Bản án số 443/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 443/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 443/2026/DS-PT ngày 17/09/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 443/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/09/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 443/2026/DS-PT Bản án số 443/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 443/2026/DS-PT Bản án số 443/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
Bản án số: 443/2026/DS-PT
Ngày: 17 - 9 - 2026
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất,
yêu cầu tháo gỡ công trình trên đất,
chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất,
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Thẩm phán: Ông Lý Thơ Hiền
Bà Lưu Thị Thu Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Vinh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Trần Văn Lai - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân
tỉnh Đắk Lắk kết nối hệ thống trực tuyến đến điểm cầu thành phần trụ sở Toà án
nhân dân khu vực 12 – Đắk Lắk, tiến hành xét xử công khai trực tuyến vụ án dân
sự phúc thẩm thụ lý số 243/2026/TLPT- DS ngày 15 tháng 7 năm 2026, về việc
“Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo gỡ công trình trên đất, chấm dứt
hành vi cản trở quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do
Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2026/DS-ST ngày 21/5/2026 của Tòa án nhân dân
khu vực 12 - Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 192/2026/QĐ-PT, ngày
05/8/2026 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 426a/2026/QĐ-PT ngày
25/8/2026 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Lê Ngọc T, sinh năm 1992; địa chỉ: Khu phố U, phường
H, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: bà Phạm Bảo T1, sinh năm
1986; địa chỉ: 1 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đ, sinh năm 1967 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm
1963; cùng địa chỉ: khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk. Ông Đ có mặt, bà H vắng
mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1997; địa chỉ: Khu phố U, phường
H, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
3.2. Ông Lê C, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1958; cùng
địa chỉ: Khu phố U, phường H, tỉnh Đắk Lắk. Đều vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê C: bà Phạm Bảo T1, sinh năm
1986; địa chỉ: 1 N, phường T, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
3.3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P, tỉnh Đắk Lắk (là người kế thừa
quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân thị xã Đ, tỉnh Phú Yên). Vắng mặt.
3. Người kháng cáo: ông Nguyễn Đ, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Mẹ ông T là bà Nguyễn Thị T3 được ông bà ngoại là Nguyễn M (mất năm
2013), bà Hồ Thị L (mất năm 2014) để lại Di chúc ngày 21/6/2010 cho một thửa
đất có kích thước 4mx32m tại khu phố U, H, huyện Đ, trên đất có 01 căn nhà cấp
4 cũ; ngày 07/12/2017 UBND huyện Đ (cũ) đã cấp Giấy chứng nhận QSD đất số
CI 042511, thửa đất số 36, tờ bản đồ 19, diện tích 150m² cho ông Lê C, bà Nguyễn
Thị T3. Ngày 25/3/2022, ông C, bà T3 đã tặng cho ông T toàn bộ thửa đất này, đã
đăng ký biến động đất đai tại chi nhánh Văn phòng đất đai thị xã Đ theo quy định
pháp luật. Năm 2010, ông Nguyễn Đ (em ruột của mẹ ông) đã tự ý xây dựng 01
chuồng bò diện tích 20m² trên thửa đất của bà ngoại, dù lúc đó bà ngoại còr sống
không đồng ý nhưng ông Đ vẫn ngang ngược không chịu tháo dỡ.
Đến tháng 3/2022 vợ chồng ông muốn sửa sang, xây dựng lại nhà để sử dụng
nhưng ông Đ ngăn cản và tiếp tục lấn chiếm, sử dụng diện tích đất của ông. Năm
2023 vợ chồng ông đã khởi kiện ra tòa tuy nhiên do ông T đi làm xa không tham
gia tố tụng được nên đã rút đơn khởi kiện.
Nay vợ chồng ông muốn chuyển nhượng lại thửa đất này cho người khác
nhưng gia đình ông Đ cố tình gây khó khăn, cản trở nên ông khởi kiện, buộc vợ
chồng ông Nguyễn Đ, bà Huỳnh Thị H phải tháo gỡ các công trình trên đất gồm
một phần chuồng heo, chuồng bò, nền xi măng để trả lại diện tích 27,7m đất lấn
chiếm tại thửa đất số 36, tờ bản đồ 19 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số CI 042511 ngày 07/12/2017 (diện tích, kích thước thống nhất theo trích đo
hiện trạng).
* Bị đơn ông Nguyễn Đ trình bày:
Cha mẹ ông là Nguyễn M (mất năm 2013), bà Hồ Thị L (mất năm 2014) có
tất cả 05 người con là Nguyễn T4 (liệt sỹ đã mất không nhớ năm nào, khi mất chưa
có vợ con), Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị T5, Nguyễn Đ và Nguyễn Vinh .
Khi ông lập gia đình cha mẹ cho đất cất nhà, làm chuồng bò để sử dụng sát
vách nhà của cha mẹ, có bề ngang mặt tiền là 8m, dài hết thửa đất. Cha mẹ không
3
làm giấy tờ cho chỉ cho miệng, đến nay vợ chồng ông vẫn chưa làm thủ tục để Nhà
nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Việc cha mẹ làm di chúc cho chị gái là Nguyễn Thị T3 toàn bộ căn nhà cấp
4 và đất của cha mẹ ông không được biết, tuy nhiên bề ngang căn nhà cũ của cha
mẹ chỉ có 3m nên việc UBND cấp Giấy chứng nhận cho bà T3 với diện tích 150m²
là không đúng, ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất của ông. Ông đã xây dựng chuồng
bò cách đây 20 năm, trồng cây dừa trên đất cha mẹ cách đây 40 năm nên không
đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì không có căn cứ.
Ngày 18/9/2024, ông có đơn phản tố yêu cầu hủy Giấy chứng nhận QSD đất
số CI 042511, thửa đất số 36, tờ bản đồ 19, diện tích 150m² cấp cho bà Nguyễn Thị
T3, đã tặng cho ông Lê Ngọc T vì việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất xâm phạm
đến đất gia đình ông đang sử dụng, ông không xác định được diện tích đất của gia
đình ông bao nhiêu vì chưa đo đạc để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê C, bà Nguyễn Thị T3 trình
bày: Ông C, bà T3 trình bày có cùng nội dung như nguyên đơn anh Lê Ngọc T đã
trình bày. Vợ chồng ông C, bà T3 đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
anh T.
Tại Bản án dân s sơ thẩm số 29/2026/DS-ST ngày 21/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vc 12 - Đắk Lắk, đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39;
Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Điều 5, 6 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng
thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp
nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân”;
Điều 12, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí,
lệ phí Tòa án;
Điều 646, 647, 648, 649, 650, 652, 653, 657 Bộ luật dân sự 2005; Điều 166
Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 12, 99, 106, 166, 170 Luật Đất đai năm 2013; Điều 91, 137 Luật Đất
đai năm 2024.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc T;
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Đ, bà Huỳnh Thị H phải tháo dỡ, di dời các công
trình trên đất gồm một phần chuồng heo (1,9m²), chuồng bò (10,3m²), nền bê tông
xi măng (10m²), phần đất nền 5,5m², trả lại tổng cộng diện tích 27,7m² đất thuộc
thửa đất số 36, tờ bản đồ số 19, diện tích 150m² tại khu phố P, phường P, tỉnh Đắk
Lắk (Theo trích đo hiện trạng kèm theo).
4
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Đ, bà Huỳnh Thị H phải chấm dứt hành vi cản
trở quyền sử dụng thửa đất số 36, tờ bản đồ số 19, diện tích 150m², loại đất ở tại
nông thôn (ONT) tại khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk - đã được UBND huyện
Đ (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 042511 ngày 07/12/2017 cho
ông Lê C, bà Nguyễn Thị T3; đăng ký biến động tặng cho ông Lê Ngọc T ngày
25/3/2022.
2. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Nguyễn Đ về việc hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 042511 do UBND huyện Đ cấp ngày
07/12/2017 cho ông Lê C, bà Nguyễn Thị T3.
3. Về án phí và chi phí thẩm định:
+ Bị đơn ông Nguyễn Đ, bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn
đồng) án phí DS-ST, đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0003501 ngày 16/10/2024
của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa (nay là Cơ quan thi hành án dân
sự tỉnh Đắk Lắk).
Hoàn trả ông Lê Ngọc T số tiền tạm ứng án phí 1.250.000 đồng (một triệu
hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006932 ngày 20/6/2023
của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa – nay là Cơ quan thi hành án dân
sự tỉnh Đắk Lắk.
+ Về chi phí định giá, thẩm định: Bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí định giá,
thẩm định, đo đạc, đo đạc lại tài sản tranh chấp là 10.000.000đ (mười triệu đồng).
Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí nên ông Nguyễn Đ, bà Huỳnh Thị H phải hoàn
trả cho ông Lê Ngọc T 10.000.000đ (mười triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành
án cho các đương sự theo quy định pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/5/2026, bị đơn ông Nguyễn Đ có đơn kháng
cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 29/2026/DS-ST ngày 21/5/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 12 - Đắk Lắk
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Lê Ngọc T giữ nguyên yêu cầu
khởi kiện; bị đơn ông Nguyễn Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa trình bày
ý kiến xác định: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng
như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ đúng các
quy định của pháp luật tố tụng dân sự; về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị
Hội đồng xét xử: căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận
kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đ và giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 29/2026/DS-
ST ngày 21/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đắk Lắk.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, lời trình bày của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử
nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Đ nộp ngày 28/05/2026 trong
thời hạn luật định, đã thực hiện nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo
quy định nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đơn :
[2.1] Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện thửa đất số 36, tờ bản đồ số 19, diện
tích 150m² có nguồn gốc do cụ Nguyễn M và cụ Hồ Thị L quản lý, sử dụng ổn
định. Ngày 21/6/2010, cụ M và cụ L lập di chúc được UBND xã H chứng thực, để
lại căn nhà và phần đất có kích thước 4m x 32m cho bà Nguyễn Thị T3. Sau khi
các cụ chết, căn cứ nội dung di chúc, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 042511 ngày 07/12/2017 cho ông Lê C và bà
Nguyễn Thị T3. Ngày 25/3/2022, ông C và bà T3 thực hiện thủ tục tặng cho quyền
sử dụng đất cho ông Lê Ngọc T và đã đăng ký biến động theo quy định của pháp
luật. Do đó có đủ căn cứ xác định ông Lê Ngọc T là người sử dụng hợp pháp đối
với thửa đất nêu trên.
[2.2] Ông Nguyễn Đ cho rằng cha mẹ đã cho ông phần đất đang tranh chấp
khi ông lập gia đình và gia đình ông đã sử dụng ổn định trong thời gian dài. Tuy
nhiên, ông Đ không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc được tặng
cho quyền sử dụng đất hoặc chứng minh diện tích tranh chấp thuộc quyền sử dụng
hợp pháp của mình. Mặt khác, nội dung di chúc ngày 21/6/2010 thể hiện toàn bộ
diện tích đất tranh chấp đã được cụ M và cụ L định đoạt cho bà Nguyễn Thị T3.
Việc ông Đ xây dựng chuồng bò, chuồng heo và các công trình khác trên đất chỉ
thể hiện thực trạng sử dụng đất, không làm phát sinh quyền sử dụng đất hợp pháp
đối với diện tích đất đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận cho người khác theo
đúng quy định pháp luật.
[2.3] Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và trích đo hiện trạng xác định phần
diện tích 27,7m² đang có tranh chấp nằm trong phạm vi thửa đất số 36 đã được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do ông Đ không chứng minh được quyền sử
dụng hợp pháp đối với diện tích đất này nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của ông T, buộc tháo dỡ công trình, trả lại đất và không chấp nhận yêu
cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ, đúng quy định của pháp
luật.
[2.4] Từ những phân tích và nhận định trên, xét thấy không có căn cứ để
chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đ. Xét quan điểm của đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử phúc
thẩm cần giữ nguyên bản án sơ thẩm, là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
6
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên
bị đơn ông Nguyễn Đ phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp
luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đ. Giữ nguyên Bản án
dân sự sơ thẩm số 29/2026/DS-ST ngày 21/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
12 - Đắk Lắk.
2. Áp dụng Điều 646, 647, 648, 649, 650, 652, 653, 657 Bộ luật dân sự 2005;
Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12, 99, 106, 166, 170 Luật Đất đai năm
2013; Điều 91, 137 Luật Đất đai năm 2024; Điều 12, 26, khoản 1 Điều 29 Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
Tuyên xử:
2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Ngọc T.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Đ, bà Huỳnh Thị H phải tháo dỡ, di dời các công
trình trên đất gồm một phần chuồng heo (1,9m²), chuồng bò (10,3m²), nền bê tông
xi măng (10m²), phần đất nền 5,5m², trả lại tổng cộng diện tích 27,7m² đất thuộc
thửa đất số 36, tờ bản đồ số 19, diện tích 150m² tại khu phố P, phường P, tỉnh Đắk
Lắk (Theo trích đo hiện trạng kèm theo).
Buộc bị đơn ông Nguyễn Đ, bà Huỳnh Thị H phải chấm dứt hành vi cản trở
quyền sử dụng thửa đất số 36, tờ bản đồ số 19, diện tích 150m², loại đất ở tại nông
thôn (ONT) tại khu phố P, phường P, tỉnh Đắk Lắk - đã được UBND huyện Đ (cũ)
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 042511 ngày 07/12/2017 cho ông
Lê C, bà Nguyễn Thị T3; đăng ký biến động tặng cho ông Lê Ngọc T ngày
25/3/2022.
2.2. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Nguyễn Đ về việc hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 042511 do UBND huyện Đ cấp ngày
07/12/2017 cho ông Lê C, bà Nguyễn Thị T3.
3. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn phải chịu toàn bộ
chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp là 10.000.000đ (mười
triệu đồng). Nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí nên ông Nguyễn Đ, bà Huỳnh Thị
H phải hoàn trả cho ông Lê Ngọc T 10.000.000đ (mười triệu đồng).
4. Về án phí:
7
4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Nguyễn Đ, bà Huỳnh Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm, đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0003501 ngày
16/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa (nay là Thi hành án
dân sự tỉnh Đắk Lắk).
Hoàn trả ông Lê Ngọc T số tiền tạm ứng án phí 1.250.000 đồng (một triệu
hai trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0006932 ngày 20/6/2023
của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh
Đắk Lắk).
4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Đ phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự
phúc thẩm là 300.000 đồng mà ông Nguyễn Đ đã nộp theo biên lai thu số 0006665,
ngày 10/6/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân s thì được người thi hành án dân s, người phải thi hành án dân s có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành
án dân s; Thời hiệu thi hành án được thc hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân s.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán - chủ toạ phiên toà
-TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đăk Lăk;
-TAND khu vc 12 – Đắk Lắk; (đã ký)
-THADS tỉnh Đắk Lắk;
-Các đương s;
-…………………………. Nguyễn Thị Nhung
-Lưu.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 443/2026/DS-PT Bản án số 443/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 443/2026/DS-PT Bản án số 443/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất