Bản án số 986/2026/DS-PT ngày 12/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 986/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 986/2026/DS-PT ngày 12/08/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 986/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Huỳnh Văn V, bà Lê Thị Thu V1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 986/2026/DS-PT Bản án số 986/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 986/2026/DS-PT Bản án số 986/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 986/2026/DS-PT
Ngày: 12.8.2026
V/v “Tranh chấp hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng
và hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa:Hà Thị Phương Thanh
Các thẩm phán: Lê Thị Minh Trang
Mạc Thị Chiên
- Thư phiên tòa: Thị Trinh Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Dương Thị
Ngọc Bích - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ lý số 944/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2026 về
việc “Tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp đồng tín dụng và hợp
đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2026/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1111/2026/QĐ-PT ngày
22 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Văn V, sinh năm 1969 (có mặt)
Lê Thị Thu V1, sinh năm 1968 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Số F, ấp M, xã N, thành phố Cần T.
Đại diện hợp pháp cho nguyên đơn: Yến N. Địa chỉ: Lầu A, số D,
đường C, phường C, thành phố Cần Thơ (có mặt)
2
- Bị đơn: Ngân hàng H. Địa chỉ trụ sở chính: Tầng D, Tòa nhà N, đường H,
phường Y, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Xuân K, sinh năm 1979 - Phó
giám đốc Ngân hàng H, Chi nhánh S. Địa chỉ: Số F, đường V, phường P, thành
phố Cần Thơ (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Ngô Văn P, sinh năm 1958 (có mặt)
2. Bà Huỳnh Thị V2, sinh năm 1961 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số B, ấp M, xã N, thành phố Cần T.
Đại diện hợp pháp cho Huỳnh Thị V2: ông NVăn P - Theo Giấy ủy
quyền ngày 04/3/2026 (có mặt).
3. Ông Trịnh An B, sinh năm 1975 (có mặt)
4. Bà Lê Thị N1, sinh năm 1978 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Số A, ấp M, xã N, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo:
1. Ông Huỳnh Văn V, bà Lê Thị Thu V1 là nguyên đơn.
2. Ông Trịnh An B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Huỳnh Văn V và bà Thị Thu V1 trình bày nội dung
yêu cầu khởi kiện như sau: Vào khoảng tháng 12/2011, vợ chồng ông, nhu
cầu vay tiền 60.000.000 đồng để sản xuất và do quen biết với ông Ngô Văn P, thời
điểm đó Phó chủ tịch y ban M, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (cũ), do ông P quen
biết nhiều cán bộ tín dụng, Ngân hàng nên thể giúp ông vay được vốn Ngân
hàng H, Chi nhánh S. Sau đó, ông P kêu vợ chồng ông bà đưa bản gốc Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất của ông bà, để ông P liên hệ với Ngân hàng để làm thủ tục
thế chấp vay vốn và mấy ngày sau đó thì ông P kêu vợ chồng ông đến Ngân
hàng để hnhận số tiền vay 60.000.000 đồng. Do thiếu hiểu biết pháp
luật tin tưởng ông P, ng như cán bộ Ngân ng nên ông tên o các
Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất mà Ngân hàng soạn sẵn
nhận số tiền vốn vay 60.000.000 đồng, không xem nội dung các Hợp đồng
và các văn bản của Ngân hàng kêu ký tên vào. Đến năm 2016 thì ông P bị Cơ quan
điều tra Công an tỉnh S (cũ) khởi tố về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và bị Tòa án
nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo Bản án số 08/2016/HSST ngày 05/4/2016 thì
3
ông bà mới biết mình người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình
sự, do ông P đã lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông để vay số tiền
của Ngân hàng đến 200.000.000 đồng, không phải vay 60.000.000 đồng như ông P
đã nói với ông bà. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 224/11/HĐTC ngày
19/12/2011 mà ông, bà đã ký là không phù hợp với ý chí, tự nguyện của ông bà, có
sự câu kết giữa ông P với cán bộ tín dụng của Ngân hàng đlừa dối ông để
vay tiền nhiều hơn số tiền thực tế ông đã nhận, làm ảnh hưởng đến quyền lợi
hợp pháp của ông bà. Vì vậy, ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa giải quyết:
1. Tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 224/11/HĐTC ngày
19/12/2011 được ký kết giữa ông bà với Ngân hàng H, chi nhánh S vô hiệu.
2. Yêu cầu Ngân hàng H trả lại cho ôngBản gốc Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số D0765350, diện tích 5.860m
2
, tại thửa số 316, tờ bản đồ số 02,
tọa lạc tại ấp M, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
3. Ông bà đồng ý trả lại số tiền vốn vay 60.000.000 đồng và tiền lãi suất theo
quy định của pháp luật từ ngày 20/12/2011 đến ngày 05/4/2016 cho Ngân hàng.
Đối với yêu cầu độc lập của ông P yêu cầu ông nghĩa vụ trả lại cho
ông số tiền vốn gốc vay đã nhận 200.000.000 đồng tiền lãi theo các biên nhận
đã nhận tiền do ông P cung cấp thì ông không đồng ý, thực tế ông chỉ
nhận số tiền vay 60.000.000 đồng, nên chỉ đồng ý tr lại cho ông P số tiền
60.000.000 đồng tiền lãi suất theo quy định của pháp luật từ ngày 20/12/2011
đến ngày 05/4/2016.
Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông V, V1, bđơn Ngân hàng H
ý kiến yêu cầu phản tố như sau: Ngân hàng với ông Ngô Văn P thỏa thuận,
kết Hợp đồng tín dụng số 224.06/11/HĐTD ngày 20/12/2011. Ngân hàng cho
ông P vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất cho vay trong
hạn 1,8%/tháng, lãi suất quá hạn bằng với lãi suất trong hạn x 150% lãi suất
cho vay Ngân hàng được quyền điều chỉnh lãi suất theo thị trường, theo thông báo
của Ngân hàng cho khách hàng vay, mục đích vay là nuôi cá tra Công nghiệp.
Để đảm bảo trả nợ của Hợp đồng tín dụng nêu trên thì các bên thỏa thuận, ký
kết các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 224/11/HĐTC
ngày 19/12/2011. Tài sản thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 5.860m
2
, tại
thửa số 316, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp M, N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (cũ)
theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0765350 của ông V, V1 đứng tên
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 225/11/HĐTC ngày
19/12/2011. Tài sản thế chấp là các Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
4
diện tích 5.425,8m
2
, tại thửa số 900, diện tích 3.764,5m
2
, tại thửa số 310, cùng
tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp M, N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (cũ) Quyền sử
dụng đất và tài sản gắn liền với đất có diện tích 1.163m
2
, tại thửa số 242, tờ bản đồ
số 06, tọa lạc tại ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (cũ) của ông Trịnh An B, bà
Lê Thị N1 đứng tên, được cấp Giấy chứng nhận cùng ngày 18/10/2011.
Đến nay thì số tiền vốn gốc ông P n nợ lại Ngân hàng số tiền
295.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày xét xử thẩm 1.408.275.000
đồng. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu phản tố, yêu cầu ông P thanh toán số tiền vốn
lãi nêu trên còn nợ lại Ngân hàng, cũng như tiền lãi tiếp tục phát sinh cho đến
khi thanh toán xong toàn bộ số tiền vốn, lãi vay theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã
kết. Trường hợp ông P không thanh toán hoặc không có khả năng thanh toán số
tiền nợ nêu trên cho Ngân hàng thì yêu cầu xử tài sản thế chấp theo các Hợp
đồng thế chấp tài sản nêu trên mà giữa các bên thỏa thuận, ký kết.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông V, V1 t Ngân hàng
không đồng ý, bởi vì, việc thỏa thuận, ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
số 224/11/HĐTC ngày 19/12/2011 giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, được công
chứng đăng thế chấp với quan Nhà nước thẩm quyền đúng theo quy
định pháp luật. Còn việc thỏa thuận cho mượn Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của nguyên đơn ông V, V1 với ông P để thế chấp vay tiền Ngân hàng việc
thỏa thuận vay tiền giữa hai bên ông V, V1 với ông P do các bên tự thỏa thuận
với nhau, Ngân hàng không biết và không có liên quan.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan lần lượt trình bày và yêu cầu:
- Ông Ngô Văn P trình bày yêu cầu: Vào năm 2011, ông Huỳnh Văn V
nhờ người bà con của ông V gặp ông nhờ làm hồ sơ vay vốn, do thời điểm này ông
có dự án nuôi cá tra, nên hai bên thỏa thuận nếu ông V đồng ý vay vốn thì phải đưa
GCNQSDĐ cho ông mượn để làm hồ sơ thế chấp để vay vốn của Ngân hàng và vợ
chồng ông V đã đồng ý làm hồ nộp cho Ngân hàng. Sau khi làm hồ sơ thế chp
xong và vay được tiền thì vào ngày 20/12/2012, ông đã đưa cho ông V vay lại số
tiền 60.000.000 đồng và hai bên có làm biên nhận. Đến năm 2015, vợ chồng ông V
đến gặp ông để hỏi vụ ông mượn Giấy đất của vợ chồng ông V để vay tiền
Ngân hàng 200.000.000 đồng yêu cầu ông trả tiền, nên vào 26/11/2015 ông đã
đưa cho vợ chồng ông V vay số tiền 90.000.000 đồng và hai bên có làm biên nhận.
Tiếp tục đến ngày 06/01/2016, ông đã đưa cho vợ chồng ông V vay số tiền
50.000.000 đồng hai bên làm biên nhận. Tổng cộng 03 lần, ông đã đưa cho
vợ chồng ông V, V1 vay tổng cộng với stiền 200.000.000 đồng, tương ứng
với số tiền vốn vay ông V, V1 đã đưa Giấy đất cho ông mượn để thế chấp
5
vay tiền của Ngân hàng. Nay ông yêu cầu ông V, bà V1 có nghĩa vụ trả lại cho ông
số tiền vốn gốc vay đã nhận 200.000.000 đồng tiền lãi theo biên nhận đã nhận
tiền, để ông thanh toán cho Ngân hàng giải chấp Giấy đất nêu trên trả lại cho
ông V, bà V1.
Đối với Giấy đất của ông Trịnh An B, Thị N1: Vào năm 2011, thì ông
B đưa cho ông mượn Giấy đất đthế chấp cho Ngân hàng theo Hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 225/11/HĐTC ngày 19/12/2011, để vay
số tiền 200.000.000 đồng. Sau đó, ông đã đưa số tiền vay cho ông B 105.000.000
đồng, còn phần của ông vay 95.000.000 đồng và ông B đã tự liên hệ để thanh toán
số tiền vốn, lãi vay cho Ngân hàng để lấy lại Giấy đất nhưng không được nên đến
ngày 19/6/2015, ông B yêu cầu ông trả số tiền vay 105.000.000 đồng lại cho ông
B hai bên làm biên nhận. vậy, Ngân hàng yêu cầu xử phát mãi tài
sản thế chấp Quyền sử dụng đất của ông B, N1 để thanh toán số tiền vốn, lãi
vay của ông đã vay, nên ông yêu cầu ông B trả lại cho ông số tiền vốn gốc vay đã
nhận 105.000.000 đồng tiền lãi theo biên nhận đã nhận tiền ngày 19/6/2015, để
ông thanh toán cho Ngân hàng và ông giải chấp Giấy đất trả lại cho ông B, bà N1.
- Huỳnh Thị V2 (vợ ông P) vắng mặt không có văn bản trả lời ý kiến.
- Ông Trịnh An B và bà Lê Thị N1 cùng trình bày ý kiến: Vào năm 2011, thì
vợ chồng ông đưa cho ông P mượn Giấy đất để thế chấp cho Ngân hàng theo
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 225/11/HĐTC ngày
19/12/2011, để vay số tiền 200.000.000 đồng. Sau đó, ông P đưa cho vợ chồng
ông số tiền vay 105.000.000 đồng, hai bên làm biên nhận vào ngày 19/5/2012.
Đến ngày 12/8/2013, ông B đã tự liên hệ với cán bộ Ngân hàng thanh toán số tiền
vốn vay 105.000.000 đồng xong, nhưng do chưa trả đủ số tiền vốn vay tiền lãi
nên Ngân hàng không đồng ý trả lại Giấy đất. vậy, yêu cầu của ông P yêu cầu
ông trả số tiền vay 105.000.000 đồng tiền lãi vay cho đến nay theo Biên nhận
ngày 19/6/2015 thì v chồng ông bà không đồng ý, đã trả xong số tiền vay
105.000.000 đồng cho Ngân hàng, chỉ còn nợ lại tiền lãi 44.698.500 đồng, phn
tiền vốn vay còn nlại 95.000.000 đồng tiền lãi phần nợ của ông P. Đối với
Biên nhận ngày 19/6/2015 với stiền vay 105.000.000 đồng ông P cung cấp
cho Tòa án thì ông không biết tại sao có ông tên, do thời gian lâu quá hai
bên chỗ quen biết, nên khi ông P đưa Biên nhận nhờ ông thì ông tên,
thực tế ông, không nhận số tiền 105.000.000 đồng vào ngày 19/6/2015 của
ông P.
6
Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử thẩm công khai.
Tại Bản án sơ thẩm số 40/2026/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 5 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn V,
Lê Thị Thu V1 đối với bị đơn Ngân hàng H.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Ngân hàng H.
2.1. Buộc ông Ngô Văn P nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng H số tiền
vốn vay và lãi vay trong hạn, lãi vay quá hạn tính đến hết ngày 26/3/2026 của Hợp
đồng tín dụng số 224.06/11/HĐTD ngày 20/12/2011 với tổng số tiền
1.703.275.000 đồng. Trong đó, tiền vốn vay 295.000.000 đồng, tiền lãi vay
trong hạn là 960.210.000 đồng và tiền lãi vay quá hạn là 448.065.000 đồng.
2.2. Trường hợp bản án hiệu lực pháp luật, Ngân hàng H đơn yêu cầu
thi hành án, nếu ông Ngô Văn P chậm thanh toán số tiền vốn i vay nêu trên
cho Ngân hàng thì còn phải chịu thêm tiền lãi suất chậm trả theo Hợp đồng tín
dụng số 224.06/11/HĐTD ngày 20/12/2011 đã kết tương ứng với thời gian
chậm thi hành án, tính từ ngày 27/3/2026 cho đến khi hoàn tất thanh toán số tiền
vốn, lãi vay nêu trên. Do Hợp đồng tín dụng nêu trên, hai bên có thỏa thuận về việc
điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ, nên lãi suất ông Ngô Văn P phải tiếp
tục thanh toán cho Ngân hàng H cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điu
chỉnh lãi suất của Ngân hàng H.
2.3. Trường hợp bản án hiệu lực pháp luật, ông Ngô Văn P không thanh
toán số tiền vốn và lãi vay nêu trên thì Ngân hàng H được quyền yêu cầu Phòng
Thi hành án dân sự thẩm quyền phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp bảo đảm cho
việc thanh toán số tiền vốn lãi vay của Hợp đồng tín dụng số 224.06/11/HĐTD
ngày 20/12/2011 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền của
bên thứ ba số 224/11/HĐTC ngày 19/12/2011 Hợp đồng thế chấp quyền s
dụng đất và tài sản gắn liền của bên thứ ba số 225/11/HĐTC ngày 19/12/2011.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Ngô Văn P.
3.1. Buộc ông Huỳnh Văn V, bà Lê Thị Thu V1 có nghĩa vụ trả cho ông Ngô
Văn P số tiền vốn và lãi vay tính đến hết ngày 26/3/2026 tổng cộng là 502.010.000
đồng (Năm trăm lẻ hai triệu không trăm mười nghìn đồng). Trong đó, tiền vốn vay
200.000.000 đồng và tiền lãi 302.010.000 đồng.
3.2. Buộc ông Trịnh An B có nghĩa vụ trả cho ông Ngô Văn P số tiền vốn và
lãi vay tính đến hết ngày 26/3/2026 tổng cộng 257.656.875 đồng (Hai trăm năm
7
mươi bảy triệu sáu trăm năm mươi sáu nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng). Trong
đó, tiền vốn vay là 105.000.000 đồng và tiền lãi 152.656.875 đồng.
4. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí thẩm định quyền
kháng cáo của các đương sự.
Ngày 08 tháng 4 năm 2026 ông V, V1 kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp
phúc thẩm xét xử xem xét lại bản án không đồng ý trả cho ông P theo hai biên
nhận số tiền 140.000.000đ, chỉ đồng ý trả 60.000.000đ
Ngày 10 tháng 4 năm 2026 ông B kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
xét xử xem xét lại bản án không đồng ý trả cho ông P 105.000.000đ vì ông B đã trả
cho Ngân hàng. Yêu cầu Ngân hàng điều chỉnh lại lãi suất tính từ ngày vay tháng
11/2011 đến ngày ông B trả cho Ngân hàng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện kháng cáo. Đồng thời
xem xét hủy hợp đồng thế chấp.
- Bị đơn không đồng yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn đề nghị gi
nguyên án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông B vẫn giữ nguyên kháng cáo.
- Ông P vẫn giữ nguyên ý kiến.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
+ Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
+ Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm xem xét các
chứng cứ trong hồ sơ, căn cứ xác định, nguyên đơn ông V, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông B vay tiền từ ông P, đưa giấy đất cho ông P thế
chấp Ngân hàng để vay tiền, ông P cho rằng sau đó ngoài số tiền đưa cho ông V,
ông B năm 2012 thì đưa thêm cho ông 140.000.000đ, đưa cho ông B
105.000.000đ, nhưng chứng cứ ông P cung cấp các biên nhận có sửa chữa năm nên
không khách quan, không căn cứ chấp nhận. Đối với hợp đồng thế chấp thực
hiện đúng quy định nên không có căn cứ hủy. Đề nghị sửa án sơ thẩm chỉ buộc ông
V trả cho ông P 60.000.000đ lãi như cấp thẩm tuyên, ông B chỉ trả lãi cho
ông P cho số tiền 105.000.000đ từ lúc vay đến thời điểm ông B trả Ngân hàng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Thị V2
8
vắng mặt, nhưng có người đại điện nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt
các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của ông Huỳnh Văn V, bà Lê Thị Thu V1:
[2.1] Kháng cáo về hiệu Hợp đồng thế chấp: Qua xem xét các chứng cứ
trong hồ diễn biến tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, sở
xác định: ông Huỳnh Văn V, bà Lê Thị Thu V1 có ký kết hợp đồng thế chấp quyền
sử dụng đất với Ngân hàng H để đảm bảo khoản vay cho ông Ngô Văn P tại Ngân
hàng, việc thế chấp được đăng ký tại quan thẩm quyền, đúng quy định pháp
luật, ông Huỳnh Văn V, Thị Thu V1 cho rằng tại thời điểm ký kết Hợp đồng
thế chấp tài sản nêu trên, do ông thiếu hiểu biết pháp luật bị ông Ngô Văn P
cấu kết với cán bộ tín dụng của Ngân hàng L ông bà là không có căn cứ, bởi lẽ bản
thân ông, bà cũng có vay tiền từ ông P vay Ngân hàng với số tiền 60.000.000 đồng.
Ông V, bà V1 ký hợp đồng phù hợp ý chí của mình nên Hợp đồng có hiệu lực pháp
luật. Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông, tuyên bố Hợp đồng thế chấp quyền sử
dụng đất số 224/11/HĐTC ngày 19/12/2011 hiệu xử hậu quả pháp của
giao dịch dân sự vô hiệu là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Kháng cáo về số tiền phải trả cho ông P:
[2.2.1] Số tiền 60.000.000đ vợ chồng ông nhận của ông P vào ngày
20/12/2012 thì các bên thống nhất nên không xem xét. Đối với số tiền 90.00.000đ
theo biên nhận ngày 26/11/2015 50.000.000đ theo biên nhận ngày 06/01/2016
thì ông V cho rằng không nhận. Thấy rằng, tuy tại kết luận giám định đều xác
định chữ của ông V, V1, nhưng tại đơn yêu cầu độc lập của ông P (bút lục
114) cho rằng: khi các bên thỏa thuận ông V đưa giấy cho ông P đi thế chấp Ngân
hàng thì “ông V vay phải cho ông (P) mượn trong khoản tiền vay, chứ ông (P)
không đi làm dùm”, tức ông V vay 60.000.000đ nhận từ ông P tông P sẽ vay
số tiền nhiều hơn số 60.000.000đ. Do đó, phần giấy ông V thế chấp thì ông P vay
200.000.000đ. Ông P cho rằng ông V sau khi nhận số tiền 60.000.000đ thì một
năm sau ông V gặp ông và yêu cầu ông P1 đưa đủ số 200.000.000đ trên hợp đồng,
thời điểm nhận 60.000.000đ từ Ngân hàng khoảng tháng 12/2012, một năm sau tức
12/2013 nhưng thời điểm này thì ông P đang bị tạm giam (từ ngày 26/7/2013 đến
15/02/2015), đồng thời, ông V không thừa nhận sự việc ông yêu cầu ông P phải
đưa đủ cho ông 200.000.000đ nên lời trình bày của ông P mâu thuẫn. Ông P còn
trình bày thêm sau đó hơn một năm thì ông cũng trả ông V hai lần nhưng làm bn
nhận 2015 và 2016 không phù hợp, sự mâu thuẫn về thời gian, bên cạnh đó,
nếu như ông P cho rằng trả tiền cho ông V thì tại sao không làm biên nhận theo
hướng trả cho ông V làm biên nhận với nội dung ông P nhận giấy đất của ông
9
V, ông V nhận tiền vay của ông P trong khi ông P đã nhận giấy đất của ông V thế
chấp vào tháng 12/2011 nên lại nhận giấy đất không phù hợp, đồng thời biên
nhận sửa chữa tẩy xóa năm không khách quan, không được xem chứng cứ, nên
căn cứ xác định ông V không nhận tiền cho hai biên nhận ông P yêu cầu
năm 2015 và năm 2016. Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông V không đồng ý trả cho
ông P số tiền 140.000.000đ cho hai biên nhận ngày 26/11/2015 06/01/2016
có căn cứ chấp nhận.
[2.2.2] Về số tiền lãi: như nhận định trên thì ông V chỉ vay của ông P
60.000.000đ nên chỉ phải trả lãi trên số tiền 60.000.000đ từ ngày vay đến khi trả
hết nợ là có căn cứ. Cấp sơ thẩm tính tiền lãi 107.460.000đ đối với số tiền
60.000.000đ căn cứ nên giữ nguyên. Ngoài ra, phía ông V, V1 còn phải
chịu tiền lãi tiếp theo với mức lãi suất 13,5% trên số tiền còn nợ kể từ sau ngày xét
xử sơ thẩm (27/3/2026) cho đến khi thanh toán hết nợ.
[3] Xét kháng cáo của ông Trịnh An B:
[3.1] Ông B ông P đều thừa nhận ông B vay ông P số tiền
105.000.000đ, ông B đưa giấy đất cho ông P đi thế chấp vay vốn. Phía ông P yêu
cầu ông B trả tiền theo biên nhận ngày 19/6/2015, thấy rằng, thời điểm vay Ngân
hàng tháng 12/2011 thì số tiền 105.000.000đ ông B không thể nhận vào năm
2015 đối với giấy đất của ông B tông P chỉ vay 200.000.000đ, mặt khác, tại
phiên tòa thẩm, ông B cung cấp biên nhận ngày 19/5/2012 thể hiện ông B nhận
vay của ông P 105.000.000đ, ông P nhận giấy đất của ông B đthế chấp Ngân
hàng phù hợp về mặt thời gian cũng như quá trình thỏa thuận vay giữa hai bên,
bên cạnh đó, qua xem xét biên nhận ngày 19/6/2015 thì có sữa chữa tẩy xóa, ông B
không thừa nhận nên không căn cứ xác định ông B nhận tiền từ ông P vào năm
2015 mà chỉ nhận vào năm 2012 sau khi thế chấp giấy đất cho Ngân hàng và ông P
được ngân hàng giải ngân. Phía ông P cho rằng, khi ông B liên hệ Ngân hàng trả
105.000.000đ nhưng không lấy giấy được ông B gặp ông đòi trả số tiền này
và hai bên làm biên nhận nhưng biên nhận lại ghi nội dung ông B vay của ông P và
thế chấp giấy đất không phù hợp lời trình bày của ông P, ông B cũng xác định
ông không đòi ông P 105.000.000đ ông đã trả Ngân hàng năm 2013, do đó,
không căn cứ xác định ông P đưa cho ông B số tiền 105.000.000đ theo biên
nhận 19/6/2015.
[3.2] Đối với số tiền 105.000.000đ là khoản tiền ông B vay của ông P, ông P
đã vay Ngân hàng 200.000.000đ đưa cho ông B, ông B đưa giấy đất cho ông P để
thế chấp khoản vay. Xét, vào ngày 12/8/2013, ông B đã thanh toán cho Ngân hàng
để lấy giấy đất về nhưng không được Ngân hàng trả giấy, vậy, khoản vay của
10
ông P tại Ngân hàng còn 95.000.000đ, đây là tiền chênh lệch vay thêm của ông P
nên ông P phải nghĩa vụ trả. Khoản tiền 105.000.000đ đáng lẽ ông B trả cho
ông P, ông P sẽ trả cho Ngân hàng ông P đứng tên vay nay ông B trả trực tiếp
cho Ngân hàng, để đảm bảo cho việc vay tiền giữa các bên được giải quyết triệt để
nên cấn trừ tiền 105.000.000đ ông B nhận của ông P vào ngày 19/5/2012, coi như
ông B đã thực hiện xong nghĩa vụ với ông P. Do đó, không căn cứ buộc ông B
trả cho ông P số tiền này. Kháng cáo của ông B được chấp nhận.
[3.3] Về tiền lãi: tính từ ngày 19/5/2012 đến ngày ông P trả cho Ngân ng
12/8/2013 01 năm, 02 tháng, 23 ngày ông B đã trả nên khoản lãi của số tiền
105.000.000đ Ngân hàng không có tính từ khi ông B trả. Biên nhận ngày 19 tháng
5 năm 2012 giữa hai bên đã 1,8%/tháng cao hơn so với mức lãi suất quy
định tại Điều 476 Bộ luật dân snăm 2005. Do đó, mức lãi được tính 150% theo
mức lãi suất bản Ngân hàng N2 (9%/năm) = 13,5%/năm. Cụ thể: 01 năm, 02
tháng, 23 ngày x 105.000.000đ x 13,5%/năm = 17.443.000đồng. Buộc ông B trả
cho ông P số tiền lãi này.
[4] Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ
không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chưa đúng một phần về số tiền vay
cũng như khoản tiền ông B trả cho ông P nên sửa lại theo hướng nhận định
trên.
[5] Về chi phí tố tụng:
[5.1] Chi phí thẩm định i sản thế chấp: số tiền 3.900.000 đồng, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn P phải chịu do yêu cầu phản tố của bị
đơn Ngân hàng được chấp nhận. Do Ngân hàng đã nộp tạm ứng nên ông P
nghĩa vụ nộp trả lại số tiền 3.900.000 đồng cho Ngân hàng.
[5.2] Về chi phí giám định chữ ký, chviết: Số tiền 11.056.000 đồng,
nguyên đơn ông Huỳnh Văn V, Thị Thu V1 phải chịu. Do ông P đã nộp tạm
ứng nên ông V, bà V1 có nghĩa vụ nộp trả lại cho ông P.
[6] Về phần án phí:
[6.1] Sơ thẩm:
- Ông V, V1 phải chịu án phí trên stiền gốc (60.000.000 đồng) i
(107.460.000 đồng) trả cho ông P án phí đối với yêu cầu hiệu hợp đồng thế
chấp không được chấp nhận.
11
- Ông P nghĩa vụ chịu án phí trên số tiền trả cho Ngân hàng. Chịu án phí
trên số tiền yêu cầu ông V, ông B trả không được chấp nhận, tuy nhiên là người
cao tuổi nên được miễn.
- Ông B chịu án phí trên số tiền lãi trả cho ông P (17.443.000 đồng).
[6.2] Phúc thẩm: ông V, V1 ông B không phải chịu do kháng cáo
được chấp nhận một phần.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án phí
lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Huỳnh Văn V, bà Lê Thị Thu V1.
- Chấp nhận kháng cáo của ông Trịnh An B.
- Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 40/2026/DS-ST ngày 26 tháng 3
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Cần Thơ.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Văn
V, bà Lê Thị Thu V1 về số tiền vay 60.000.000 đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Ngân hàng H đối với nguyên đơn
ông Huỳnh Văn V, bà Lê Thị Thu V1, ông Ngô Văn P và ông Trịnh An B
2.1. Buộc ông Ngô Văn P nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng H số tiền
1.703.275.000 đồng. Trong đó, tiền vốn vay 295.000.000 đồng, tiền lãi vay
trong hạn là 960.210.000 đồng và tiền lãi vay quá hạn là 448.065.000 đồng.
2.2. Kể từ ngày 26/3/2026 ông Ngô Văn P còn phải tiếp tục chịu thêm tiền
lãi theo mức lãi suất đã tại Hợp đồng tín dụng số 224.06/11/HĐTD ngày
20/12/2011 cho đến khi thanh toán hết nợ.
2.3. Trường hợp ông Ngô Văn P không thanh toán số tiền vốn và lãi vay nêu
trên thì Ngân hàng H quyền yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp bảo đảm
cho việc thanh toán số tiền vốn lãi vay theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất tài sản gắn liền của bên thứ ba số 224/11/HĐTC ngày 19/12/2011 Hợp
12
đồng thế chấp quyền sử dụng đất tài sản gắn liền của bên thứ ba số
225/11/HĐTC ngày 19/12/2011.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Ngô Văn P đối với ông
Huỳnh Văn V, bà Lê Thị Thu V1 và ông Trịnh An B.
3.1. Buộc ông Huỳnh Văn V, bà Lê Thị Thu V1 có nghĩa vụ trả cho ông Ngô
Văn P số tiền tính đến hết ngày 26/3/2026 167.460.000 đồng (Một trăm sáu
mươi bảy triệu, bốn trăm sáu mươi ngàn đồng). Trong đó, tiền vốn vay 60.000.000
đồng và tiền lãi 107.460.000 đồng. Ông V, bà V1 còn phải trả lãi tiếp theo cho ông
P tính từ ngày 27/3/2026 cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất 13,5%.
3.2. Buộc ông Trịnh An B nghĩa vụ trả cho ông Ngô Văn P số tiền lãi
17.443.000đ (Mười bảy triệu, bốn trăm bốn mươi ba ngàn đồng).
4. Về chi phí tố tụng:
- Ông P có nghĩa vụ trả lại số tiền 3.900.000 đồng cho Ngân hàng H.
- Ông Huỳnh Văn V, Lê Thị Thu V1 có nghĩa vụ trả lại cho ông P số tiền
là 11.056.000 đồng.
5. Về án phí dân sự:
5.1. Sơ thẩm:
- Ông V, V1 phải chịu 8.673.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm
ứng án phí đã nộp 2.100.000 đồng theo biên lai thu số 0000294 ngày 05/5/2025
của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (cũ). Còn lại
số tiền án phí ông V, bà V1 phải tiếp tục nộp là 6.573.000 đồng.
- Ông B phải chịu 872.000 đồng.
- Ngân hàng H được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp 29.830.193 đồng
theo biên lai thu số 0000420 ngày 13/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành
phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng (cũ).
5.2. Phúc thẩm:
- Ông V, V1 được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
Biên lai thu số 0006995 ngày 14 tháng 4 năm 2026 Biên lai thu số 0006376
ngày 08 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ.
- Ông B được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên
lai thu số 0006625 ngày 10 tháng 4 năm 2026 của Thi hành án dân sự thành phố
Cần Thơ.
13
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 4, 6, 7, 8 Điều 36
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 34 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND khu vực 5;
- THADS Tp Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phương Thanh
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 986/2026/DS-PT Bản án số 986/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 986/2026/DS-PT Bản án số 986/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất