Bản án số 324/2026/DS-PT ngày 17/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 324/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 324/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 324/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 324/2026/DS-PT ngày 17/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 324/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 17/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q xác định phần đất do vợ chồng ông bà nhận chuyển nhượng hợp pháp từ vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Hồng T1 và sử dụng trong thời gian dài. Việc bà Hồ Thị Mỷ H ngang nhiên vào chiếm giữ đất, chặt phá cây trồng là không đúng qui định của pháp luật nên khởi kiện yêu cầu bà Hồ Thị Mỷ H, những người có liên quan tháo dỡ các công trình để trả lại phần đất theo diện tích đo đạc thực tế là 780m2 và bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bằng số tiền là 10.000.000 đồng. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 324/2026/DS-PT
Ngày: 17 - 4 - 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương
Các Thẩm phán: Ông Trương Thanh Dũng
Bà Hoàng Thị Hải Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thúy Nguyên, là Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Ngọc Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 17/4/2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm
công khai vụ án dân sự thụ lý số: 718/2025/TLPT-DS ngày 17 tháng 12 năm 2025,
về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 110/2025/DS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 175/2026/QĐ-PT ngày 12 tháng
02 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phạm Quốc T, sinh năm 1960 (có mặt); CCCD số
096060006798, cấp ngày 25/8/2021 và bà Huỳnh Thị Q, sinh năm 1968 (có mặt);
CCCD số 096168012195, cấp ngày 28/9/2021; Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T,
tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Bà Hồ Thị Mỷ H, sinh năm 1958 (có mặt); CCCD số
096158004694, cấp ngày 28/9/2021; Địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1967 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Hồng T1, sinh năm 1970 (vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là ấp H, xã T,
tỉnh Cà Mau).
2
- Chị Giang Thị Ánh M, sinh năm 1982 (con ông B1, bà H; vắng mặt); Địa
chỉ cư trú: Số A, tỉnh lộ 15, xã T, C, TP Hồ Chí Minh.
- Chị Giang Thị Ánh N1, sinh năm 1985 (con ông B1, bà H; vắng mặt); Địa
chỉ cư trú: Ấp C, xã T, C, TP Hồ Chí Minh.
- Anh Giang Đình V, sinh năm 1988 (con ông B1, bà H; vắng mặt).
- Anh Giang Tấn D, sinh năm 1997 (con ông B1, bà H; vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1974 (vắng mặt).
- Bà Dương Kiều O (vợ ông B; vắng mặt).
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau.
- Ủy ban nhân dân xã T (vắng mặt); Địa chỉ: Khóm A, xã T, tỉnh Cà Mau.
- Ngân hàng N2 (gọi tắt A); Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, TP Hà Nội
(vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của A: Ông Phạm Anh C, chức vụ: Phó giám
đốc (văn bản ủy quyền số 2665/QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022).
4. Người kháng cáo: Bà Hồ Thị Mỷ H (là bị đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo lời trình bày của các bên đương sự và kết quả xét xử sơ thẩm, vụ án
được tóm tắt như sau:
Vợ chồng ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q tranh chấp với bà Hồ Thị
Mỷ H phần đất theo đo đạc thực tế có diện tích 780m
2
, tọa lạc tại ấp H, xã T, tỉnh
Cà Mau. Phần đất tranh chấp thuộc thửa đất số 598, tờ bản đồ số 19, Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất Số Y 588298 ngày 10/11/2003 do vợ chồng ông Nguyễn
Văn N, bà Nguyễn Thị Hồng T1 đứng tên, đồng thời thuộc một phần thửa đất số
355, tờ bản đồ số 15, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0081860 cấp ngày
28/02/1996 do ông Giang Văn B1 đứng tên.
Nguồn gốc phần đất tranh chấp trước năm 1998, do ông Nguyễn Văn C1
(cha của ông Nguyễn Thanh B) quản lý sử dụng, ông Nguyễn Văn C1 đã kê khai
cho con là ông Nguyễn Thanh B đứng tên và ông Nguyễn Thanh B đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0179103 ngày 17/3/1995 (cấp theo quyết
định số 206/QĐ-UB ngày 30/5/1994). Theo sơ đồ khu đất thì phần đất tranh chấp
thuộc thửa đất số 598 tờ bản đồ số 19, diện tích 885m
2
. Khoảng năm 1997, ông
Nguyễn Văn C1 và ông Nguyễn Thanh B tặng cho phần đất trên cho ông Nguyễn
Văn Ú cất nhà, mở phòng mạch để điều trị bệnh. Đến ngày 08/10/2000, ông
Nguyễn Văn Ú chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Hồng
T1, thủ tục chuyển nhượng và sang tên do ông Nguyễn Thanh B trực tiếp giao dịch
và thực hiện. Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Hồng T1 đã được cấp giấy
3
chứng nhận quyền sử dụng đất Số Y 588298, ngày 10/11/2003, thửa đất số 598, tờ
bản đồ số 19, diện tích 885m
2
. Trong diện tích đất được cấp cho ông Nguyễn
Thanh B thì có phần đất thuộc thửa đất số 357 tờ bản đồ số 15 (giáp thửa đất đang
tranh chấp) ông Nguyễn Thanh B thừa nhận là đất của ông Giang Văn B1, bà Hồ
Thị Mỷ H và do vợ chồng ông Giang Văn B1 sử dụng nhưng lại cấp quyền sử
dụng cho ông Nguyễn Thanh B.
Năm 2004, vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Hồng T1 đã
chuyển nhượng phần đất tại thửa đất số 598, tờ bản đồ số 19, diện tích 885m
2
cho
vợ chồng ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q, việc chuyển nhượng chưa được
sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2017, bà Hồ Thị Mỷ H và ông
Giang Văn B1 (ông B1 đã chết năm 2021) vào chiếm phần đất của vợ chồng ông
Phạm Quốc T, chặt phá cây trồng và dẫn đến tranh chấp. Trong thời gian chờ cơ
quan giải quyết vụ việc thì vợ chồng bà Hồ Thị Mỷ H tiếp tục thuê cơ giới cuốc
phá mặt bằng, dùng cây cấm, xịa bực sông; cất chuồng trại chăn nuôi, trồng cây
trên đất và sử dụng đến nay.
Ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q xác định phần đất do vợ chồng ông bà
nhận chuyển nhượng hợp pháp từ vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị
Hồng T1 và sử dụng trong thời gian dài. Việc bà Hồ Thị Mỷ H ngang nhiên vào
chiếm giữ đất, chặt phá cây trồng là không đúng qui định của pháp luật nên khởi
kiện yêu cầu bà Hồ Thị Mỷ H, những người có liên quan tháo dỡ các công trình để
trả lại phần đất theo diện tích đo đạc thực tế là 780m
2
và bồi thường thiệt hại do tài
sản bị xâm phạm bằng số tiền là 10.000.000 đồng.
Bà Hồ Thị Mỷ H cho rằng, nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Hồ Thành
L (cha của bà Hồ Thị Mỷ H) được Nhà nước cấp theo diện chính sách. Năm 1982,
ông Hồ Thành L tặng cho phần đất cho vợ chồng bà (chồng bà là ông Giang Văn
B1). Ông Giang Văn B1 kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất vào ngày 28/02/1996, diện tích 30.960m
2
thuộc thửa số
041, 355, 356 tờ bản đồ số 10, 15. Sau khi được tặng cho đất thì vợ chồng bà đã
quản lý, sử dụng. Riêng phần đất tranh chấp có diện tích diện tích 885m
2
thì vợ
chồng bà không có quản lý, sử dụng vì có tranh chấp với ông Nguyễn Văn C1 từ
năm 1982. Năm 2017, khi thực hiện việc đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất thì ông Giang Văn B1 phát hiện phần đất tranh chấp thuộc một phần
diện tích tại thửa đất 355, tờ bản đồ số 15 đã được cấp cho ông Nguyễn Văn N với
diện tích 885m
2
nên từ đó vợ chồng bà đã chiếm lại đất để quản lý, sử dụng nên bà
không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q.
Ông Lê Thanh B2 cho rằng, nguồn gốc phần đất tranh chấp cùng với việc
kê khai cấp quyền sử dụng đất, tặng cho ông Nguyễn Văn Ú rồi chuyển nhượng
cho vợ chồng ông Nguyễn Văn N và ông Nguyễn Văn N chuyển nhượng lại cho vợ
chồng ông Phạm Quốc T là đúng với diễn biến vụ việc đã nêu. Ông và cha của ông
4
(là ông Nguyễn Văn C1) không có mượn đất của vợ chồng bà Hồ Thị Mỷ H. Việc
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp đã được thực hiện cấp
cho ông trước khi cấp cho ông Giang Văn B1 và thửa đất tranh chấp vẫn được tiếp
tục cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn N vào năm 2003 tại thửa đất số 598 nhưng
khi cấp quyền sử dụng đất cho ông Giang Văn B1 tại thửa đất số 355 tờ bản đồ số
15 thì cấp chồng lấn diện tích phần đất tại thửa đất số 598 đã cấp cho ông trước đó.
Ngoài ra, trong diện tích đất cấp quyền sử dụng đất cho ông thì có phần đất tại thửa
đất số 357 là phần đất của vợ chồng ông Giang Văn B1 nhưng lại cấp quyền sử
dụng đất cho ông đứng tên.
Ngân hàng N2 – Chính nhánh Huyện T xác định anh Giang Tấn D (con của
bà Hồ Thị Mỷ H) có vay tiền và thế chấp giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất tại Ngân hàng vào ngày 21/11/2024, thời hạn trả nợ cuối cùng
20/11/2025, số tiền vay 280.000.000 đồng, số tiền lãi tính đến ngày 07/08/2025 là
5.316.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 285.316.000 đồng. Tài sản thế chấp là
phần đất có diện tích 30.960m
2
theo giấy chứng nhận số E 0081860 do ông Giang
Văn B1 đứng tên đã được chuyển tên quyền sử dụng cho anh Giang Tấn D vào
ngày 21/12/2022 với hình thức là thừa kế (chỉnh lý biến động trang 4). Nên việc
giải quyết tranh chấp có liên quan đến nghĩa vụ trả nợ và biến động đến tài sản thế
chấp yêu cầu buộc người vay phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán vốn và lãi nợ vay
theo hợp đồng.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 110/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 2 - Cà Mau quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q.
Buộc bà Hồ Thị Mỷ H, chị Giang Thị Ánh M, chị Giang Thị Ánh N1, anh Giang
Đình V, anh Giang Tấn D giao trả cho ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q phần
đất theo bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 28/12/2022 của Công ty trách nhiệm hữu
hạn P thuộc thửa giả định số 1, 2 có vị trí, kích thước, diện tích theo đo đạc thực tế
như sau: Mặt giáp kênh xáng Láng Trâm mốc M1, M2, N1, N2, N3, M3 dài
22.63m; cạnh giáp thửa 1086 (Bền) mốc M4, M5, M6 dài 27.45m; cạnh bên phải
(nhìn từ kênh L trở vô) giáp thửa 1087 mốc M1, M6 dài 36.41m; cạnh bên trái
(nhìn từ) giáp kênh cấp 3 mốc M3, N4, N5, M4 dài 28.09m, tổng diện tích 780m
2
.
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Giang Văn B1
cấp theo quyết định số 206/QĐ.UB ngày 30/5/1994, số phát hành E 0081860, số
vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 12494, cấp ngày 28/02/1996 (để
thừa kế cho Giang Tấn D ngày 21/12/2022) thuộc một phần thửa 355 tờ bản đồ số
15.
- Hủy một phần hợp đồng thế chấp số 7502LCL202300953/HĐTC ngày
05/7/2023 giữa Ngân hàng N2 với anh Giang Tấn D tương đương với phần diện
tích đất giao cho ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q sử dụng.
5
- Ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q được liên hệ cơ quan có thẩm quyền
làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Buộc anh Giang Tấn D và bà Hồ Thị Mỷ H bồi thường thiệt hại do tài sản
bị xâm phạm cho ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q số tiền 10.000.000 đồng
(mười triệu đồng).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q về
việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh B.
Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Hồ Thị Mỷ H về việc yêu cầu ông Phạm Quốc T,
bà Huỳnh Thị Q bồi thường thiệt hại về tài sản.
- Buộc bà Hồ Thị Mỷ H, chị Giang Thị Ánh M, chị Giang Thị Ánh N1, anh
Giang Đình V, anh Giang Tấn D khai thác, di dời các cây trồng và tháo dỡ công
trình trên đất tranh chấp trả đất lại cho ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q. Giữ y
các cây ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q trồng.
- Buộc anh Giang Tấn D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N2 số tiền
vốn vay 280.000.000 đồng, số tiền lãi tính đến ngày 07/08/2025 là 5.316.000 đồng,
tổng cộng gốc và lãi là 285.316.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm triệu ba trăm
mười sáu nghìn đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 08/8/2025 đến khi thanh toán
dứt nợ cho A, mức lãi suất theo hợp đồng tín dụng đã ký với A. Trường hợp anh D
không thanh toán nợ thì A có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp còn lại để thu
hồi nợ cho A.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo bản án theo luật định.
Ngày 08/10/2025, bà Hồ Thị Mỷ H kháng cáo, yêu cầu sửa Bản án sơ
thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ
án; của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
tại phiên tòa đúng quy định pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của
bà Hồ Thị Mỷ H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 110/2025/DS-ST ngày
24/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Kháng cáo của bà Hồ Thị Mỷ H được thực hiện trong hạn luật định và
hợp lệ nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét về quan hệ pháp luật, ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q tranh
chấp với bà Hồ Thị Mỷ H về quyền sử dụng đối với phần đất theo đo đạc thực tế
6
có diện tích 780m
2
, tọa lạc tại ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau. Tòa án cấp sơ thẩm xác
định quan hệ pháp luật về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” và áp dụng các quy
định của Bộ luật dân sự, Luật Đất đai để giải quyết là có căn cứ.
[3] Xét về nội dung tranh chấp và kháng cáo của bị đơn cho thấy:
[3.1] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp theo ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh
Thị Q xác định là đất của ông Nguyễn Văn C1 và ông Nguyễn Văn C1 đã kê khai
cho con là ông Nguyễn Thanh B đứng tên quyền sử dụng đất từ năm 1995. Năm
1997, ông Nguyễn Văn C1 và ông Nguyễn Thanh B tặng cho phần đất trên cho ông
Nguyễn Văn Ú và đến năm 2000 chuyển nhượng lại cho ông Nguyễn Văn N, bà
Nguyễn Thị Hồng T1. Ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Hồng T1 đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2003, thửa đất số 598, tờ bản đồ số
19, diện tích 885m
2
. Năm 2004, vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị
Hồng T1 đã chuyển nhượng phần đất trên cho vợ chồng ông Phạm Quốc T, bà
Huỳnh Thị Q. Năm 2017, bà Hồ Thị Mỷ H và ông Giang Văn B1 vào chiếm phần
đất của vợ chồng ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q với lý do là phần đất có
nguồn gốc của ông Hồ Thành L (cha của bà Hồ Thị Mỷ H) được cấp theo diện
chính sách, cho lại cho vợ chồng bà Hồ Thị Mỷ H. Ông Giang Văn B1 kê khai và
cũng đã được cấp quyền sử dụng đất tại một phần diện tích thuộc thửa đất số 355
tờ bản đồ số 15.
[3.2] Xét về hồ sơ đất đai cho thấy, tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số E 0179103 ngày 17/3/1995 thì ông Nguyễn Thanh B không được cấp diện tích
phần đất tại thửa đất số 598 này trong khi thửa đất này đang do ông Nguyễn Văn
C1 và ông Nguyễn Thanh B quản lý sử dụng nhưng lại được cấp quyền sử dụng
cho ông Giang Văn B1 tại một phần diện tích thuộc thửa đất số 355, tờ bản đồ số
15 (cấp vào năm 1996). Bên cạnh đó, phần đất tiếp giáp với thửa đất số 598 là thửa
đất số 357 do vợ chồng ông Giang Văn B1 quản lý sử dụng thì ông Giang Văn B1
không được cấp quyền sử dụng đất của thửa đất số 357 mà lại cấp quyền sử dụng
đất cho ông Nguyễn Thanh B. Việc cấp quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh
B và ông Giang Văn B1 không thể hiện việc đo đạc, xác định vị trí, diện tích đất
trên thực địa mà chỉ thông qua việc kê khai của người sử dụng đất. Sau khi thực
hiện việc chuyển nhượng đất từ ông Nguyễn Thanh B sang cho vợ chồng ông
Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Hồng T1 thì ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị
Hồng T1 đã được cấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 598, tờ bản đồ số 19, diện
tích 885m
2
, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số Y 588298, ngày 10/11/2003.
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn
Thị Hồng T1 là cấp đúng vị trí thửa đất, cấp đúng người sử dụng đất nhưng lại cấp
chồng lấn một phần diện tích thửa đất số 355 đã cấp quyền sử dụng trước đó cho
ông Giang Văn B1 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0081860 ngày
28/02/1996.
7
Tại biên bản làm việc ngày 14/4/2026, Văn phòng Đ đã xác định là khi cấp
quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh B tại thửa đất số 357, sau đó ông
Nguyễn Thanh B đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn N và vợ
chồng ông Nguyễn Văn N đã được cấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 598, khi
cấp quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nguyễn văn N có chồng lấn một phần
diện tích đất tại thửa 355 đã cấp cho ông Giang Văn B1. Tại khu vực đất đang
tranh chấp, ngoài thửa đất số 598 đã cấp cho vợ chồng ông Nguyễn Văn N thì ông
Nguyễn Thanh B không còn thửa đất nào khác tại khu vực này.
Từ hồ sơ đất đai nêu trên cho thấy, phần đất tranh chấp tại thửa đất số 598
không do vợ chồng bà Hồ Thị Mỷ H, ông Giang Văn B1 quản lý, sử dụng nhưng
lại được cấp quyền sử dụng tại thửa đất số 355 bao trùm luôn cả phần diện tích đất
đang do ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Thanh B quản lý, sử dụng (tại thửa 598
hiện đang tranh chấp). Còn diện tích đất tại thửa đất số 357 là đất không có tranh
chấp và do vợ chồng bà Hồ Thị Mỷ H, ông Giang Văn B1 quản lý sử dụng nhưng
lại được cấp quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh B theo Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số E 0179103 ngày 17/3/1995. Tại thời điểm cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho ông Giang Văn B1 tại thửa đất số 355 thì có phần đất
(thuộc thửa đất số 598 đang tranh chấp) do ông Nguyễn Văn C1 và ông Nguyễn
Thanh B quản lý, sử dụng đất nên việc cấp quyền sử dụng đất thuộc diện tích thửa
đất số 355 cho ông Giang Văn B1 là không đảm bảo quy định của pháp luật, cấp
không đúng người sử dụng đất và việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông Nguyễn Thanh B và ông Giang Văn B1 đã có sự sai sót, nhầm lẫn về vị trí
thửa đất, người sử dụng đất được cấp quyền sử dụng.
[3.3] Xét về quá trình sử dụng đất thì từ trước năm 2017, phần đất tranh
chấp không do ông Giang Văn B1, bà Hồ Thị Mỷ H quản lý, sử dụng mà người sử
dụng đất là ông Nguyễn Văn C1. Sau đó, được tặng cho lại ông Nguyễn Văn Ú xây
cất phòng mạch khám bệnh. Đến tháng 10/2000, chuyển nhượng lại cho vợ chồng
ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Hồng T1 và vợ chồng ông Nguyễn Văn N
cũng đã xây cất nhà ở, làm cơ sở kinh doanh. Năm 2004, vợ chồng ông Nguyễn
Văn N chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q. Vợ
chồng ông Phạm Quốc T được giao đất và trồng cây lâu năm, trồng cây ăn trái,
quản lý sử dụng đất cho đến năm 2017 không có sự phản đối của vợ chồng ông
Giang Văn B1, bà Hồ Thị Mỷ H. Năm 2017, ông Giang Văn B1 mới phát hiện
phần diện tích đất đang tranh chấp đã được cấp quyền sử dụng đất cho ông và cũng
được cấp quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Nguyễn Văn N nên vợ chồng ông
Giang Văn B1, bà Hồ Thị Mỷ H mới vào chiếm giữ đất, chặt phá cây trồng, xây
dựng chuồng trại để chăn nuôi. Bà Hồ Thị Mỷ H cho rằng phần đất tranh chấp là
thuộc một phần diện tích đất được Nhà nước cấp cho ông Hồ Thành L theo diện
chính sách và vợ chồng bà đã cho ông Nguyễn Văn C1 mượn đất để sử dụng. Tuy
nhiên, ngoài việc cấp quyền sử dụng đất như đã nhận định trên thì không có căn cứ
8
nào để chứng minh là ông Nguyễn Văn C1 mượn đất. Kể cả việc tranh chấp đất với
ông Nguyễn Văn C1 từ năm 1982 thì ngoài lời khai của bà Hồ Thị Mỷ H thì không
có tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, hơn nữa nếu có việc tranh chấp phát
sinh từ năm 1982 thì không có đủ điều kiện để cấp quyền sử dụng đất cho ông
Nguyễn Văn C1, ông Giang Văn B1 và vợ chồng ông Nguyễn Văn N. Trải qua
thời gian dài sử dụng đất, xây cất nhà ở, công trình trên đất, trồng cây lâu năm,
tặng cho và chuyển nhượng đất qua nhiều người nhưng vợ chồng bà Hồ Thị Mỷ H
không phản đối, không khởi kiện, cho đến khi phát hiện phần đất được cấp quyền
sử dụng thì mới vào chiếm giữ đất. Từ các căn cứ trên, Tòa án cấp sơ thẩm không
thừa nhận phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông Giang Văn B1, bà Hồ
Thị Mỷ H là phù hợp và có căn cứ.
Hiện tại, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn N,
bà Nguyễn Thị Hồng T1 với ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q các bên không có
ý kiến tranh chấp và phần đất chuyển nhượng cũng đã được vợ chồng ông Nguyễn
Văn N giao cho vợ chồng ông Phạm Quốc T từ năm 2004. Từ đó, Tòa án cấp sơ
thẩm buộc bà Hồ Thị Mỷ H cùng với những người có quyền, nghĩa vụ liên quan,
người thuộc hàng thừa kế của ông Giang Văn B1 tháo dỡ, di dời các công trình,
cây trồng trên đất tranh chấp để giao trả lại đất cho vợ chồng ông Phạm Quốc T, bà
Huỳnh Thị Q là phù hợp.
[3.4] Đối với việc anh Hồ Tấn D1 thừa kế quyền sử dụng đất từ ông Giang
Văn B1, bà Hồ Thị Mỷ H bao gồm toàn bộ diện tích đất tranh chấp là không đúng
quy định của pháp luật cũng như việc thế chấp quyền sử dụng phần đất đang tranh
chấp cho Ngân hàng để vay tiền là không đúng với quy định chung. Tòa án cấp sơ
thẩm tuyên hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số E 0081860 ngày
28/02/1996 do ông Giang Văn B1 đứng tên chuyển quyền sử dụng cho anh Giang
Tấn D thừa kế được chỉnh lý biến động đất đai từ ngày 21/12/2002 và hủy một
phần Hợp đồng thế chấp tài sản liên quan đến diện tích phần đất đang tranh chấp
theo đo đạc thực tế là tổng diện tích 780m
2
là có căn cứ.
[3.5] Đối với thiệt hại tài sản đã xảy ra về cây trồng, cải tạo mặt bằng thì
các bên thống nhất mức thiệt hại tương đương số tiền 10.000.000 đồng. Do phần
đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà Hồ Thị Mỷ H nhưng
bà Hồ Thị Mỷ H đã vào chiếm đất, chặt phá cây trồng gây ra thiệt hại cho vợ
chồng ông Phạm Quốc T. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Hồ Thị Mỷ H và anh
Giang Tấn D chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho vợ chồng ông Phạm Quốc
T là có căn cứ.
[4] Từ những căn cứ trên, không chấp nhận kháng cáo của bà Hồ Thị Mỷ
H. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 110/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cà Mau.
[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù
9
hợp, nên chấp nhận.
[6] Đối với yêu cầu phản tố của bà Hồ Thị Mỷ H về việc yêu cầu nguyên
đơn bồi thường thiệt hại về tài sản nhưng bà Hồ Thị Mỷ H đã rút lại yêu cầu phản
tố cùng với việc ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q rút yêu cầu về việc hủy một
phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh B. Tòa án cấp sơ
thẩm đã đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bà Hồ Thị Mỷ H, đình chỉ một
phần yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q là đúng quy định
của pháp luật.
[7] Phần đất do ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q nhận chuyển nhượng
từ ông Nguyễn Văn N, bà Nguyễn Thị Hồng T1 và hiện nay các bên không có ý
kiến tranh chấp nên giao cho các bên tự thỏa thuận thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng và yêu cầu xem xét cấp quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
[8] Việc anh Giang Tấn D vay tiền và thế chấp tài sản để vay tiền tại Ngân
hàng N2 Chi nhánh T2 đã được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết và các bên đương sự
không kháng cáo.
[9] Bà Hồ Thị Mỷ H được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bà Hồ Thị Mỷ H. Giữ nguyên Bản
án dân sự sơ thẩm số: 110/2025/DS-ST ngày 24/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu
vực 2 - Cà Mau.
2. Áp dụng các Điều 26; 34, 147, 157; 165, 244 của Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 164; 165, 166, 175, 180, 182, 183, 595 của Bộ luật Dân sự; Điều 31, 100,
166; 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q.
Buộc bà Hồ Thị Mỷ H, chị Giang Thị Ánh M, chị Giang Thị Ánh N1, anh Giang
Đình V, anh Giang Tấn D tháo dỡ, di dời các công trình, cây trồng trên đất để trả
lại đất cho ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q phần đất có diện tích 780m
2
, tọa lạc
tại ấp H, xã T, tỉnh Cà Mau. Vị trí phần đất buộc giao trả được xác định tại thửa đất
số 1 và thửa đất số 2, theo các mốc: M1M2N1N2N3M3N4N5M4M5M6 của Bản
trích đo hiện trạng ngày 28/12/2022 của Công ty trách nhiệm hữu hạn P (kèm theo
bản trích đo).
- Hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số E 0081860, ngày
28/02/1996 do ông Giang Văn B1 đứng tên (chuyển quyền sử dụng cho anh Giang
Tấn D thừa kế được chỉnh lý biến động đất đai ngày 21/12/2022) đối với phần đất
10
có diện tích 780m
2
thuộc một phần thửa 355 tờ bản đồ số 15, Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất Số E 0081860, ngày 28/02/1996.
- Hủy một phần hợp đồng thế chấp số 7502LCL202300953/HĐTC ngày
05/7/2023 giữa Ngân hàng N2 với anh Giang Tấn D tương đương với phần diện
tích đất 780m
2
giao cho ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q.
- Buộc bà Hồ Thị Mỷ H và anh Giang Tấn D bồi thường thiệt hại về tài sản
cho ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q bằng số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu
đồng).
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q về
việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh B.
Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Hồ Thị Mỷ H về việc yêu cầu ông Phạm Quốc T,
bà Huỳnh Thị Q bồi thường thiệt hại về tài sản.
- Buộc anh Giang Tấn D có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N2 số tiền
vốn gốc là 280.000.000 đồng, số tiền lãi suất tính đến ngày 07/08/2025 là
5.316.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 285.316.000 đồng (hai trăm tám mươi lăm
triệu ba trăm mười sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày 08/8/2025, anh Giang Tấn D còn phải tiếp tục chịu khoản tiền
lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa
thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp
trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay
theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp
tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được
điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay. Trường
hợp anh Giang Tấn D không thanh toán hoặc thanh toán không đủ các khoản nợ
nêu trên, thì buộc anh Giang Tấn D phải có trách nhiệm giao tài sản thế chấp cho
Cơ quan thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo luật định.
- Buộc bà Hồ Thị Mỷ H và anh Giang Tấn D hoàn trả lại cho ông Phạm
Quốc T, bà Huỳnh Thị Q chi phí thẩm định, đo đạc là 5.026.000 đồng và chi phí
thẩm định giá tài sản là 5.060.000 đồng, tổng cộng là 10.086.000 đồng (mười triệu
không trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người
phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành
án còn phải chịu thêm khoản lãi suất chậm thi hành theo mức lãi suất chậm thực
hiện nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm anh Giang Tấn D phải chịu số tiền 16.451.000
đồng (mười sáu triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn đồng). Bà Hồ Thị Mỷ H được
miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ông Phạm Quốc T, bà Huỳnh Thị Q không phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm và được nhận tại tiền tạm ứng án phí là 1.710.000 đồng theo
11
biên lai thu tiền số 0015234 ngày 03/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
Thới Bình (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 2 – Cà Mau) và số tiền
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0012174 ngày 23/7/2025
của Thi hành án dân dân sự tỉnh C. Ngân hàng N2 không phài chịu án phí dân sự
sơ thẩm và được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã dự nộp là 7.132.900 đồng (bảy
triệu một trăm ba mươi hai nghìn chín trăm đồng) tại biên lai thu tiền số 0012217
ngày 13/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau.
3. Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Hồ Thị Mỷ H.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 2 – Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thế Phương
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm