúng theo quy định của
pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4]. Ý kiến của Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị
Đ phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
9
[5]. Những phần quyết định khác của bản án thẩm không bkháng o,
kháng nghị n hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Về án phí: Ông Nguyễn Phát T1 không phải chịu án phí n sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Phát T1, sửa 01 phần bản
án dân sự sơ thẩm số số 73/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Toà án
nhân dân khu vực 11 – Đồng Tháp.
Căn cứ vào Điều 163, 164, 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 26,
Điều 31 Luật Đất đai năm 2024; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức
thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Nguyễn
Phát T1 về việc yêu cầu trả lại đất.
Buộc ông Nguyễn Phát T1 trách nhiệm giao trả lại cho bà Nguyễn Thị
Đ quyền sdụng đất và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Nguyễn
Văn H2 ngày 01/3/1994 đối với thửa đất số 1388, diện tích 900m
2
(đo đạc thực tế
722,5m
2
) trong phạm vi các mốc M1, M2, M8, M9 về mốc M1 thửa đất số
1279, diện tích 2.020m
2
o đạc thực tế 1.996,2m
2
) trong phạm vi các mốc M3,
M4, M5, M6, M7 về mốc M3, cùng tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại xã T, huyện T (nay
là xã T), tỉnh Đồng Tháp.
Theo đồ đo đạc ngày 12/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất
đai huyện T (nay là Chi nhánh Văn phòng Đ1 - Đồng Tháp) và biên bản xem xét,
thẩm định tại chỗ của Tòa án.
Đề nghị quan nhà nước thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 01/3/1994 cho ông Nguyễn
Văn H2 đứng tên đối với thửa đất số 1279, diện tích 2.020m
2
(đo đạc thực tế
1.996,2m
2
) và thửa 1388, diện tích 900m
2
(đo đạc thực tế 722,5m
2
) cùng tờ bản đồ
số 2, mục đích sử dụng đất: 2L, tại xã T, huyện T (nay là T), tỉnh Đồng Tháp
để cấp lại cho Nguyễn Thị Đ theo quy định.
Nguyễn Thị Đ được đến quan thẩm quyền để đăng lại Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất nêu trên theo quy định.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Đ về việc tự nguyện trả lại cho
ông Nguyễn Phát T1 công S1 giữ gìn, cải tạo đối với phần đất trên với số tiền
150.000.000 đng (Một trămm mươi triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến
khi thi hành xong số tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn lại phải thi hành, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản
2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
10
2. Những phần quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo,
kháng nghị nên hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Phát T1 không phải chịu án phí dân sự phúc
thẩm, hoàn lại cho ông T1 số tiền 300.000 đồng tạm nộp theo biên lai thu số
0006136 ngày 27/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
4. Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp; (1)
- TAND khu vc 11 Đồng Tháp; (1)
- THADS tỉnh Đồng Tháp; (1)
- Các đương s; (1)
- Lưu hồ sơ v án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
Võ Trung Hiếu
Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem chi tiết Văn bản gốc. Nếu chưa có tài khoản, vui lòng Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 488/2026/DS-PT Bản án số 488/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 488/2026/DS-PT Bản án số 488/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho thành viên đăng ký Gói dịch vụ 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất