Bản án số 373/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 373/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 373/2026/DS-PT ngày 29/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 373/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 373/2026/DS-PT Bản án số 373/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 373/2026/DS-PT Bản án số 373/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 373/2026/DS-PT
Ngày: 29 - 7 - 2026
“V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
và tranh chấp lối đi chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My.
Các Thẩm phán: Ông Bùi Quốc Hà, ông Lê Trúc Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Nữ Hoàng Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Trương Thị Thu
Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 647/2025/TLPT-DS ngày 17/12/2025
về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất tranh chấp lối đi chung”. Do Bản án
dân sự thẩm số: 37/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực
9 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 298/2026/-PT ngày
15/6/2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1959 Thị Mỹ H,
sinh năm 1959.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Mỹ H: Ông Nguyễn Quang T1,
sinh năm 1981.
Cùng địa chỉ: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk Đều có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật Xuân
T2 Văn phòng L
Địa chỉ: Số A N, phường G, TP Hồ Chí Minh Có mt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Trường S, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk Có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật Nguyễn Quốc
B.
2
Địa chỉ: Hẻm C H, phường T, tỉnh Đắk Lắk Có mặt
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị Bích H1.
Người đại diện theo ủy quyền của bà H1: Ông Nguyễn Trường S.
Địa chỉ: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk Có mặt.
- Ủy ban nhân dân xã E.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Văn C Phó phòng Kinh tế.
Địa chỉ: Số B Đ, xã E, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt
4. Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Kim H2, sinh năm 1959
Địa chỉ: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1973
Địa chỉ: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
- Ông Đỗ Tiến S2, sinh năm 1974
Địa chỉ: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
- Ông Lạc Thế D, sinh năm 1972
Địa chỉ: Thôn T, xã E, tỉnh Đắk Lắk Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T; Bị đơn ông
Nguyễn Trường S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy
quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông T, H mảnh đất diện tích 16.698 m
2
, thửa đất số 72, tbản đồ 15.
Ngày 25/01/2006 hộ ông Nguyễn Thanh TLê Thị Mỹ H được UBND huyện
E, tỉnh Đăk Lăk cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 988581, đất tọa lạc
tại thôn T, xã D, có tứ cận: Đông giáp đất ông Đ đất của ông T, Tây giáp đường
đi, Nam giáp đất ông S, Bắc giáp đất ông Đ và ông B1. Gia đình ông T sử dụng ổn
định từ trước cho đến nay. Đến đầu năm 2022 ông S, H1 có đất liền kề tự ý rào
chắn con đường đi chung chiều dài 70m, ngang 3m không cho gia đình ông T đi
vào rẫy và lấn chiếm đất bờ ranh đất của ông T, bà H dài 150 m, chiều ngang đoạn
đầu 2m và đoạn sau 0,5m.
Nay ông T, H yêu cầu đo đạc lại và yêu cầu ông S, H1 tháo dỡ các trụ
rào và trả lại diện tích đất đã lấn chiếm cho ông T, bà H. Đồng thời, yêu cầu ông S
giữ nguyên hiện trạng đường đi, không được rào chắn lối đi, cản trở việc giao
thông đi lại của các hộ gia đình.
3
Đối với nội dung, giữa thửa đất gia đình ông Nguyễn Thanh T đang quản
sử dụng chồng lấn với thửa đất gia đình ông Nguyễn Trường S (hai thửa đất
dang tranh chấp trong vụ kiện) thì ông T đã được biết. Tuy nhiên, gia đình ông T
yêu cầu giải quyết vụ án theo nội dung đã khởi kiện khởi kiện. Ngoài ra gia đình
ông T không có yêu cầu gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn trình bày:
Ông Nguyễn Trường S mảnh đất liền kề với đất của ông T, H, ngày
31/5/1999 được UBND huyện E cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số P
094278 diện tích 6.240 m
2
, thửa 74, tờ bản đồ 15, đất tọa lạc tại thôn T, xã D, có tứ
cận: Đông giáp đất ông H3, Tây giáp đất ông T, Nam giáp đất bà C1, Bắc giáp đất
ông T. Việc ông T, H cho rằng ông S rào chắn con đường đi lấn chiếm đất
của ông T, bà H không đúng, ông Nguyễn Trường S đã sử dụng trước ông T
không hành vi lấn chiếm. vậy, gia đình ông S không đồng ý trả lại diện
tích đất cho gia đình ông T như ông T và bà H yêu cầu.
Về lối đi chung, ông S cho rằng diện tích con đường đi gia đình ông T,
H tranh chấp đất của ông S không phải lối đi chung mà thuộc đất của ông
gia đình ông S do ông S tự mở lên đầu trên rẫy của mình để thuận lợi việc canh tác
nên ông S không đồng ý trả lại theo yêu cầu của ông T, bà H.
Trường hợp đồ thửa đất trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện
trạng thực tế giữa hai thửa đất tranh chấp giữa gia đình ông S ông T chồng
lấn trong quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Trường S đã được biết. Tuy
nhiên, việc sai sót chồng lấn do quan thẩm quyền cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất chứ ông S không có lỗi. Ông Nguyễn Trường S chỉ biết từ trước
đến nay gia đình vẫn quản lý, sử dụng đúng hiện trạng đất của mình không lấn
chiếm của ai.
Tại đơn khởi kiện yêu cầu độc lập đề ngày 21/02/2024, ông Nguyễn Trường
S trình bày:
Năm 1999 Nhà nước chủ trương đo đạc tập trung để cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, ông S đã đăng ký, kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất. Ngày 31/5/1999, UBND huyện E cấp cho hộ ông Nguyễn Trường S
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15, diện
tích 6.240 m
2
, địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất, gia đình ông S quản
lý, sử dụng ổn định hơn 22 năm không tranh chấp với ai. Đối với giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, gia đình ông S thế chấp ngân hàng để vay tiền từ năm
2011 đến nay. Đến năm 2022, gia đình ông Nguyễn Thanh T Thị Mỹ H
tranh chấp quyền sử dụng đất với gia đình ông S. Quá trình giải quyết vụ án, ông S
mới biết sự chồng lấn khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình
ông T gia đình ông S. Do vậy, ông Nguyễn Trường S yêu cầu Tòa án xem xét,
giải quyết hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho gia đình ông S
và gia đình ông T, cụ thể:
4
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 988581, cấp ngày 25/7/2006 cho
hộ ông Nguyễn Thanh T đối với thửa đất số 72, tờ bản đồ 15; địa chỉ thửa đất
tại Thôn T, xã D, huyện E, tỉnh Đăk Lăk;
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số P 094278 diện tích 6.240 m
2
, cấp
ngày 31/5/1999, thửa đất số 74, tờ bản đồ 15, đất tọa lạc tại thôn T, xã D, huyện E,
tỉnh Đăk Lăk.
Ngày 14/4/2025, ông Nguyễn Trường S đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện về
việc yêu cầu hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên.
*Ngưi bo v quyn v li ch hp php cho b đơn trnh by:
Điểm mấu chốt của vụ án không phải chỉ là diện tích 74,9m² nằm trong Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn, mà là ranh giới sử dụng đất thực tế
giữa các bên đã được xác lập, quản sử dụng ổn định, công khai hơn 30 năm.
Tuy nhiên, cấp thẩm gần như chỉ căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất; Kết quả đo đạc hiện trạng. Trong khi đó, cấp thẩm chưa đánh gđầy đủ
các chứng cứ quan trọng khác, như nguồn gốc hình thành ranh giới; quá trình quản
lý, sử dụng đất liên tục, công khai; dấu mốc ranh giới còn tồn tại ngoài thực địa;
lời khai thống nhất của các đương sự nhân chứng; biên bản xem xét, thẩm định
tại chỗ ngày 09/06/2026.
Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ đều thhiện: Đất hai bên được nhận
chuyển nhượng từ đầu những năm 1990; Từ khi nhận đất, các bên đều sử dụng
theo một ranh giới cố định. Ranh giới được các bên xác định cụ thể: Bên ông S
(thửa đất số 74): Nhận chuyển nhượng từ năm 1988 - 1989, ranh giới thời điểm đó
được xác định dựa vào các cây tự nhiên, trong đó 01 cây Me rừng cuối rẫy.
Từ m 1992 - 1994, làm sân nền đất đến năm 2000 đổ sân xi măng, rào lưới
B40 kiên cố. Bên ông T (thửa đất số 72): Nhận chuyển nhượng năm 1992, sau đó
chôn trụ gỗ kéo lưới B40 phía trước, chôn trụ gỗ phía sau, trồng cây làm trụ hồ
tiêu và xếp hàng kè đá phía trước sát ranh giới để phân định với đất ông S.
Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 09/06/2026, các đương sự đều xác
nhận cây Me rừng mốc ranh giới thực tế phía gần cuối đất rẫy. Đây là tình tiết
đặc biệt quan trọng phản ánh đúng hiện trạng khách quan ngoài thực địa
tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ
luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Dân sự, ranh giới thực
tế này phải được công nhận. Do đó, việc cấp sơ thẩm chỉ căn cứ số liệu kỹ thuật để
phủ nhận ranh giới thực tế là không đúng.
Đối với ý kiến trình bày của nguyên đơn cho rằng nguyên đơn chôn trụ gỗ
rào lưới B40 phía trước, đắp hàng kẻ đá tự nhiên chôn trụ gỗ giữa đất rẫy
khoảng hơn 10 năm không đúng về thời gian. Bởi lẽ, ngay sau khi nhận chuyển
nhượng, phía sau rẫy cây Me rừng làm ranh giới mốc giữa các thửa đất, còn
phía trước bị đơn đã làm sân nền đất, sau đó sân xi măng, chôn trụ tông và kéo
lưới B40; còn nguyên đơn chôn trụ gỗ phía trước, kéo lưới B40 tiếp giáp nối
liền với trụ tông lưới B40 của bị đơn làm xếp hàng đá tự nhiên. Hơn
5
nữa, lời khai của bị đơn phù hợp với lời khai của những nhân chứng tại địa phương
như ông Nguyễn Kim H2 - cựu Xóm trưởng, ông Nguyễn Văn S1, ông Đỗ Tiến
S2, ông Lạc Thế D phù hợp quá trình sử dụng đất thực tế của các bên. Do đó,
đủ căn cứ xác định hành vi tự xác lập ranh giới của nguyên đơn thông qua việc
chôn trụ gỗ kéo lưới B40 phía trước, chôn 05 trụ gỗ giữa rẫy trồng Hồ tiêu,
đắp hàng đá nhằm mục đích “Đphân định ranh giới giữa 2 thửa đất”. Như
vậy, nguyên đơn đã tự định vị giới hạn đất của mình, không thể nay lại đòi lấn qua
đường ranh giới thằng do chính mình thiết lập.
Theo kết quả đo đạc, cấp sơ thẩm xác định: Ông T đang quản lý 10.616,2m²
(diện tích trên GCNQSDĐ 16.698m²) ông S đang quản 9.224,2m² (diện
tích trên GCNQSDĐ 6.240m²). Chính các số liệu này cho thấy diện tích thực tế
của cả hai bên đều chênh lệch so với diện tích được cấp Giấy chứng nhận. Sai lệch
không chỉ xảy ra đối với bị đơn mà xảy ra đối với cả hai bên. Điều đó chứng minh
kết quả đo đạc hiện nay chỉ phản ánh số liệu kỹ thuật, không phản ánh lịch sử quản
sử dụng đất. Đối chiếu quy định tại khoản 5 Điều 98 của Luật Đất đai năm
2013 (tương đương khoản 6 Điều 135 Luật Đất đai năm 2024), khi diện tích thực
tế chênh lệch so với Giấy chứng nhận nhưng ranh giới thửa đất đang sử dụng
không thay đổi, không tranh chấp tại thời điểm cấp giấy thì phải tôn trọng ranh
giới thực tế. Số liệu đo đạc chỉ phản ánh hiện trạng tại thời điểm đo, không giá
trị thay thế chứng cứ về quá trình quản lý, sử dụng đất ổn định.
Tòa án cấp thẩm cũng chưa làm những tài sản trên diện tích đất tranh
chấp, tài sản đó của bên nào: Quá trình quản lý, sử dụng đất, các bên đều có tạo lập
tài sản trên diện tích đất tranh chấp. Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ
ngày 03/06/2026, trên diện tích đất có: trụ gỗ, trụ bê tông, lưới B40, sân bê tông,
kè đá tự nhiên, 09 câyphê và 01 cây cau. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm chưa xác định
đầy đủ chủ sở hữu đối với từng tài sản trên đất. Cụ thể, chưa làm trụ gỗ, kéo
lưới B40 phía trước đá tự nhiên các dấu mốc, công trình do nguyên đơn
tạo lập để phân định ranh giới giữa hai thửa đất; trong khi trụ tông lưới B40
phía sau do bị đơn tạo lập trong quá trình sử dụng đất. Mặc dù vậy, bản án sơ thẩm
lại tuyên buộc bị đơn tháo dỡ chung các trụ tông, trụ gỗ hàng rào lưới B40
không phân định cụ thể tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của từng bên.
Ngoài ra, Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/06/2026 còn ghi nhận 09
cây p 01 cây cau do bị dơn trồng từ năm 2023, nhưng bản án thẩm
không xem xét, quyết định xđối với các tài sản này. Việc chưa làm chủ sở
hữu từng tài sản, đồng thời bỏ sót việc giải quyết một số tài sản gắn liền với đất đã
được ghi nhận trong hồ sơ, làm cho bản án thẩm chưa giải quyết triệt để vụ án
thể gây khó khăn trong quá trình thi hành án. Những thiếu sót này đã được
cấp phúc thẩm xem xét, làm rõ khắc phục. Do đó, vụ án đã có đầy đủ căn cứ để
giải quyết theo thủ tục phúc thẩm bảo đảm tính toàn diện, khách quan của bản
án.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về lối đi chung: Cấp thẩm
tuyên bác yêu cầu đòi lối đi chung diện tích 228,4m² của nguyên đơn là căn cứ
pháp lý. Bởi lẽ, hồ địa chính (bản đồ 1999 - 2001) và thực tế sử dụng đất xác
6
định ranh giới cạnh giữa thửa 74 74a không có con đường đi nào. Hơn nữa,
thửa đất của nguyên đơn cũng không bị vây bọc. Do vậy, các do kháng cáo của
nguyên đơn cho rằng lối đi chung suy đoán, không dựa trên bất kỳ chứng cứ
pháp lý nào nên không có căn cứ chấp nhận.
Từ những căn cứ nêu trên, kính đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng khoản 2
Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, quyết định:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T.
- Chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trường S. Sửa một phần
Bản án dân sự thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của Tòa án nhân dân
Khu vực 9 – tỉnh Đắk Lắk theo hướng:
+ Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (ông Nguyễn Thanh T,
Thị Mỹ H) về việc buộc ông Nguyễn Trường SPhạm Thị Bích H1 trả lại
diện tích đất tranh chấp ranh giới.
+ Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Nguyễn
Trường S giữ nguyên và tháo dỡ công trình trên diện tích lối đi chung 228,4m².
+ Công nhận ranh giới thực tế sử dụng đất ổn định lịch sử giữa thửa đất số
72 thửa đất s74 theo đường thẳng nối từ hàng rào lưới B40/kè đá lịch sử kéo
dài đến điểm mốc Cây Me rừng cuối đất rẫy mà các bên đã xác định phù hợp
với quy dịnh tại Điều 175 của BLDS.
Quá trình giải quyết vụ án UBND huyện E (chuyển giao quyền cho UBND
E đối với địa bàn quản lý) trình bày đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Trường S:
Toàn bộ các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đất số P 094278, do UBND
huyện E cấp ngày 31/5/1999 cho hộ ông Nguyễn Trường S Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AE 988581, cấp ngày 25/7/2006 cấp cho hộ ông Nguyễn
Thanh T đều được cấp đúng thẩm quyền, theo trình tự thủ tục được pháp luật quy
định.
*Những người làm chứng trình bày:
- Ông Nguyễn Kim H2 trình bày: Tôi với vợ chồng ông T, vợ chồng ông S
cùng sống. canh tác tại địa phương, quen biết nhau từ lâu không mâu thuẫn.
Năm 1984, tôi khai hoang đất sinh sống tại địa phương. Từ năm 1990 đến năm
2010, tôi làm m trưởng từ năm 2010 đến năm 2016, tôi làm tổ trưởng tổ an
ninh của thôn. Quá trình sinh sống và giữ vị trí cán bộ thôn buôn tôi biết ông S
mua đất, sinh sống tại địa phương từ những năm 1989 hay 1990, còn gia đình ông
T mua đất của ông Văn T3 về địa phương canh tác từ những năm 1992.
Trước vụ án xảy ra, các bên sử dụng đất ổn định, không tranh chấp ranh giới
giữa các thửa đất không thay đổi. Tôi không nhớ cụ thể về thời gian, nhưng ngay
sau khi vợ chồng ông T mua đất, về địa phương canh tác đã nhờ cán bộ thôn buôn
(trong đó tôi) đến chứng kiến giữa gia đình ông S với gia đình ông T căng dây
theo đúng ranh giới đã đề phân định răng giữa các thửa đất. Quá trình sử
7
dụng đất, gia đình ông S đã làm sân nền đất, chôn trụ gỗ và kéo lưỡi B40, sau này
làm sân nền Xi măng phía sau gần cuối thửa đất rẫy cây Me rừng tự nhiên
làm ranh giới giữa các thửa đất. Gia đình ông T chôn trụ gỗ, kéo lưỡi B40 phía
trước và từ mua đất rẫy đến nay, gia đình ông T thường xuyên nhon nhặt đã tự
nhiên rẫy của ông T đxếp hàng rào đá phân định ranh gới giữa thửa đất của vợ
chồng ông S vợ chồng ông T. Tôi cam kết trình bày nêu trên đúng chịu
trách nhiệm về những nội dung tôi đã khai nhận.
- Ông Nguyễn Văn S1 trình bày: Tôi với vợ chồng ông T, vợ chồng ông S
cùng sống, canh tác tại địa phương, quen biết nhau từ lâu không mâu thuẫn.
Tháng 11/1984, tôi mua đất, sinh sống canh tác tại địa phương. Khoảng năm
1988 hay 1989, ông S mua đất rẫy, canh tác, về địa phương sinh sống. Khoảng
năm 1992, gia đình ông T mua đất rẫy, canh tác tại địa phương. Quá trình sử dụng
đất, giữa gia đình ông T với gia đình ông S không tranh chấp, các thửa đất đã
ranh giới cụ thể rõ ràng và phân định giữa thửa đất của ông S với thửa đất của ông
T. Tôi cam kết trình bày nêu trên đúng chịu trách nhiệm về nhng nội dung
tôi đã khai nhận.
- Ông Đỗ Tiến S2 trình bày: Tôi với vợ chồng ông T, vợ chồng ông S cùng
sống tại địa phương, quen biết nhau từ lâu không mâu thuẫn. Năm 1993, tôi
mua đất sinh sống tại địa phương. Từ khi tôi về địa phương sinh sống, tôi thấy
giữa gia đình ông T với ông S sử dụng đất ổn định, không tranh chấp ranh giới
giữa các thửa đất không thay đổi. Tôi không nhớ cthể về thời gian, tuy nhiên
trong quá trình sử dụng đất các bên đã xác lập ranh giới như vợ chồng ông T đã
chôn trụ gỗ, kéo lưỡi B40 phía trước xếp hàng rào đá để phân định giữa các
thửa đất. Còn vợ chồng ông S làm sân nền đất, chôn trụ kéo lưỡi B40 làm ranh
giới cụ thể phân định giữa các thửa đất. Tôi cam kết trình bày nêu trên đúng
chịu trách nhiệm về những nội dung tôi đã khai nhận.
- Ông Lạc Thế D trình bày: Tôi với vợ chồng ông T, vợ chồng ông S cùng
sống, canh tác tại địa phương, quen biết nhau tlâu không mâu thuẫn. Khoảng
năm 1982, tôi khai hoang đất về sinh sống tại địa phương. Khoảng năm 1988
hay 1989, ông S mua đất rẫy, canh tác, vđịa phương tác tại địa phương. sinh
sống. Khoảng năm 1992, gia đình ông T mua đất rẫy, canh Quá trình sử dụng đất,
trước năm 2022 giữa gia đình ông T với gia đình ông S sử dụng đất ổn định, không
tranh chấp, vì giữa các thửa đất đã có ranh giới cụ thể rõ ràng để phân định đất của
ông S với đất của ông T. Tôi cam kết trình bày nêu trên đúng chịu trách
nhiệm về những nội dung tôi đã khai nhận.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk đã quyết định:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 6; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a
khoản 1 Điều 39; Điều 91; điểm b khoản 1 Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 157.
Điều 164, khoản 2 Điều 227, Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163, 164 Bộ luật Dân sự;
8
Khoản 9 Điều 3, khoản 1, 3, 7 Điều 95 Đất đai 2013; điểm đ, khoản 1 Điều 12
Nghị định 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016.
- Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T
Lê Thị Mỹ H. Buộc ông Nguyễn Trường S và bà Phạm Thị Bích H1 trả lại cho ông
T H phần diện tích ông S, H1 đã sdụng sang phần diện ch đất hộ
ông Nguyễn Thanh T lê Thị Mỹ H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AE 988581, cấp ngày 25/7/2006 là: 74,9 m
2
, tcận: Đông giáp đất
ông T, cạnh dài 0,4 m; Tây giáp đất tranh chấp giữa hộ ông T hộ ông S, cạnh
dài 1,3m; Nam giáp đất ông S, cạnh dài 110,6 m; Bắc giáp đất ông T, cạnh dài
100,2 m. Buộc ông Nguyễn Trường S Phạm Thị Bích H1 trách nhiệm
tháo dỡ các trụ bê tông, trụ gỗ, hàng rào lưới B40 gia đình ông S và H1
trồng trên đất.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T
Thị Mỹ H về các nội dung: Yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Trường S
Phạm Thị Bích H1:
- Trả lại cho ông T diện tích đất ông S đã lấn chiếm của gia đình ông
Nguyễn Thanh T 29,7 m
2
đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ
ông Nguyễn Thanh T Lê Thị Mỹ H được cấp buộc ông S , H1 tháo dỡ
trụ rào, công trình xây dựng trên đất;
- Trả lại lối đi chung diện tích 228, 4 m
2
tháo dỡ trụ rào, hàng rào,
chuồng dê các công trình mà ông S, bà H1 xây dựng trên đất.
(Có bản vẽ sơ đồ hiện trạng kèm theo)
3. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trường S về nội dung yêu
cầu Tòa án hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AE 988581, cấp ngày 25/7/2006 cho hộ ông Nguyễn Thanh T đối với
thửa đất số 72, tờ bản đồ số 15; địa chỉ thửa đất tại Thôn T, D, huyện E, tỉnh
Đăk Lăk;
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số P 094278 diện tích 6.240 m
2
, cấp
ngày 31/5/1999, thửa đất số 74, tờ bản đồ 15, đất tọa lạc tại thôn T, xã D, huyện E,
tỉnh Đăk Lăk.
Ông Nguyễn Trường S quyền khởi kiện lại nội dung này bằng một vụ án
khác khi có yêu cầu.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí quyền
kháng cáo cho các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 09/10/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T kháng cáo, đề nghị cấp
phúc thẩm sửa một phần Bản án dân s thẩm theo hướng buộc bị đơn ông
Nguyễn Trường S giữ nguyên lối đi chung có diện tích 228,4 m
2
.
9
Ngày 13/10/2025, bị đơn ông Nguyễn Trường S kháng cáo, đề nghị cấp
phúc thẩm sửa một phần Bản án dân sự thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả lại 74,9 m
2
đất buộc nguyên đơn phải
chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Người
kháng cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan
điểm về vụ án:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Kháng cáo của nguyên đơn ông ông Nguyễn Thanh T bị
đơn ông Nguyễn Trường S không căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ
khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân snăm 2015 - Không chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn bị đơn, giữ nguyên bản án dân sự thẩm số số 37/2025/DS-
ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên:
[1] V tố tụng: Đơn kháng cáo của các đương sự đơn làm trong hạn luật
định đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét, giải quyết theo trình
tự phúc thẩm.
[2] V nội dung: Xét kháng cáo của các đương sự, nhận thấy:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn tháo dỡ các trụ
rào trả lại diện tích đất lấn chiếm bờ ranh diện tích 187,5 m
2
, chiều ngang
đoạn đầu 2m và đoạn sau 0,5m, chiều dài 150m, HĐXX xét thấy:
Theo kết quả đo đạc hiện trạng thực tế thể hiện: Diện tích phần đất tranh
chấp (ranh giới) giữa đất ông S ông T tổng diện tích là 104,6 m
2
, gồm 02
phần:
- Phần diện tích đất tranh chấp 66 m
2
theo kết quả đo vẽ hiện trạng sử dụng
đất thể hiện: Cạnh Phía Tây dài 2,2m; Cạnh Phía Bắc dài 57.9m; Cạnh phía Nam
dài 58,7m. Hiện trạng trên đất thể hiện bờ ranh bằng bờ đá. Điểm đầu cạnh
phía tây giáp đường có 01 trụ gỗ rào lưới B40; Đoạn lưới B40 rào dọc sân bê tông
dài 12m, chân tường cao bình quân 30cm; 01 bụi chuối đã già; 09 cây phê; 01
cây cau; 13 trụ tông trong đó 02 trụ tông trụ rào bọc lưới B40 trên
phần sân bê tông và 11 trụ bê tông nằm dọc trên diện tích đất tranh chấp; 05 trụ gỗ
có dây tiêu gồm 04 trụ có dây tiêu sống và 01 trụ có dây tiêu chết.
- Phần diện tích đất tranh chấp 38,6 m
2
theo kết quả đo vẽ hiện trạng sử
dụng đất thể hiện: Cạnh phía bắc giáp đất ông T dài 24,3m; Cạnh phía Nam giáp
10
đất ông S dài 21,3m; Cạnh phía đông giáp đất ông T ngang 0,4m. Theo kết quả
thẩm định bổ sung các đương sự xác định trên phần diện tích đất tranh chấp này
01 cây me rừng, các bên thừa nhận cây me rừng là vị trí xác định ranh giới sử dụng
đất và các bên không có tranh chấp ranh giới này.
Theo các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ vụ án thể hiện: Gia
đình ông Nguyễn Thanh T được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận quyền s
dụng đất số AE 988581 ngày 25/7/2006, thửa đất số 72, tbản đồ số 15, Diện tích
được cấp là 16.698 m
2
; địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã D, huyện E, Đ. Theo kết quả
đo đạc diện tích đất thực tế hiện nay gia đình ông T đang quản lý sử dụng là:
10.616,2m
2
, diện tích đất theo ranh giới chỉ dẫn của ông Nguyễn Thanh T
10.720,8 m
2
.
Gia đình ông Nguyễn Trường S được UBND huyện E cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số P 094278 ngày 31/5/1999, thửa đất số 74, tờ bản đồ số 15,
Diện tích được cấp là 6.240 m
2
; địa chỉ thửa đất tại thôn T, xã D, huyện E, Đ. Theo
kết quả đo đạc diện tích đất thực tế hiện nay gia đình ông T đang quản sử dụng
là 9.224,2m
2
.
Như vậy diện tích đất thực tế gia đình ông Nguyễn Thanh T, Thị Mỹ
H đang sử dụng nhỏ hơn diện tích đất được cấp. Diện tích đất thực tế gia đình ông
Nguyễn Trường S quản sử dụng lớn hơn phần diện tích đất hộ ông Nguyễn
Trường S được cấp. Qua đồ lồng ghép tham khảo của Công ty cổ phần Đ2 thì
tọa độ cấp giấy chng nhận quyền sử đất cho các đương skhông trùng khớp với
vị trí các thửa đất trên thực tế. Tòa án cấp thẩm đã văn bản đề nghị Chi
nhánh văn phòng đăng đất đai huyện E cung cấp thông tin liên quan đến việc
diện tích các thửa đất nêu trên sự chênh lệch giữa diện tích được cấp diện
tích thực tế (BL120) và biên bản làm việc ngày 26/12/2024 với đại diện Chi nhánh
đăng đất đai huyện E vviệc đồ thửa đất được cấp giấy chứng nhận và hiện
trạng thực tế sử dụng giữa hai thửa đất schồng lấn (BL169). Tuy nhiên chưa
có kết quả trả lời cụ thể của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện E. Căn cứ
theo quy định tại khoản 5 Điều 98 Luật Đất đai 2013 trong trường hợp diện tích
đất thực tế có sự chênh lệch so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ranh
giới sử dụng đất không thay đổi, không có tranh chấp tại thời điểm cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất thì phải tôn trọng ranh giới sdụng đất. Do đó, trong
trường hợp trên Tòa án cấp thẩm chcăn cứ vào đồ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để giải quyết là chưa xem xét đầy đủ tính khách quan, toàn diện
của vụ án.
Qua lời khai của những người làm chứng ông Nguyễn Kim H2, ông
Nguyễn Văn S1, ông Đỗ Tiến S2, ông Lạc Thế D là những người sinh sống lâu đời
tại địa phương, không tranh chấp hay mâu thuẫn với nguyên đơn, bị đơn,
trong đó ông Nguyễn Kim H2 từng xóm trưởng tổ trưởng tổ an ninh của
thôn đều thể hiện nội dung: Gia đình ông Nguyễn Trường S mua đất sinh sống
tại địa phương từ những năm 1989, 1990 còn gia đình ông Nguyễn Thanh T mua
đất của ông Lê Văn T3 và sinh sống tại địa phương từ những năm 1992, sau đó gia
11
đình ông T đã nhờ cán bộ thôn buôn (trong đó có ông H2) đến chứng kiến giữa gia
đình ông T ông S căng dây theo đúng ranh giới đã để phân định ranh giới
giữa các thửa đất. Quá trình sdụng đất, gia đình ông S đã làm sân nền đất, chôn
trụ gỗ và kéo lưới B40, sau này làm sân nền Xi măng và phía sau gần cuối thửa đất
rẫy có y Me rừng tự nhiên làm ranh giới giữa các thửa đất. Gia đình ông T chôn
trụ gỗ, kéo lưới B40 phía trước kể tkhi mua đất rẫy đến nay, gia đình ông T
thường xuyên nhặt đá tự nhiên ở rẫy của ông T để xếp thành hàng rào đá phân định
ranh gới giữa thửa đất của vợ chồng ông S vợ chồng ông T. Qúa trình sử dụng
đất các bên không có tranh chấp gì.
Nguyên đơn thừa nhận bờ ranh bằng bờ kè đá là do nguyên đơn tự đắp đá kè
bờ trong quá trình sử dụng đất và tự chôn 01 trụ gỗ có rào lưới B40 điểm đầu cạnh
phía tây giáp đường đi trong khoảng 10 năm đổ lại đây. Tuy nhiên, bị đơn cho
rằng bờ đá được hình thành từ năm 1992 nguyên đơn đã tự chôn trụ cọc gỗ
rào lưới B40 từ trên 30 năm nay để làm ranh giới sử dụng đất. Nguyên đơn cho
rằng trong quá trình sử dụng đất nguyên đơn cho bị đơn mượn phần đất để làm
sân bóng chuyền hiện nay bị đơn đã đổ sân tông trên phần đất mượn của
nguyên đơn, tuy nhiên nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh
việc cho bị đơn mượn đất làm sân bóng chuyền. Lời khai của bị đơn về việc hình
thành bờ đá làm ranh giới sử dụng đất giữa hai gia đình phù hợp với lời khai
của những người làm chứng sinh sống tại địa phương. Quá trình sinh sống nguyên
đơn bị đơn cũng không phát sinh tranh chấp về ranh giới sử dụng đất trong
một thời gian dài. Như vậy, trong trường hợp này cần phải tôn trọng lịch sử hình
thành sử dụng đất, việc nguyên đơn tự đắp đá làm bờ xác định ranh giới
đóng trụ gỗ rào lưới B40 thể hiện nguyên đơn đã thừa nhận vị trí ranh giới sử
dụng đất nên việc nguyên đơn khởi kiện đối với phần diện tích đất tranh chấp 66
m
2
là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với phần diện tích tranh chấp 38,6 m
2
, các đương sự đều thừa nhận trên
phần diện tích đất tranh chấp này 01 cây me rừng đã tồn tại từ lâu đời vị trí
xác định ranh giới sử dụng đất và các bên không tranh chấp vtrí ranh giới này.
Như vậy, việc nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại diện tích 38,6 m
2
không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích nhận định trên, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc
bị đơn trả lại diện tích đất ranh giới tranh chấp 104,6 m
2
không căn cứ chấp
nhận. Cần sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên
đơn.
[2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn giữ nguyên
hiện trạng lối đi chung, không được rào chắn lối đi chung diện tích chiều dài
70m, chiều ngang 3m, HĐXX xét thấy:
Theo kết quả đo đạc, phần diện tích con đường tranh chấp ông T H
cho rằng lối đi chung diện tích là 228,4 m
2
. tứ cận: Bắc giáp đất ông S,
Nam giáp đất ông H3, Tây giáp đất C1 đường đi, Bắc giáp đất ông Đ1. Hiện
trạng vẫn đang thể hiện lối đi. Lối đi này phần lớn nằm trong phần diện tích thửa
12
đất số 72, tờ bản đồ số 15, gia đình ông Nguyễn Thanh T không được cấp giấy
chứng nhận quyền sử đất đối với diện tích này. Mặt khác, theo hồ địa chính
(bản đồ địa chính đo đạc 1999 - 2001) ranh giới cạnh giữa thửa đất 74 (ông S) và
74a (ông H3) không thể hiện con đường đi (Bút lc 198).
Tại khoản 1 và khoản 7 Điều 95 quy định:
Đăng ký đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất
1. Đăng đất đai bắt buộc đối với người sử dụng đất người được
giao đất đquản lý; đăng quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất
thực hiện theo yêu cầu của chủ sở hữu.
...
7. Việc đăng đất đai, tài sản gắn liền với đất hiệu lực kể từ thời điểm
đăng ký vào Sổ địa chính.
Đối với lối đi chung theo yêu cầu của ông Nguyễn Thanh T, gia đình ông T
không được cấp quyền sử dụng đất đối với diện tích này. Trên bản đồ đo đạc tổng
thể cũng không thể hiện lối đi chung. Thửa đất số 72 của ông Nguyễn Thanh T đã
lối đi vào, không bị vây bọc bởi các bất động sản khác. Do vậy, Tòa án cấp
thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thanh T Thị Mỹ H về
yêu cầu trả lại lối đi chung buộc gia đình ông S tháo dỡ các công trình chuồng
dê, trụ rào trên diện tích đường đi là không có căn cứ.
[3]. Đối với yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số AE 988581, cấp ngày 25/7/2006 cho hộ ông Nguyễn Thanh
T đối với thửa đất số 72, tờ bản đồ số 15; địa chỉ thửa đất tại Thôn T, D, huyện
E, tỉnh Đăk Lăk; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 094278 diện tích 6.240
m
2
, cấp ngày 31/5/1999, thửa đất số 74, tờ bản đồ 15, đất tọa lạc tại thôn T, D,
huyện E, tỉnh Đăk Lăk.
Tại cấp sơ thẩm ông Nguyễn Trường S đã rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu
cầu hủy 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên. Nên cấp thẩm đã đình
chỉ yêu cầu khởi kiện này của ông Nguyễn Trường S là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Sửa
Bản án dân sự thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 9 Đ theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[4]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận
nên nguyên đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng theo quy định pháp luật.
[5] Về án phí: Do sửa bản án thẩm nên án phí dân sự thẩm được xem
xét lại theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
13
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Sửa Bản án dân sự thẩm số 37/2025/DS-ST ngày 30/9/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 9 - tỉnh Đắk Lắk.
[2] Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39;
khoản 1 Điều 147; Điều 148; Điều 157. Điều 165, Điều 271; khoản 1 Điều 273 của
Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163, 164
Bộ luật Dân sự; Khoản 9 Điều 3, khoản 1, 3, 7 Điều 95 Đất đai 2013; điểm đ,
khoản 1 Điều 12 Nghị định 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016.
Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn
Thanh T và bà Thị Mỹ H về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Trường S tháo dỡ
các trụ rào, trả lại diện tích đất lấn chiếm ranh giới 104,6 m
2
và tháo dỡ rào chắn
lối đi chung 228,4 m
2
.
[3] Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trường S về nội dung u
cầu Tòa án hủy 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số AE 988581, cấp ngày 25/7/2006 cho hộ ông Nguyễn Thanh T đối với
thửa đất số 72, tờ bản đồ số 15; địa chỉ thửa đất tại Thôn T, xã D, huyện E (Nay
thôn T, xã E), tỉnh Đăk Lăk.
Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số P 094278 diện tích 6.240 m
2
, cấp
ngày 31/5/1999, thửa đất số 74, tờ bản đồ 15, đất tọa lạc tại thôn T, D, huyện E
(Nay là thôn T, xã E), tỉnh Đăk Lăk.
Ông Nguyễn Trường S quyền khởi kiện lại nội dung này bằng một vụ án
khác khi có yêu cầu.
[4] Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thanh T bà Thị Mỹ H phải chịu
toàn bộ chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ tại Tòa án cấp thẩm, được
khấu trừ vào tiền tạm ứng chi phí tố tụng ông T, H đã nộp tại Tòa án nhân dân
huyện Ea H'leo (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 - Đắk Lắk) và đã chi phí xong.
Ông Nguyễn Thanh T Thị Mỹ H phải chịu 4.000.000 đồng tiền
xem xét thẩm định bổ sung tại cấp phúc thẩm. Số tiền này bị đơn ông Nguyễn
Trường S đã nộp tạm ứng đã chi pxong nên cần buộc ông Nguyễn Thanh T
và bà Lê Thị Mỹ H trả lại cho ông Nguyễn Trường S số tiền 4.000.000 đồng.
[5] Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự thẩm: Miễn toàn bộ án phí Dân sự thẩm cho ông
Nguyễn Thanh T và bà Lê Thị Mỹ H.
Trả lại cho ông Nguyễn Trường S số tiền tạm ứng án p300.000 đồng
theo biên lai thu tiền tạm ứng án psố 0011982 ngày 21/02/2024 đã nộp tại Chi
14
cục Thi hành án Dân sự huyện Ea H’leo, tỉnh Đăk Lăk (nay phòng Thi hành án
Khu vực 9 - Đ).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thanh T được miễn án phí dân sự
phúc thẩm.
Ông Nguyễn Trường S được nhận lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm theo biên lai thu tiền số 0004149 ngày 07/11/2025 tại Thi hành án
dân sự tỉnh Đắk Lắk.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật
Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TAND Tối cao; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 1;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;(Đã ký)
- Phòng THADS khu vực 1;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Th My My
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 373/2026/DS-PT Bản án số 373/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 373/2026/DS-PT Bản án số 373/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất