Bản án số 988/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 988/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 988/2026/DS-PT ngày 31/07/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 988/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Thái Kim The "“Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản chung, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại” Thái Hoàng Oanh
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 988/2026/DS-PT Bản án số 988/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 988/2026/DS-PT Bản án số 988/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 988/2026/DS-PT
Ngày 31/7/2026
Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài
sản chung, hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất yêu cầu thực
hiện nghĩa vụ về tài sản do người
chết để lại
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Thu Trang
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Ngầu;
Bà Võ Thị Hồng Mai.
- Thư phiên tòa: Thị Mỹ Hương Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Cẩm Chi – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 456/2026/TLPT-DS ngày 08 tháng 6
năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tài sản chung, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất yêu cầu thực hiện nghĩa vụ về tài sản do
người chết để lại”.
Do Bản án dân sự thẩm số 115/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 359/2026/QĐ-PT ngày
09 tháng 7 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Thái Văn P, sinh năm 1967;
2. Bà Thái Kim T18, sinh năm 1977;
Cùng địa chỉ: ấp D, xã D, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: ông Đ Thanh T, sinh năm
1977; địa chỉ: ấp D, xã D, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn:
1. Ông Thái Hoàng O, sinh năm 1957;
2. Bà Võ Thị H, sinh năm 1954;
2
Cùng địa chỉ: khu phố T, phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của ông Thái Hoàng O: Ông Nguyễn Thanh Q,
sinh năm 1989;
Địa chỉ: Số B L, khu phố D, phường L, tỉnh Tây Ninh.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Thái Hoàng O: Luật
Trần Thanh S, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Đinh Ngọc T1, sinh năm 1980; Địa chỉ: khu phố T, phường T, tỉnh
Tây Ninh;
2. Mai Diễm T2, sinh năm 1985; Địa chỉ: khu phố H, phường T, tỉnh
Tây Ninh;
3. Thái Ngọc N, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số F, khu phố H, phường T,
tỉnh Tây Ninh;
4. Ông Thái Hoàng N1, sinh năm 1970; Địa chỉ: Khu phố H, phường T,
tỉnh Tây Ninh;
5. Ông Thái Trung Q1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số G, khu phố H, phường
T, tỉnh Tây Ninh;
6. Bà Thái Thị Ngọc T3, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số G, khu phố H, phường
T, tỉnh Tây Ninh;
7. Ông Thái Chí D, sinh năm 1967; Địa chỉ: Số G, khu phố H, phường T,
tỉnh Tây Ninh;
8. Thái Hương T4, sinh năm 1969; Địa chỉ: Khu phố H, phường T, tỉnh
Tây Ninh;
9. Thái Thị Hồng U, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp T C, T, tỉnh Tây
Ninh;
10. Ông Thái Minh K, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số G, khu phố H, phường
T, tỉnh Tây Ninh;
11. Ông Thái Hoàng D1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Số G, khu phố H, phường
T, tỉnh Tây Ninh;
12. Phạm Thị V, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ A, ấp T, T, tỉnh Tây
Ninh;
13. Ông Minh N2, sinh năm 1985; Địa chỉ: khu phố D, phường T, tỉnh
Tây Ninh;
14. Bà Lê Thị Kiều T5, sinh năm 1987; Địa chỉ: khu phố D, phường T, tỉnh
Tây Ninh;
15. Bà Lê Thị Yến N3, sinh năm 1963; Địa chỉ: Ấp X, xã T, tỉnh Tây Ninh;
16. Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1950; Địa chỉ: Số D, Nguyễn Chí
T6, ấp L, phường H, tỉnh Tây Ninh;
17. Thái Nguyệt Chi L, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số C, Khu phố A,
phường T, tỉnh Tây Ninh;
3
18. Thái Hoàng X, sinh năm 1990; Địa chỉ: Tổ F, ấp S, phường G,
tỉnh Tây Ninh;
19. Ông Thái Hùng C, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số D, Nguyễn Chí T6, ấp L,
phường H, tỉnh Tây Ninh;
20. Ông Thái Trung H1, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ A, ấp X, B, tỉnh
Tây Ninh;
21. Ông Thái Hưng T7, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số D, Nguyễn Chí T6, ấp
L, phường H, tỉnh Tây Ninh;
22. Ông Thái Hoàng P1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số D, Nguyễn Chí T6, ấp
L, phường H, tỉnh Tây Ninh;
23. Thái Hoàng Hồng D2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số D, Nguyễn Chí
T6, ấp L, phường H, tỉnh Tây Ninh;
24. Ông Thái Minh L1, sinh năm 1976; Địa chỉ: p T, T, tỉnh Vĩnh
Long;
25. Thái Thị Mộng T8, sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp T, T, tỉnh Vĩnh
Long;
26. Thái Thị Anh Đ1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp C, phường B, tỉnh
Đồng Nai;
27. Nguyễn Thị Bạch T9, sinh năm 1954; Địa chỉ: Ấp L, xã C, tỉnh Tây
Ninh;
28. Anh Thái Bình Yên Q2, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số F, khu phố H,
phường T, tỉnh Tây Ninh;
29. Anh Thái Bình An V1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp L, C, tỉnh Tây
Ninh;
30. Chị Thái Thị Tuyết H2, sinh năm 1987; Địa chỉ: Số B, khu phố T,
phường L, tỉnh Tây Ninh;
31. Chị Thái Thị Tuyết N4, sinh năm 1996; Địa chỉ: Số F, khu phố H,
phường T, tỉnh Tây Ninh;
32. Thái Kim X2, sinh năm 1953; Địa chỉ: Số F, khu phố H, phường T,
tỉnh Tây Ninh;
33. Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập: Nguyễn
Thị T9, sinh năm 1962; Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã D, tỉnh Tây Ninh;
34. Ông Nguyễn Ngọc T10, sinh năm 1949; Địa chỉ: ấp A, D, tỉnh Tây
Ninh.
Ông T, H, ông Q3, Chi L, bà Mộng T8, anh V1,, Kim X2,
Nguyễn Thị T9 có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Thái Văn P, bà Thái Kim T18.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên toà,
nguyên đơn và người đại diện thống nhất trình bày:
4
Ông P T18 con ruột của ông Thái T11 (sinh năm 1937, mất
năm 2016) Phan Thị T12 (sinh năm 1943, mất m 2021). Năm 1976, Ủy
ban nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh trưng dụng phần đất diện tích 7,8ha,
tọa lạc tại thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây Ninh đxây dựng trụ sở quan nhà
nước khu dân cư. Do không đồng ý với việc trưng dụng này, ông Thái
T11 đã ủy quyền cho ông Thái Hoàng O khiếu nại đến các quan nhà nước
thẩm quyền.
Ngày 24/10/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành Quyết định số
2165/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của ông Thái Hoàng O, theo đó công nhận
quyền sử dụng đất với diện tích 72.372,49m² cho 28 hộ dân buộc các hộ dân
này nghĩa vụ thanh toán tiền sử dụng đất cho gia đình ông Thái Hoàng O.
Riêng phần diện ch thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 18 được công nhận cho
ông Thái Bá T11. Tuy nhiên, do không đồng ý với nội dung Quyết định này, ông
T11 tiếp tục ủy quyền cho ông O khiếu nại nên chưa thực hiện thủ tục đăng
quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 20 nêu trên.
Năm 2016, ông T11 cùng các thành viên trong gia đình khởi kiện ông Thái
Hoàng O tại Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh để yêu cầu chia
tài sản chung số tiền gia đình ông O nhận được theo Quyết định số
2165/QĐ-UBND. Vụ án đã được xét xử theo quy định pháp luật tại Bản án
thẩm số 32/2016/DS-ST ngày 28/6/2016 của Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành
Bản án phúc thẩm số 244/2016/DS-PT ngày 26/9/2016 của Tòa án nhân dân
tỉnh Tây Ninh. Dự kiến sau khi vụ án được giải quyết xong, ông T11 sẽ tiến
hành đăng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 20. Tuy nhiên, trong quá
trình giải quyết phúc thẩm, ngày 07/9/2016, ông Thái Bá T11 đã chết.
Đến năm 2022, ông P T18 đến Văn phòng công chứng để thực hiện
thủ tục thỏa thuận phân chia di sản của cha mẹ ông Thái T11 Phan
Thị T12 đối với phần đất thuộc thửa số 20, theo Văn bản thỏa thuận phân chia di
sản thừa kế số 7547, quyển số 16/2022/TP-CC-SCC/HĐGD ngày 21/6/2022 do
Văn phòng C3 công chứng. Tuy nhiên, khi thực hiện thủ tục đăng quyền s
dụng đất, ông Thái Hoàng O đã ngăn cản với lý do cho rằng diện tích đất này
di sản do cụ Thái Văn L2 và cụ Bùi Thị B để lại, nên yêu cầu chia thừa kế.
Từ khi có Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 24/10/2011, phần đất thuộc
thửa số 20, tờ bản đồ s18 do gia đình ông T11 quản lý, sử dụng ổn định; đến
năm 2015 còn được chính quyền địa phương xây dựng nhà tình thương trên đất.
Do đó, việc ông O cho rằng diện tích đất này là di sản của cụ L2 cụ B để lại
yêu cầu chia thừa kế không căn cứ, xâm phạm quyền lợi ích hợp
pháp của ông P và bà T18.
Nay, ông P và T18 yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 20, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh
Tây Ninh cho ông theo Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 24/10/2011 của
Ủy ban nhân dân tỉnh T.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, nguyên đơn không đồng ý, thửa đất
số 20 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh T công nhận cho ông Thái T11 theo
5
Quyết định số 2165/QĐ-UBND nên không còn tài sản chung của các con,
cháu cụ Thái Văn L2 cụ Bùi Thị B. Đồng thời, thời hiệu khởi kiện yêu cầu
chia di sản thừa kế của cL2 cụ B đã hết; nguyên đơn đã đơn yêu cầu áp
dụng thời hiệu theo quy định pháp luật.
Đối với yêu cầu của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn
Thị T9 thì ông P, bà T18 có ý kiến trình bày như sau:
Ông Thái Bá T11 và bà Phan Thị T12 chỉ có 02 người con là anh Thái Văn
P chị Thái Kim T18. Vào năm 2002 thì ông T11, bà T12 và các con trong gia
đình giấy tay chuyển nhượng cho T9 phần đất ngang 5 mét thuộc một
phần đất thửa số 20, tờ bản đồ số 18; tọa lạc tại: thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây
Ninh; giá chuyển nhượng 75 chỉ vàng 24K; gia đình ông đã nhận đủ tiền.
T9 đã sử dụng phần đất này và hiện nay bà T9 cho ông Bảy T13 thuê bán hoa
kiểng.
Hiện nay ông P, T18 đang tranh chấp đối với ông Thái Hoàng O để
được công nhận phần đất thửa số 20. Nếu được Tòa án công nhận diện tích đất
này thì ông thống nhất chuyển nhượng lại cho T9 phần diện tích đất theo
hợp đồng chuyển nhượng trước đây ông T11, bà T12 đã thực hiện.
Ông thống nhất kết quả đo đạc của Công ty TNHH MTV V2 kết quả
xem xét thẩm định giá tài sản của Hội đồng thẩm định giá tài sản Huyện D;
Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa thẩm lần 1, bị đơn
thống nhất trình bày:
Phần đất thuộc thửa đất số 20, tờ bản đồ số 18 tài sản do cha, mẹ ông
cụ ông Thái Văn L2 (chết năm 1969) và cụ bà Bùi Thị B (chết năm 1978) để lại.
Phần đất này thuộc tổng diện tích 7,8ha tọa lạc tại: thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây
Ninh theo Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2011 của Ủy
ban nhân dân tỉnh T. Cụ ông Thái Văn L2 và cụ bà Bùi Thị B, có tất cả 11 người
con:
1. Thái Thị H3 (chết năm 2004), có chồng Hoàng S1 (đã chết),
tất cả 03 người con gồm: Thái Kim Đ2 (đã chết, chồng bà Đ2 cũng đã chết có 02
người con là Đinh Ngọc T1Mai Diễm T2), Thái Ngọc N, Thái Hoàng Nghi .
2. Ông Thái Minh Q4 (chết năm 1994), vợ Nguyễn Thị X1 (chết năm
2015), tất cả 07 người con gồm: Thái Trung Q1, Thái Ngọc T3, Thái Chí D,
Thái Hương T4, Thái Thị Hồng U, Thái Minh K, Thái Hoàng D1.
3. Ông Thái T11 (chết năm 2016), vợ Phan Thị T12 (chết năm
2021). Ông T11 02 người con là Thái Kim T18 và Thái Văn P.
4. Thái Thị C1 (chết năm 1970), chồng Thái T14 (đã chết),
tất cả 02 người con gồm: Minh K1 (chết năm 2021, vợ tên Phạm Thị V,
có 02 người con tên Lê Thị Kiều T5 và Lê Minh N2), Lê Thị Yến N3.
5. Ông Thái Hoàng L3 (đã chết), không có vợ con.
6. Bà Thái Thị M (đã chết) không có chồng con.
6
7. Ông Thái Hoàng L4 (chết năm 1994), vợ Nguyễn Thị Ngọc Đ, tất
cả 07 người con gồm: Thái Nguyệt Chi L, Thái Hồng C2, Thái T, Thái Hưng
T7, Thái Hoàng P1, Thái Hoàng Hồng D2, Thái Hoàng H4.
8. Ông Thái Bình N5 (chết năm 2009), vợ là Ngọc T15 (đã chết),
tất cả 03 người con gồm: Thái Minh L1, Thái Thị Mộng T8, Thái Thị Anh Đ1.
9. Ông Thái Bình H5 (chết năm 2013), vợ Nguyễn Thị Bạch T9,
tất cả 04 người con gồm: Thái Bình Yên Q2, Thái Bình An V1, Thái Thị Tuyết
H2, Thái Thị Tuyết N4
10. Bà Thái Thị Kim X2;
11. Ông Thái Hoàng O.
Ông O xác nhận gia đình ông đã sử dụng đất từ năm 1975, đến năm 1977
Nhà nước chủ trương thu hồi nên không cho ở, đến khoảng năm 1988 N
nước trả đất lại thì gia đình ông quay lại sinh sống trên đất trong đó ông Thái
T11 cho đến khi ông T11 chết. Trong quá trình sinh sống trên đất thì ông
T11 đã chuyển nhượng đất cho Nguyễn Thị T9 gia đình không biết, đến năm
2011 thì ông mới biết nhưng không tranh chấp; đến năm 2015 ông T11 được
tặng nhà tình thương thì ông đồng ý tên để được xây tặng diện tích căn
nhà ngang 5 mét.
Nay T18 ông P yêu cầu được công nhận phần thửa đất số 20, tờ bản
đồ số 18; tọa lạc tại: khu phố D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây Ninh theo Quyết
định số 2165/QĐ-UBND ngày 24 tháng 10 năm 2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh
T thì ông không đồng ý nguồn gốc đất này của cha mẹ ông để lại chứ
không phải của ông Thái T11. Ông chỉ thống nhất trước đây tên cho
ông T11 ngang 5 mét để cất nhà tình thương; việc ông T11 chuyển nhượng
cho ai thì ông không biết nên nay ông yêu cầu đo đạc lại tổng diện tích đất của
thửa số 20, tờ bản đồ số 18; trừ ra 5 mét đã cho ông T11 xây nhà tình thương,
diện tích còn lại yêu cầu chia thừa kế theo quy định của pháp luật; chia cho 8
người con còn lại của cụ ông Thái Văn L2 và cụBùi Thị B mỗi gia đình một
phần bằng nhau theo giá trị thị trường hiện nay; ông không có tranh chấp đối với
tài sản trên đất.
Ông thống nhất kết quả đo đạc của Công ty TNHH MTV V2 kết quả
xem xét thẩm định giá tài sản của Hội đồng thẩm định giá tài sản Huyện D.
Sau khi vụ án được thụ thẩm lại, bị đơn có ý kiến, trường hợp Tòa án
chấp nhận yêu cầu phản tố nêu trên, thì bị đơn yêu cầu Tòa án giao phần đất này
cho 04 người gồm ông Thái Hoàng O, bà Thái Nguyệt Chi L, Thái Kim X2
và bà Lê Thị Yến N3 cùng đứng tên sở hữu chung.
Đối với yêu cầu độc lập của Nguyễn Thị T9, bị đơn ý kiến như sau:
Bị đơn cùng các con, cháu khác của cụ L2 đều thống nhất chia cho chi của ông
T11 phần đất chiều ngang 05 mét, chiều dài 35 mét, giáp đường N; phần đất
còn lại thuộc quyền của các chi còn lại. Do đó, trường hợp gia đình ông T11 xác
định đã chuyển nhượng phần đất này cho T9, thì bị đơn đồng ý một phần yêu
cầu phản tố của T9 đối với phần diện tích đất nêu trên. Riêng đối với phần
đất phía sau (phần đất tính tmốc 35 mét theo chiều dài thửa đất đến hết thửa
7
đất số 20 và phần 10,23 mét ngang còn lại), bị đơn cho rằng đây là tài sản chung
của các chi còn lại. Vì vậy, bị đơn yêu cầu bà T9, ông P và bà T18 di dời tài sản
ra khỏi khu đất này trả lại đất cho ông O ng các chi còn lại quản lý, sử
dụng, giao cho 04 người gồm ông Thái Hoàng O, bà Thái Nguyệt Chi L, bà Thái
Kim X2 và bà Lê Thị Yến N3 cùng đứng tên sở hữu chung.
Ý kiến trình bày của những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (thuộc
hàng thừa kế theo pháp luật của cụ ông Thái Văn L2 và cụ bà Bùi Thị B):
- Người thừa kế của ông Thái Bình H5 gồm Thái Bình Yên Q2, T, Thái Thị
Tuyết H2, Thái Thị Tuyết N4 trình bày: Thống nhất ý kiến yêu cầu của ông
Thái Hoàng O và bà Võ Thị H. Phần tài sản nếu ông, bà được chia theo quy định
của pháp luật, ông, bà đồng ý giao lại cho ông Thái Hoàng O ởng.
- Người thừa kế của ông Thái Bình N5 Thái Minh L1, Thái Thị Mộng
T8, Thái Thị Anh Đ1 và người thừa kế của ông Thái Hoàng L4 gồm Nguyễn Thị
Ngọc D3, Thái Nguyệt Chi L, Thái Hồng C2, Thái T, Thái Hưng T7, Thái
Hoàng P1, Thái Hoàng Hồng D2, Thái Hoàng X trình bày: Thống nhất ý
kiến và yêu cầu của ông Thái Hoàng O và bà Võ Thị H. Phần tài sản nếu ông, bà
được chia theo quy định của pháp luật, ông, đồng ý giao lại cho Thái
Nguyệt Chi L hưởng.
- Người thừa kế của Thái Thị C1 gồm Thị Yến N3, Phạm Thị V,
Thị Kiều T5 Minh N2 trình bày: Thống nhất ý kiến yêu cầu của ông
Thái Hoàng O và bà Võ Thị H. Phần tài sản nếu ông, bà được chia theo quy định
của pháp luật, ông, bà đồng ý giao lại cho bà Lê Thị Yến N3 hưởng.
- Người thừa kế của ông Thái Minh Q4 gồm Thái Trung Q1, Thái Thị
Ngọc T3, Thái Chí D, Thái Hương T4, Thái ThHồng U, Thái Minh K, Thái
Hoàng D1 trình bày: Thống nhất ý kiến và yêu cầu của ông Thái Hoàng O và bà
Thị H. Phần tài sản nếu ông, được chia theo quy định của pháp luật, ông,
bà đồng ý giao lại cho ông Thái Hoàng O được hưởng.
- Người thừa kế của Thái Thị H3 gồm Thái Ngọc N, Thái Hoàng N1,
Đinh Ngọc T16 Mai Diễm T2 trình bày: Thống nhất ý kiến yêu cầu của
ông Thái Hoàng Obà Võ Thị H. Phần tài sản nếu ông, bà được chia theo quy
định của pháp luật, ông, bà đồng ý giao lại cho bà Thái Nguyệt Chi L ởng.
- Thái Kim X2 trình bày: Thống nhất ý kiến yêu cầu của ông Thái
Hoàng O Thị H. đồng ý chia cho ông T11 05 mét ngang, dài 35
mét, phần còn lại yêu cầu các con của ông T11 là ông P, bà T18 giao lại cho các
đồng shữu còn lại, cụ thể giao cho ông O, N3, L cùng sử dụng
chung.
Ý kiến trình bày của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc
lập –Nguyễn Thị T9 trình bày:
Vào ngày 24 tháng 6 năm 2002 ông Thái T11, Phan Thị T12 cha
mẹ ruột của chị Thái Kim T18 và anh Thái Văn P có chuyển nhượng cho bà một
phần đất ngang 5 mét, thuộc thửa số 20, tờ bản đồ s18; tọa lạc tại: thị trấn D,
huyện D, tỉnh Tây Ninh. Việc sang nhượng giấy tay tất cả gia đình của ông
T11 cùng tên; giá sang nhượng 75 chỉ vàng 24K, đã giao đủ vàng cho
8
cả gia đình của ông T11. đã quản sử dụng cho vợ chồng ông Nguyễn
Ngọc T10 thuê để bán hoa kiểng từ năm 2011 cho đến nay. Trong quá trình sử
dụng đất yêu cầu vợ chồng ông T11 thực hiện thủ tục sang tên nhưng ông
T11 nói Nhà nước chưa cho thực hiện thủ tục cấp giấy nên khi ông T11 được
cấp giấy 15 mét của thửa đất sồ 20 tsẽ sang nhượng lại cho 5 mét ngang
như giấy tờ đã mua bán nhưng chưa thực hiện thì vợ chồng ông T11 chết.
Nay yêu cầu các con của ông T11, T12 chị Thái Kim T18, anh
Thái Văn P thực hiện thủ tục sang tên cho phần đất ngang 5 mét, dài hết đất,
thuộc thửa số 20, tờ bản đồ số 18.
thống nhất kết quả đo đạc của Công ty TNHH MTV V2 kết quả xem
xét thẩm định giá tài sản của Hội đồng thẩm định giá tài sản Huyện D.
Ý kiến của ông Huỳnh Ngọc T17: Vào năm 2011, ông hợp đồng thuê
của Nguyễn Thị Tuyết P2 đất 05 mét ngang tại khu phố D, thị trấn D (nay
ấp D, D, tỉnh y Ninh), để bán hoa kiểng. Trên đất, ông chỉ cất chòi tạm để
chậu kiểng hoa kiểng, ngoài ra không có tài sản nào khác. Đối với tranh chấp
giữa các bên, ông không ý kiến. Về hợp đồng thuê đất giữa ông với T9,
hai bên sẽ tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản án dân sự thẩm số 74/2025/DS-ST ngày 04/6/2025 của Tòa án
nhân dân huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thái Văn P, chị Thái Kim T18 v
“Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Thái Hoàng O và bà Võ Thị H.
Công nhận thửa đất số 20, tờ bản đồ số 18 (sau khi khấu trừ diện tích đã
chuyển nhượng cho Nguyễn Thị T9), tại thị trấn D, huyện D, tỉnh Tây Ninh
diện tích 835,7m
2
, tứ cận: Đông giáp diện tích đất còn lại (đã chuyển
nhượng cho T9) dài 73,43m; Tây giáp quan Tòa án nhân dân Huyện
Dương Minh Châu dài 75,91m; Nam giáp thửa số 23 dài 6,14m + 3,06m +
3,44m; Bắc giáp đường N dài 10,23m (có đồ hiện trạng sử dụng đất kèm
theo).
Anh Thái Văn P, chị Thái Kim T18 quyền nghĩa vụ được thực hiện
thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
2. Đình chỉ yêu cầu về “Tranh chấp về thừa kế tài sản” của ông Thái Hoàng
O đối với anh Thái Văn P và chị Thái Kim T18.
Đương sự không quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án,
nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị
đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp.
3. Chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị T9 v“Tranh chấp hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với anh Thái Văn P, chị Thái Kim T18.
Công nhận cho Nguyễn Thị Tuyết P2 đất diện ch 378,2m
2
(tách từ
thửa số 20, tờ bản đồ số 18) có tứ cận như sau: Đông giáp cơ quan Viện kiểm sát
nhân dân Huyện Dương Minh Châu dài 73,77m; Tây giáp diện tích còn lại của
thửa số 20 dài 73,43m; Nam giáp thửa số 23 dài 5m; Bắc giáp đường N dài 5m.
9
T9 quyền nghĩa vụ được thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án có tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo.
Do không đồng ý với bản án trên nên bị đơn người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan kháng cáo.
Tại bản án dân sự phúc thẩm số: 530/2025/DS-PT ngày 26/8/2025 của Tòa
án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã tuyên xử: Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số
74/2025/DS-ST ngày 04/6/2025 của Tòa án nhân dân huyện Dương Minh Châu,
giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án nhân dân khu vực 11 Tây Ninh xét xử sơ thẩm
lại, với nhận định:
Tại Bản án dân sự thẩm số 32/2016/DS-ST ngày 28/6/2016 của Tòa án
nhân dân huyện Hòa Thành Bản án phúc thẩm số 244/2016/DS-PT ngày
26/9/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, về việc ông Thái T11 cùng
các anh chị em trong gia đình khởi kiện ông Thái Hoàng O để yêu cầu chia tài
sản thuộc hình thức sở hữu chung là số tiền bồi thường đất do ông O đại diện gia
đình nhận theo Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 24/10/2011 của UBND
tỉnh T. Trong vụ án trên, các đương sự đều thống nhất xác nhận nguồn gốc phần
đất 7,8 ha của cụ L2 cụ B tạo lập khi còn sống, nên xác định thửa đất số
20, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.370,9 m
2
, tại D một phần trong 7,8 ha đất
nêu trên, được gia đình ông T11 ủy quyền cho ông O khiếu nại được UBND
tỉnh T giải quyết theo Quyết định 2165/QĐ-UBND.
Nguyên đơn cho rằng thửa đất số 20, diện tích 1.370,9m² thuộc quyền sử
dụng của ông T11 đã được Nhà nước công nhận, nên yêu cầu công nhận quyền
sử dụng đất. Bị đơn những người liên quan cho rằng đây là i sản chung của
các đồng thừa kế nên yêu cầu chia theo quy định pháp luật.
Nhận thấy, tại tờ ủy quyền ngày 14/6/2002 nội dung “Tôi đứng tên
Thái T11, nguyên gia đình anh chị em chúng tôi số đất bảy mẩu tám
mươi mốt công (7,81ha) tại khu phố D thị trấn D bị chiếm dụng từ năm 1977
đến nay do i đứng đơn khiếu nại đại diện cho gia đình. Hôm nay tuổi già
sức yếu tôi không đi đứng được nhiều nên tôi đồng ý ủy quyền toàn bộ hồ sơ đất
này lại cho em ruột tôi ông Thái Hoàng O (Tờ ủy quyền được xác nhận của
UBND thị trấn D)”. Những người quyền và nghĩa vụ liên quan còn lại cũng
xác định 7,8ha đất tài sản chung của cha mẹ các anh chị em ông O do đó
căn cứ xác định đây tài sản chung của các anh em yêu cầu chia tài sản
chung của bị đơn là có căn cứ chấp nhận.
Cấp thẩm đình chỉ yêu cầu chia thừa kế với do hết thời hiệu không
phù hợp, theo quy định pháp luật, trường hợp các đồng thừa kế không tranh
chấp trong thời hạn và cùng thừa nhận di sản chưa chia thì tài sản chuyển thành
tài sản chung, khi phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết theo quy định về chia tài sản
chung, không áp dụng thời hiệu thừa kế.
Tại Bản án dân sự thẩm số 115/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh đã tuyên xử:
10
Căn cứ Điều 117, Điều 129, Điều 155, Điều 208, Điều 219, Điều 688 Bộ
luật Dân sự năm 2015; các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thái Văn P, Thái Kim
T18 đối với ông Thái Hoàng O Thị H về “Tranh chấp quyền sử dụng
đất”.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Thái Hoàng O đối với ông
Thái Văn P và bà Thái Kim T18 về “Tranh chấp tài sản chung”.
2.1. Xác định thửa đất số 20, tờ bản đ18, diện tích 1.213,9 m
2
, tại ấp D,
D, tỉnh Tây Ninh là tài sản chung của các đồng thừa kế của cụ Thái Văn L2
và cụ Bùi Thị B.
2.2. Ông Thái Hoàng O, Thái Kim X2, Thái Nguyệt Chi L
Thị Yến N3 được quyền sử dụng chung phần đất diện tích 835,7m
2
(thuộc một
phần thửa 20, tờ bản đồ số 18), có tứ cận: Đông giáp diện tích đất đã chuyển
nhượng cho T9 dài 73,43m; Tây giáp Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh
Châu (cũ) dài 75,91m; Nam giáp thửa số 23 dài 6,14m + 3,06m + 3,44m; Bắc
giáp đường N dài 10,23m (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo);
Các đồng sở hữu quyền, nghĩa vụ liên hquan thẩm quyền để
đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về
đất đai.
2.3. Ông Thái Hoàng O, Thái Nguyệt Chi L, Thị Yến N3
Thái Kim X2 được quyền sở hữu các tài sản gắn liền trên đất và có nghĩa vụ liên
đới thanh toán cho Thái Kim T18 số tiền 55.514.400 đồng (bằng chữ: Năm
mươi lăm triệu năm trăm mười bốn nghìn bốn trăm đồng) và thanh toán cho ông
Thái Văn P, Thái Kim T18 số tiền 185.004.000 đồng (bằng chữ: Một trăm
tám mươi lăm triệu không trăm linh bốn nghìn đồng).
2.4. Ông Thái Văn P Thái Kim T18 phải di dời đi nơi khác, giao
quyền sử dụng đất các tài sản gắn liền trên diện tích đất 835,7 m
2
cho ông
Thái Hoàng O, Thái Nguyệt Chi L, Thị Yến N3 và bà Thái Kim X2 sử
dụng.
2.5. Không chấp nhận phần yêu cầu phản tố của ông Thái Hoàng O về việc
yêu cầu Thái Kim T18, ông Thái Văn P giao trả lại phần đất diện tích 202,3
m
2
, thuộc một phần thửa đất số 20, tờ bản đồ số 18, tại D, tỉnh Tây Ninh
(theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 21/01/2026).
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Nguyễn Thị T9 đối với anh Thái Văn
P, chị Thái Kim T18 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng
đất” và “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy
sang nhượng đất) ngày 12/6/2002 giữa ông Thái T11, Phan Thị T12, ông
Thái Văn P, bà Thái Kim T18 và bà Nguyễn Thị Tuyết .1
Nguyễn Thị T9 được tiếp tục sử dụng phần đất diện tích 378,2m
2
(tách từ thửa số 20, tờ bản đồ số 18) có tứ cận như sau: Đông giáp Viện kiểm sát
11
nhân dân Huyện Dương Minh Châu (cũ) dài 73,77m; Tây giáp diện tích còn lại
của thửa số 20 dài 73,43m; Nam giáp thửa số 23 dài 5m; Bắc giáp đường N dài
5m (có sơ đồ kèm theo).
T9 quyền nghĩa vụ được thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Ngoài ra án thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, án phí,
quyền kháng cáo và hướng dẫn thi hành án.
Ngày 13 tháng 5 năm 2026, nguyên đơn ông Thái Văn P, bà Thái Kim T18
kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng chấp nhận toàn bộ
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, công nhận cho ông, được quyền sử dụng
đối với thửa đất số 20, tờ bản đồ số 18; tọa lạc tại xã D, tỉnh Tây Ninh.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết ván, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu
kháng cáo, bị đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho ông Thái Hoàng O trình bày:
Căn cứ giấy ủy quyền năm 2002 và các tài liệu có trong hồ sơ, có cơ sở xác định
diện tích 7,8 ha tài sản chung của gia đình; ông Thái T11 chỉ người đại
diện gia đình thực hiện việc khiếu nại, sau đó ủy quyền cho ông Thái Hoàng O
tiếp tục khiếu nại. Việc danh sách kèm theo Quyết định số 2165/QĐ-UBND ghi
tên ông T11 đối với diện tích 1.370,9 chỉ thể hiện người đang trực tiếp quản
lý, sử dụng đất, không đủ căn cứ xác định toàn bộ diện tích này thuộc quyền
quản lý, sử dụng của ông T11. Đối với phần đất đã chuyển nhượng cho
Nguyễn Thị T9, việc gia đình biết không tranh chấp giao dịch này chỉ thể
hiện sự công nhận đối với phần diện tích chuyển nhượng cụ thể, không làm phát
sinh căn cứ xác định toàn bộ thửa đất số 20 thuộc quyền sử dụng riêng của ông
T11. Ngoài ra, việc nguyên đơn trình bày nộp thuế quyền sử dụng đất số tiền
65.000.000 đồng cũng không sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về chấp hành pháp luật: Đơn kháng cáo của ông Thái Văn P, Thái Kim
T18 trong thời hạn quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tphúc
thẩm kể tkhi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định
của Bộ luật Tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng
pháp luật.
Về nội dung: Cấp thẩm xác định thửa đất số 20 tài sản thuộc sở hữu
chung của các đồng thừa kế, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P,
T18, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông O về “tranh chấp tài sản
chungcăn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
nguyên đơn, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
12
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Thái n P, Thái Thị
Kim T18 trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Ông P, T18 kháng cáo yêu cầu công nhận cho ông,
được quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 20, tờ bản đồ số 18, với do thửa đất
này đã được công nhận cho ông Thái T11 theo Quyết định số 2165/QĐ-
UBND ngày 24/10/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T do gia đình
ông T11 trực tiếp quản lý, sử dụng trong thời gian dài, xét thấy:
[2.1] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án, đủ sở xác
định thửa đất số 20, tờ bản đồ số 18, diện tích theo hồ sơ 1.370,9 m², đo đạc thực
tế 1.213,9 m², một phần trong diện tích 7,8 ha nguồn gốc của cụ Thái Văn
L2 và cụ Bùi Thị B.
Sau khi Nhà nước thu hồi đất, ông Thái Bá T11 đại diện gia đình thực hiện
việc khiếu nại; đến ngày 13/6/2002, ông T11 ủy quyền cho ông Thái Hoàng O
tiếp tục khiếu nại. Tại giấy ủy quyền, ông T11 xác định diện tích 7,81 ha đất
của gia đình anh chị em chúng tôi ông người đại diện cho gia đình đứng
đơn khiếu nại. Do vậy, căn cứ xác định diện tích đất khiếu nại nguồn gốc
chung của gia đình, không phải tài sản riêng của ông T11.
Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 2165/QĐ-UBND ngày 24/10/2011
của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh T thể hiện “Giữ nguyên hiện trạng cho gia
đình ông Thái Hoàng O được tiếp tục quản lý, sử dụng diện tích 1.370,9 m² theo
quy định của Luật Đất đai”; danh sách kèm theo quyết định ghi tên ông Thái
T11 đối với thửa đất số 20. Ông T11 sau đó ông O đều thực hiện việc khiếu
nại với cách đại diện cho gia đình; hồ không có tài liệu, chứng cứ thể hiện
cụ L2, cụ B đã cho riêng ông T11 thửa đất này hoặc các đồng thừa kế đã thỏa
thuận giao toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông T11. Do đó, chưa căn cứ xác
định việc ghi tên ông T11 trong danh sách kèm theo Quyết định số 2165/QĐ-
UBND làm phát sinh quyền quản lý, sử dụng đối với toàn bộ thửa đất số 20.
[2.2] Đối với việc ông T11 trực tiếp quản , sử dụng đất từ khoảng năm
1988 nhưng việc quản này được thực hiện trên sở tài sản chung của các
đồng thừa kế, đồng thời không tài liệu, chứng cứ nào thể hiện các đồng thừa
kế khác đã chuyển giao toàn bộ quyền sử dụng đất cho ông T11. Mặt khác, tại
Bản án dân sự phúc thẩm số 244/2016/DS-PT ngày 26/9/2016 của Tòa án nhân
dân tỉnh Tây Ninh, khoản tiền phát sinh từ việc giải quyết quyền lợi đối với diện
tích 7,8 ha theo Quyết định số 2165/QĐ-UBND đã được xác định là tài sản
chung phân chia cho các thành viên trong gia đình. Tại Bản án dân sự phúc
thẩm số 530/2025/DS-PT ngày 26/8/2025, khi hủy bản án thẩm lần thứ nhất
để xét xử lại, Tòa án cấp phúc thẩm ng đã xác định thửa đất số 20 nguồn
gốc từ khối tài sản chung của cụ L2 và cụ B, chưa được phân chia.
[2.3] vậy, đủ căn cứ xác định thửa đất số 20 tài sản thuộc sở hữu
chung của các đồng thừa kế và chưa được phân chia. Tòa án cấp thẩm không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, bà T18; xác định quyền sử dụng thửa
đất số 20 tài sản chung giải quyết yêu cầu phản tố của ông O căn cứ,
phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, không có cơ sở chấp
13
nhận kháng cáo; đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa căn cứ,
cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: ông P, T18 phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm theo Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,
quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Thái Văn P, bà Thái Kim T18.
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 115/2026/DS-ST ngày 28 tháng 4
năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 11 – Tây Ninh.
Căn cứ Điều 117, Điều 129, Điều 155, Điều 208, Điều 219, Điều 688 Bộ
luật Dân sự năm 2015; các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thái Văn P, Thái Kim
T18 đối với ông Thái Hoàng O Thị H về “Tranh chấp quyền sử dụng
đất”.
2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Thái Hoàng O đối với ông
Thái Văn P và bà Thái Kim T18 về “Tranh chấp tài sản chung”.
2.1. Xác định thửa đất số 20, tờ bản đ18, diện tích 1.213,9 m
2
, tại ấp D,
D, tỉnh Tây Ninh là tài sản chung của các đồng thừa kế của cụ Thái Văn L2
và cụ Bùi Thị B.
2.2. Ông Thái Hoàng O, Thái Kim X2, Thái Nguyệt Chi L
Thị Yến N3 được quyền sử dụng chung phần đất diện tích 835,7m
2
(thuộc một
phần thửa 20, tờ bản đồ số 18), có tứ cận: Đông giáp diện tích đất đã chuyển
nhượng cho T9 dài 73,43m; Tây giáp Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh
Châu (cũ) dài 75,91m; Nam giáp thửa số 23 dài 6,14m + 3,06m + 3,44m; Bắc
giáp đường N dài 10,23m (có sơ đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo);
Các đồng sở hữu quyền, nghĩa vụ liên hquan thẩm quyền để
đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về
đất đai.
2.3. Ông Thái Hoàng O, Thái Nguyệt Chi L, Thị Yến N3
Thái Kim X2 được quyền sở hữu các tài sản gắn liền trên đất và có nghĩa vụ liên
đới thanh toán cho Thái Kim T18 số tiền 55.514.400 đồng (bằng chữ: Năm
mươi lăm triệu năm trăm mười bốn nghìn bốn trăm đồng) và thanh toán cho ông
Thái Văn P, Thái Kim T18 số tiền 185.004.000 đồng (bằng chữ: Một trăm
tám mươi lăm triệu không trăm linh bốn nghìn đồng).
2.4. Ông Thái Văn P Thái Kim T18 phải di dời đi nơi khác, giao
quyền sử dụng đất các tài sản gắn liền trên diện tích đất 835,7 m
2
cho ông
14
Thái Hoàng O, Thái Nguyệt Chi L, Thị Yến N3 và bà Thái Kim X2 sử
dụng.
2.5. Không chấp nhận phần yêu cầu phản tố của ông Thái Hoàng O về việc
yêu cầu Thái Kim T18, ông Thái Văn P giao trả lại phần đất diện tích 202,3
m
2
, thuộc một phần thửa đất số 20, tờ bản đồ số 18, tại D, tỉnh Tây Ninh
(theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 21/01/2026).
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của Nguyễn Thị T9 đối với anh Thái Văn
P, chị Thái Kim T18 về “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất” và “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”.
Công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (giấy
sang nhượng đất) ngày 12/6/2002 giữa ông Thái T11, Phan Thị T12, ông
Thái Văn P, bà Thái Kim T18 và bà Nguyễn Thị Tuyết .1
Nguyễn Thị T9 được tiếp tục sử dụng phần đất diện tích 378,2m
2
(tách từ thửa số 20, tờ bản đồ số 18) có tứ cận như sau: Đông giáp Viện kiểm sát
nhân dân Huyện Dương Minh Châu (cũ) dài 73,77m; Tây giáp diện tích còn lại
của thửa số 20 dài 73,43m; Nam giáp thửa số 23 dài 5m; Bắc giáp đường N dài
5m (có sơ đồ kèm theo).
T9 quyền nghĩa vụ được thực hiện thủ tục cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
4. Về chi phí tố tụng khác:
Ông Thái Văn P Thái Kim T18 phải chịu chi phí xem xét thẩm định
tại chỗ chi phí định giá tài sản 27.800.000 đồng. Ông P, T18 đã nộp
22.800.000 đồng tạm ứng chi phí tố tụng ông O đã nộp 5.000.000 đồng tạm
ứng chi phí tố tụng nên buộc ông P, T18 liên đới hoàn trả cho ông O số tiền
là 5.000.000 đồng.
5. Về án phí:
5.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
Thái Kim T18, ông Thái Văn P phải liên đới chịu 600.000 đồng, khấu
trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu s0008256 ngày
05/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây
Ninh. Ông P, bà T18 còn phải nộp tiếp số tiền là 300.000 đồng.
Ông Thái Hoàng O, Thị Yến N3 Thái Kim X2 được miễn nộp
án phí.
Thái Nguyệt Chi L phải chịu 63.329.025 đồng (bằng chữ: Sáu mươi ba
triệu ba trăm hai mươi chín nghìn không trăm hai mươi lăm đồng).
5.2. Án phí dân sự phúc thẩm: ông Thái Văn P phải chịu 300.000 đồng án
phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí ông P
đã nộp theo biên lai thu số 0010369; và Thái Thị Kim T18 phải chịu 300.000
đồng án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án
phí T18 đã nộp theo biên lai thu số 0010370 cùng ngày 14/5/2026 của Thi
hành án dân sự tỉnh Tây Ninh.
15
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 Luật Thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa Phúc thẩm TANDTC tại Tp.HCM;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND khu vực 11 – Tây Ninh;
- Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thị Thu Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 988/2026/DS-PT Bản án số 988/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 988/2026/DS-PT Bản án số 988/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất