Bản án số 79/2026/DS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 79/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 79/2026/DS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 79/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M - Nguyễn Thị H - Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 79/2026/DS-PT Bản án số 79/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 79/2026/DS-PT Bản án số 79/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

NHÂN DANH


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Hà.
Các Thẩm phán: Bà Trương Thị Anh và bà Lê Thị Dung.
- Thư phiên tòa: Ông Văn Hưng - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 61/2026/DS-PT ngày 17 tháng 6 năm
2026 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do Bản án
dân sự sơ thẩm số 15/2026/DS-ST ngày 08/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực
7 - Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm s
70/2026/QĐ-PT ngày 20 tháng 7 năm 2026, giữa:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị M, sinh năm 1953; s CCCD:
************; Trú tại: Số A T, P. B, TP .; Nơi ở: Số A, ngõ A L, P. T, TP .
(vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của M: Ông ơng Văn B, sinh năm
1995; địa chỉ: Thôn V, xã S, TP . (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M: Ông Dương Văn M1 -
Luật sư Công ty L, Đoàn luật sư T1; Địa chỉ: Nhà B, ngách I ngõ B Ỷ, P. D, TP .
(có mặt).
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1949; số CCCD: ************; Địa
chỉ: Thôn M, xã N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của H: Trịnh Thị T
Nguyễn Thị Minh H1 - Luật Công ty L1, Đoàn luật tỉnh T; Địa chỉ: E
Đại lộ V, P. H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
Người m chứng: Ông Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1972; Thôn M,
N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
TÒA ÁN NHÂN DÂN

Bản án số: 79/2026/DS-PT
Ngày 12 tháng 8 năm 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất.

- - 
2
Người kháng cáo là bà H bị đơn trong vụ án.

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai lời khai trong quá trình giải quyết vụ
án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:
và Nguyễn Thị H chị em ruột. H nhà gắn với đất diện
tích 962m
2
thuộc thửa số 14, tờ bản đồ 01 tại Thôn M, N, tỉnh Thanh Hóa
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD đất) số A494415 do
UBND huyện T cấp ngày 20/12/1990 mang tên bà H.
Năm 1996, H thế chấp nhà đất cho Ngân hàng vay tiền, đến hạn trả nợ
H không khả năng trả. Năm 1998 H đnghị trả nợ cho Ngân hàng
thay bà H và bà H đồng ý bán nhà đất trên cho bà. Bà đã trả cho Ngân hàng thay
cho H vốn lãi 9.805.000đ. Ngày 25/4/1998 H lập Giấy bán nhà cho
với giá 10.000.000đ, người làm chứng ông Nguyễn Văn H3 em ruột của
bà. Đến năm 2023, yêu cầu H làm thủ tục chuyển quyền sdụng đất theo
Giấy bán nhà ngày 25/4/1998 và giao nhà, đất cho bà nhưng bà H không đồng ý.
Nay khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận hiệu lực của hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy bán nhà ngày 25/4/1998. Buộc
H thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất cho bà, diện tích 962m
2
đất tại
thôn M, xã N, tỉnh Thanh Hóa và phải giao trả cho bà nhà đất nêu trên.
Tại phiên tòa thẩm, thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án
công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Giấy
bán nhà ngày 25/4/1998; Yêu cầu H thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng
đất cho bà ½ diện tích 903,2m
2
diện tích 451,6m
2
(trong đó: 125m
2
đất
326,6 m
2
đất trồng cây lâu năm); Yêu cầu H phải giao trả cho diện tích
451,6m
2
trên. Bà tnguyện không yêu cầu đối với ½ diện tích đất còn lại mà đ
lại cho bà H, coi như công sức quản lý đất.
Theo bản tự khai lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn
Nguyn Th H trình bày:
Thửa đất số 14, tờ bản đồ số 01, diện ch 962m
2
tại Thôn M, N, tỉnh
Thanh Hóa theo GCNQSD đất số A494415 do UBND huyện T cấp ngày
20/12/1990 mang tên bà (đo đạc thực tế hiện nay là diện tích 903,2m
2
) có nguồn
gốc mua từ năm 1989 từ tiền của bố đẻ cho. Năm 1996 bà thế chấp
nhà đất trên để vay 9.000.000đ của Ngân hàng. Năm 1998, M thay bà trả nợ
cho Ngân hàng số tiền 9.805.000đ, bà M giữ GCNQSD đất trên của bà.
Sau đó, giữa và M phát sinh mâu thuẫn nên M yêu cầu viết
Giấy bán nhà để đảm bảo việc bà M trả nợ thay cho bà. Từ năm 1998 đến nay bà
vẫn quản sử dụng nhà, đất trên. Năm 2023 M yêu cầu trả nhà, đất
nhưng bà không đồng ý, vì bà chỉ bán nhà cho bà M, không bán đất.
Nay M khởi kiện, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của M.
đồng ý trả cho M số tiền hơn 9.600.000đ và lãi theo quy định của pháp luật.
yêu cầu bà M phải trả cho G đất M đang giữ của bà. yêu cầu
3
Tòa án xem xét giao dịch mua bán nhà giữa bà M và bà vào năm 1998 là vô hiệu
do giả tạo nhằm che giấu hợp đồng vay tiền.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2026/DS-ST ngày 08/5/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa đã quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của M. Công nhận hiệu lực của Giấy bán nhà ngày 25/04/1998 giữa H
M về việc H chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho M thửa đất s14,
tờ bản đồ số 01, tại thôn M, N, tỉnh Thanh Hóa. Buộc bà H tiếp tục thực hiện
hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất đối với ½ diện tích 451,6m
2
(trong
đó: 125m
2
đất ở và 326,6 m
2
đất trồng cây lâu năm). Diện tích đất được giới hạn
bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,15 tại đồ kèm theo Bản án. M quyền liên hệ
với quan thẩm quyền đlàm các thủ tục để được cấp GCNQSD đất diện
tích 451,6m
2
. Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền
kháng cáo.
Ngày 22/5/2026, H đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M; yêu cầu bà M trả cho bà G đất hiện bà M
đang giữ của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm: H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, xuất trình
tài liệu chứng cứ mới là đơn đề nghị của ông Nguyễn Văn H4 chồng bà H khẳng
định nhà đất đang tranh chấp nêu trên tài sản chung của vợ chồng. H thay
đổi ý kiến, thừa nhận điều này. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
H đnghị hủy bản án thẩm, giao hồ cho cấp thẩm giải quyết lại theo
hướng bác đơn khởi kiện của bà M, tuyên bố hợp đồng vô hiệu do giả tạo.
Bà M vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Bà M người bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của M trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không
đồng ý yêu cầu kháng cáo của H, đề nghị tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên
bản ản sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư phiên tòa
thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Những người tham gia tố tụng đã thực
hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận nhận yêu cầu kháng cáo của H. Căn cứ Điều 308
Điều 310 của BLTTDS, hủy Bản án dân sự thẩm số 15/2026/DS-ST ngày
08/5/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, giao hồ cho tòa án
cấp thẩm giải quyết lại theo thủ tục thẩm. H không phải chịu án phí
Dân sự phúc thẩm.

[1] Về hình thức: H kháng cáo trong thời hạn luật định, thuộc trường
hợp được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm. Do đó, cấp phúc thẩm thụ lý giải
quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của BLTTDS.
[2] Về phạm vi: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải
quyết về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 962m
2
đất.
Trong quá trình giải quyết ván, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết công
4
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ½ diện tích đất theo hợp
đồng, cụ thể 451,6m
2
. Cấp thẩm giải quyết trong phạm vi đương sự yêu
cầu là đúng quy định tại khoản 1 Điều 5 của BLTTDS.
[3] Về nội dung: Nhà đất đang tranh chấp thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số
01 tại thôn M, N, tỉnh Thanh Hóa theo GCNQSD đất số A494415 do UBND
huyện T cấp ngày 20/12/1990 mang tên bà H, bà H khai có ngun gc bà mua t
tin riêng ca và ca b đẻ cho t năm 1989. Ngày 25/4/1998 H lập
Giấy bán nhà, với nội dung “Tôi Nguyễn Thị H có ngôi nhà cấp 4 bốn gian cùng
diện tích đất thổ 916m
2
, tôi bán ngôi nhà này cho M giá 10.000.000đ”,
đồng thời đồng ý giao bản chính GCNQSD đất diện tích 962m
2
đất cho M,
được thể hiện tại tờ giấy do H ghi: “Thân gửi P. Chị không về được, như chị
đã dặn em dạo trước đây, dì M về Thanh Hóa thanh toán số nợ cho chị, em giao
trích lục đất cho chị ấy hộ chị nhé”. Việc M giữ bản chính GCNQSD đất của
H xuất phát từ việc bà H thế chấp nhà đất cho Ngân hàng đ bảo đảm khon
n bà H vay, bà M đã thay H trả cho Ngân hàng gốc 9.000.000đ và lãi
805.000đ (có ghi nhận tại sổ theo dõi cho vay, thu nợ của Ngân hàng).
Tại cấp thẩm H trình bày M trả tiền cho ngân hàng M đã
cầm hồ do ngân hàng trả lại trong đó GCN. Do tôi làm ô sin không về
được nên tôi phải viết giấy cho cán bộ ngân hàng thì họ mới cho M trả tiền”;
“Tôi đồng ý giao GCNQSD đất cho bà M”. Như vậy thể khẳng định việc
H viết Giấy bán nhà ngày 25/4/1998 và việc bà giao Giấy CNQSD đất cho bà M
giữ là hoàn toàn tự nguyện.
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm phía H thay đổi lời khai cho rằng
nhà đất đang tranh chấp tài sản chung của vchồng ông H4; xuất
trình tài liệu, chứng cứ mới văn bản đề nghị của ông Nguyễn Mạnh H5 trình
bày về việc nhà đất trên là tài sản có được từ việc vợ chồng ông H5 H bán
nhà đất tại Đ để mua vào năm 1989, ông để cho H và các con còn ông về
sống trên đất của bố mẹ đẻ ông tại T để tiện chăm c bố mẹ. Việc H thế
chấp nhà đất trên để vay tiền Ngân hàng cũng như việc bà H bán nhà cho M,
H không nói với ông nên ông không biết. Ông cũng chưa từng đồng ý cho
H chuyển nhượng thửa đất trên. H giao nộp chứng cứ Quyết định số 07
ngày 10/11/1988 của Giám đốc nghiệp R thể hiện chồng Nguyễn
Mạnh H5 03 con chung Nguyễn Mạnh H2 sinh năm 1972; Nguyễn Thị
S sinh năm 1975 Nguyễn Mạnh H6 sinh năm 1983. Tại phiên tòa phúc thẩm
ông H2 con ông H5H khai từ khi bố mẹ mua đất làm nhà tại thôn M đến nay
ông H2 không lấy vvà vẫn cùng mẹ, cùng trồng cây cối trong vườn, bảo
quản tài sản nhà đất trên. Như vậy ông H5 ông H2 những người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, cần được tham gia tố
tụng để trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình.
Việc ông H5bà H chung sống với nhau từ trước năm 1987 và có 3 con
chung là hôn nhân thực tế. Tòa cấp thẩm chưa đưa ông H5, ông H2 vào tham
gia tố tụng, chưa xác minh làm rõ nguồn gốc đất, thời điểm hình thành quyền s
5
dụng đất, chế độ tài sản của vợ chồng ông H5 và H; công sức đóng góp, duy
trì, tôn tạo tài sản của ông H2 và việc H xác lập giao dịch với M thuộc
trường hợp định đoạt tài sản chung vợ chồng hay không. Đây những vấn đề
cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó căn cứ Điều 308
Điều 310 của BLTTDS hủy bản án thẩm, giao hồ vụ án cho cấp thẩm
giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKS là có căn cứ
[4] Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14, miễn án phí DSPT cho bà H.
Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 308; Điều 310 của BLTTDS. Điểm đ khoản 1
Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
Xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị H. Hủy
toàn bộ Bn án dân s thẩm s 15/2026/DS-ST ngày 08 tháng 5 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân
dân khu vực 7- Thanh Hóa giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
2. Về án phí: Nguyễn Thị H được miễn án phí Dân sự phúc thẩm.
Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác sẽ được xác định lại khi
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tnh TH;
- VKSND KV 7- TH;
- Đương sự (theo đ/c);
- TAND KV7- TH (kèm HSVA);
- Lưu HSVA; VP.

THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA

Ngô Th
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 79/2026/DS-PT Bản án số 79/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 79/2026/DS-PT Bản án số 79/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất