Bản án số 58/2026/DS-PT ngày 14/04/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 58/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 58/2026/DS-PT ngày 14/04/2026 của TAND tỉnh Thái Nguyên về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thái Nguyên
Số hiệu: 58/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Triệu Đức T và Triệu Quang Ấ tranh chấp lối đi chung
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 58/2026/DS-PT
Ngày 14/4/2026
V/v Tranh chấp lối đi chung
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lý Thị Thúy
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Anh Tuấn
Ông Hoàng Văn Giang
- Thư ký phiên tòa:Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà:
Ông Nông Văn Đổi Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân tỉnh Thái
Nguyên mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số
18/2026/DS-PT ngày 24/02/2026 về việc “Tranh chấp lối đi chung”.
Do Bản án dân sự thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 6 – Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 45/2026/QĐ-PT ngày 12
tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Triệu Đức T, sinh năm 1973;
Địa ch: Thôn B, xã T, tnh Thái Nguyên Có mt.
Ngưi bo v quyn li ích hp pháp của nguyên đơn: Hoàng Th Thu H,
Tr giúp viên pháp lý ca Trung tâm T5, tnh Thái Nguyên Có mt.
* B đơn: Ông Triu Quang Ấ, sinh năm 1984;
Địa ch: Thôn B, xã T, tnh Thái Nguyên Có mt.
Ngưi bo v quyn li ích hp pháp của nguyên đơn: Nông Th L Q,
Tr giúp viên pháp lý ca Trung tâm T5, tnh Thái Nguyên Có mt.
* Người có quyn li, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Triu Th T1, sinh năm 1974 - Có mt.
2. Bà Triu Th P, sinh năm 1985 - Có mt.
3. Anh Triu Ngc S, sinh năm 1995 - Vng mt.
4. Ch La Th H1, sinh năm 1996 - Vng mt.
2
5. Bà Triu Th S1, sinh năm 1950 - Vng mt.
Đều có địa ch: Thôn B, xã T, tnh Thái Nguyên.
* Những người làm chng:
1. Ông Phạm Văn L, sinh năm 1961;
2. Bà Phm Th K, sinh năm 1968;
3. Ông Triệu Văn T2, sinh năm 1952;
4. Ông Hà Văn D, sinh năm 1963;
5. Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1978;
Đều có địa ch: Thôn B, xã T, tnh Thái Nguyên.
Tt c những người làm chng đều vng mt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa
sơ thẩm nguyên đơn trình bày:
Năm 2001 tôi b m ông Triu Xuân L1 bà Triu Th S1 góp tin
mua chung một khu đất vi ông Đào Văn L2, trên khu đất gia đình tôi mua 01
đường đi dài khoảng 25m rng 2,5m s dụng để cho con nhân dân trong thôn
cùng đi, đường này t khoảng năm 1980. Sau khi mua bố m tôi tách cho ông
mt phần đất. Năm 2011 thôn T làm được đường khác đi tránh nên mọi người
không còn di chuyển theo đường này. m 2013 khi đo đạc để cp giy chng nhn
quyn s dụng đất thì tôi bo ông là tách riêng con đưng này ra, th hin trên bn
đồ nhưng ông bo c để gp vào phần đất ca ông Ấ. Năm 2014 tôi đ tông
đoạn đường này 1,5m để đi lại d dàng hơn, năm 2015 ông phá đường tông để
m rng rung và bo tôi s để đưng khác qua b ao để gia đình tôi đi. Từ đó gia
đình tôi đi li qua b ao trước ca nhà ông cho đến tháng 4 năm 2024 thì do tranh
chp nên ông đã rào đường lại không cho gia đình tôi đi qua đt ca nhà ông
na. T đó đến nay gia đình tôi phi xin hàng xóm m đường cho đi nhờ trong thi
gian xy ra tranh chấp. Con đường này có t lâu nên tt c mọi người trong thôn đều
biết, đi lại, ô 5 tấn đi li ch ci, ch g thường xuyên. Ngoài con đường này gia
đình tôi không còn đường khác đi, hiện xin hàng xóm đi nhờ, đường này đi lại cũng
khó khăn, vòng vèo dốc cao, trời mưa không thể đi xe máy được. Tôi xác định để
đi t nhà tôi ra đường liên thôn thì đi qua nhà ông là tin nhất, đề ngh Tòa án xem
xét gii quyết m cho gia đình tôi một con đường đi qua nhà ông để gia đình tôi
đường đi lại. Năm 2013 khi đo đc làm s ông Lưu Đình B hin cán b địa
chính xã M và trưởng thôn là Hà Văn T4.
Đơn yêu cầu thay đổi ni dung khi kin ca Triệu Đức T ngày 28/11/2025, ông
T yêu cu nay tôi thy phần đi trước đây ông đã cải to thành rung, nếu làm
3
đưng qua s ảnh hưởng đến vic canh tác ca ông . Do vy tôi yêu cu ông cho
tôi m lối đi hợp lý qua bất động sn lin k ca ông ti v trí là phần đường ông
đã để lại cho tôi đi để thay thế đường qua sân nhà và bờ ao nhà ông Ấ, đoạn qua
sân nhà đến b sui rng khoảng 02m, đoạn qua b ao chiu rng 1,6m. Vic
đền bù theo quy định ca pháp lut.
* Ti bn t khai, các biên bn ly li khai tại phiên tòa thẩm bị đơn
trình bày:
- Ti biên bn ly li khai ngày 18/02/2025 trong quá trình gii quyết v án
b đơn ông Triu Quang trình bày:
Năm 2001 b tôi là Triu Xuân L1 mua ca Đào Văn L2 mt mảnh đất, trên khu
đất này không đường đi con nhân dân chỉ men theo b sui cạnh đất ca b tôi
khi có nhiều nước thì đi vào ven đất ca b tôi để tránh nước. Khoảng năm 2011 bố
tôi chia đất cho hai anh em mỗi người mt na, phần đất ca tôi i phn ông T
phía trên. Năm 2013 hai gia đình đo đạc để đề ngh cp Giy chng nhn quyn s
dụng đất thì không th hiện đường đi trong Giấy chng nhận. Năm 2015 tôi thuê máy
xúc san i phần đất của tôi để làm ruộng đến b suối nên gia đình ông T không đi lại
nữa xin đi qua con đưng b ao trước nhà tôi. Đến năm 2018 tôi bảo nếu đi
đường này thì đổi cho tôi mt phần đất ca ông T nhưng ông T không đồng ý. Đu
năm 2024 mâu thuẫn nên tôi đào b ao xuống sâu 1m rào đường li không cho
gia đình ông T đi qua nữa. Ông T ra đường lớn thì đi qua đt nhà tôi thun tin
nhất, tuy nhiên gia đình ông T vn th đi lại qua đất ca ông Trần Văn H2
Phạm Văn T3 con đường hin ti ông T đang đi. Tôi không đng ý vi yêu cu
khi kin ca ông T.
Biên bn ghi li khai ca Triu Quang ngày 01/12/2025 ni dung: Tôi
không nht trí cho Triệu Đức T m lối đi qua trước ca nhà b ao của tôi, Trước
đây tôi cho ông T đi lại đường này nhưng do giữa tôi ông T mâu thun vi nhau
nên nay không cho đi na. Lối đi hiện nay ông T yêu cầu đi qua trước đây đoạn t
suối lên trước cửa nhà tôi là 1,8m, đoạn qua b ao khong 0,8m. Lối đi này nm trên
thửa đất s 17, t bản đ 48 gia đình tôi đã được cp Giy chng nhn quyn s dng
đất. Đất này gồm đất trồng cây lâu năm đất ở. Đoạn qua nhà tôi đất còn đoạn
qua ao đt nông nghip. Nếu Tòa án gii quyết theo yêu cu ca ông T thì tôi u
cu ông T phải đền bù cho gia đình tôi số tin 30.000.000
đ
(Ba mươi triệu đồng).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Triu th S1 trình bày: Tôi m đẻ ca Triệu Đức T Triu Quang ,
biết vic ông T đang khi kin ông ti Tòa án v vic tranh chp lối đi chung.
Ngun gốc đất trước đây của v chng tôi là Triu Th S1 Triu Xuân L1 (ông
L1 đã mất), mua vi ông Đào Văn L2 ông Văn D vào khoảng đầu năm 2000-
4
2001. Khi mua các con không đóng góp tiền, khi mua đất 01 con đường rng
khoảng 01m đi qua đt, mọi người trong thôn vẫn thường xuyên đi lại cho đến khi
thôn m đưng dân sinh thì mới không đi nữa. Sau khi mua đất v chng tôi chia làm
hai phn, phn ca tôi chung vi ông T, phn ca ông chung vi ông , v chng
tôi dựng 01 căn nhà nh để sng riêng, v chng tôi gia đình ông T vẫn đi li con
đường qua khu đt ca ông . Khi ông T ông đưc cp giy chng nhn quyn
s dụng đất thì ông m rng ruộng và phá con đường đi qua đất có t lâu, t đó gia
đình tôi gia đình ông T đưc ông cho đi lại qua b ao để vào nhà. Sau khi ông
L1 chết gia ông Tông phát sinh mâu thun lúc này tôi v vi ông Ấ. Sau đó
ông chn lối đi bờ ao không cho nhà ông T đi lại na, ông T phi xin hàng xóm m
đường cho đi nhờ để vào nhà. Hin nay ông T khi kin tôi yêu cu gii quyết theo
quy định ca pháp lut.
- Triu Th T1 trình bày: v ca Triu Đc T, ch dâu ca Triu
Quang , tôi kết hôn vi ông T vào năm 1990. Năm 2001 ông T b m góp tin
mua chung khu đt vi ông Đào Văn L2, trên khu đất gia đình tôi mua một con
đường đã từ lâu, khi tôi v làm dâu cũng đi con đưng này. Sau mt thi gian b
m chng tách mt phần đt này cho ông Ấ. Năm 2011 thôn T làm đường khác đ
tránh lũ nên mọi người không còn đi con đưng này nhiu nữa. Năm 2013 khi hai gia
đình đo đạc đ cp Giy chng nhn quyn s dụng đất ông T bo ông tách
riêng con đường này ra th hin trên bản đồ tuy nhiên ông bo c gp vào, gia
đình tôi ng không ý kiến gì. Năm 2014 gia đình tôi đổ ng đoạn đường này
rộng 1,5m để đi lại cho d dàng hơn. Khoảng 01 năm sau ông phá con đường để
m rng rung nói với gia đình tôisẽ để gia đình tôi đi lại con đường khác qua
b ao trước ca nhà ông , t đó gia đình tôi đi lại con đường qua b ao nhà ông
cho đến năm 2024. Sau khi bố chng tôi mt thì hai anh em phát sinh u thun
tranh chp, t tháng 4/2024 gia đình ông Ấ rào lại đường và không cho đi qua. Từ đó
đến nay gia đình tôi phi xin hàng xóm m đường cho đi nhờ trong thi gian gii
quyết tranh chấp. Con đưng hin nay ch đi nhờ đi lại khó khăn, vòng vèo và dc
cao, trời mưa không thể đi xe máy được. Con đường đi lại trước đây đường dân
sinh liên thôn, mọi người trong thôn đều đi lại, đường qua trước nhà ông t năm
2014 đến năm 2024 thì rộng khong 1,5m, sau đó bờ ao l dần nên đường b thu hp
lại còn không đến 1m, đi lại khó khăn. Đường này hàng ngày bà con vẫn đi lại ly
củi, thăm đồi cây, t khi ông ngăn cản không cho đi thì con lại đi nhờ theo con
đường gia đình tôi xin hàng xóm cho đi nhờ. Tôi xác định đường đi qua nhà ông
thun tin nht cho việc đi lại của gia đình tôi con hàng xóm, nht trí vi
yêu cu khi kin của nguyên đơn ông Triệu Đức T.
- Ông Triu Ngc S ngày 29/11/2025: Tôi nht trí yêu cu khi kin ca b
Triệu Đức T v vic m lối đi qua thửa đất ca chú để vào nhà ca tôi b m
5
tôi. Nhà của tôi xây năm 2018, ca tôi v là La Th H1, gia đình tôi đăng
thưng trú trong h ca b tôi. Thửa đất s 18 vẫn đng tên ông ni ca tôi tuy nhiên
ngày 31/8/2022 ông ni Triu Xuân L1 bà ni Triu Th S1 đã lập hợp đồng tng
cho quyn s dụng đất đối vi thửa đất này cho tôi, ti Phòng C. Hiện tôi chưa làm
th tc sang tên. Hin tôi cùng b m đi nhờ qua thửa đất 19 t bản đồ s 48 ca
ông Phạm Văn T3 sau đó qua thửa đất s 17 ca ông Triu Quang , tiếp đến qua
thửa đất lâm nghip ca ông Phạm Văn T3 mới đến thửa đất s 18 ca ông Triu
Xuân L1 đứng tên. Trước năm 2024 gia đình tôi đi li vào nhà bằng con đường t b
sui K đi lên vào thửa s 17 ca ông ri qua ca nhà, b ao nhà ông đến thửa đất
s 15 ca b Triệu Đức T rồi đi vào nhà tôi thửa đất s 18. Khi ông san ủi đường
thành ruộng thì cho gia đình tôi đi lại qua trước ca nhà ông Ấ, sau đó qua bờ
ao ca ông để vào đất của gia đình tôi. Lối đi gia đình tôi đi lại t năm 2017 đến
2024 có chiu dài khong 25m, chiu rộng đoạn rng nht là khoảng 02m (đoạn t b
suối đến trước ca nhà ông Ấ), đoạn hp nhất là 1,6m (đoạn qua b ao).
- La Th H1 trình bày: Tôi con dâu ca ông Triệu Đức T, tôi ông S
một căn nhà cấp bn trên thửa đất s 18 t bản đồ s 48 được ông ni ông Triu
Xuân L1 và bà ni là Triu Th S tng cho ngày 31/8/2022, trước năm 2024 gia đình
tôi đi lại bằng con đường t b sui K lên thửa đất s 17 t bản đ s 48 ca ông
Triu Quang Ấ, qua trước ca nhà ông , tiếp đến qua b ao nhà ông , rồi đến tha
đất s 15, t bn đồ 48 ca ông T ri mới đến thửa đt của tôi. Trước đây có một con
đưng mòn c thôn đi li qua thửa đt s 17 ca ông Ấ, nhưng đến năm 2017 ông
san i thành 02 tha rung thì các h trong thôn đi lại con đường khác, còn gia đình
tôi đi lại qua trước ca nhà ông . Hin nay tôi nht trí vi yêu cu khi kin ca ông
T v vic m lối đi qua thửa đất ca ông để vào nhà tôi và nhà b mi.
- Triu Th Phương trình B1: Tôi là v ca ông Triu Quang , em dâu
ca ông Triệu Đức T. Kết hôn vi ông năm 2006. Sau khi kết hôn vi ông tôi v
sng ti thôn B, xã M. Đến khoảng năm 2007 bố m chia đt bng ming cho hai anh
em, ông T nhn phn ngoài, ông nhn phn trong lin k vi nn nhà ca ông L1,
lúc đó vợ chng tôi vn sng chung vi b m ti nhà cnh nhà ông T hin nay còn
ông T sng nhà hin ti. C b m gia đình ông T, gia đình tôi đu s dng con
đưng cnh b suối, men bãi soi để đi lại. Đến năm 2013 khi hai gia đình đo đạc để
cp giy chng nhn quyn s dụng đất thì ông T mới đổi ý mun ly phần đất phía
trong, gia ông T ông phát sinh mâu thuẫn, cãi nhưng vn nhất trí đổi. Hai
bên thng nhất đổi đất cho nhau tha thun ông để đưng ven bãi soi cho gia
đình ông T đi lại còn ông T để đường mương sát bãi soi đ gia đình tôi lấy nước vào
rung. Khoảng năm 2015 gia đình tôi ci tạo bãi soi để làm rung, trong quá trình ci
to thì cháu S con ông T xung xin v chồng tôi đổi 2m chiu rng dc theo
đưng biên giữa hai nhà đ ly mt lối đi vĩnh viễn qua b ao của gia đình tôi nhưng
6
ông T T1 không đồng ý. Nhưng gia đình ông T vẫn đi qua b ao nhà tôi. Năm
2024 mâu thun giữa hai gia đình nên gia đình tôi không cho ông T đi nhờ qua b ao
của gia đình na. Hiện nay gia đình ông T đang đi nhờ đất của người khác qua sau
nhà tôi, trước đây chưa mở đưng dân sinh phía bên kia b sui tmọi người trong
thôn đi nương rẫy đều đi lại qua bãi soi sát b sui. T khoảng năm 2004 thì chỉ còn
ba gia đình chúng tôi đi lại. Để đi từ nhà ông T ra đường vn có th qua b rung sát
b sui tuy nhiên hin nay mâu thuẫn ng thẳng nên gia đình chúng tôi không đ
cho gia đình ông T đi nữa.
Những ngưi làm chng:
- Ông Phạm Văn L trình bày: T khi tôi sinh ra, lớn lên đã thấy con đường
rng khoảng 2,5 m đi qua đt ca ông và ông T, con đường đã có từ lâu mọi người
trong thôn vẫn thường xuyên đi lại con đường này. Khoảng năm 2011 địa phương
m đưng dân sinh nên mọi người đi đường mi và ít qua lại đường qua đất nhà ông
T, ông nên ch còn nông T ông thường xuyên đi li. Sau này, thy ông
m rng ruộng và phá con đường cũ (đường trước đó mọi ngưi vẫn thường xuyên đi
lại), đồng thời gia đình ông T đi lại qua b ao để vào nhà.
- Phm Th K trình bày: T khi tôi còn nh đã thấy con đường mòn đi qua
đất ca ông T ông , con đường này mọi người trong thôn, vẫn thường xuyên
đi lại, t khi địa phương m con đường dân sinh tmi người mới ít đi lại con
đường này, con đưng v sau này ch yếu là gia đình nhà ông T và gia đình ông Ấ đi
lại thường xuyên, v sau thy ông m rng ruộng và phá đường này đi và gia đình
ông T phía bên trong phải đi qua b ao ca ông để vào nhà, đến năm 2024 không
hiểu nguyên do gia đình ông rào lại không cho gia đình ông T đi qua, gia đình
ông T phi xin nhà hàng xóm m đường đi qua vườn quýt để vào nhà.
- Ông Triệu Văn T2 trình bày: Tôi sng ti khu vc này t năm 1994, khi tôi
chuyển đến đây đã thấy con đưng đất nh, mọi người trong thôn cùng đi li
thường xuyên, đường đi qua đất nhà ông L2 đất nhà ông D v sau này ông L2
ông D bán li cho ông L1 và bà S1, khi ông L1 và bà S1 chuyển đến vẫn đường
đi lại. Sau này địa phương mở đưng khác mọi người mới ít đi li ch yếu gia
đình ông T ông đi lại vào nhà (đường đi qua trước nhà ông bây giờ). Đường
hin nay ông đã phá, san i thành rung, sau khi phá đường gia đình ông T phải đi
qua b ao của gia đình ông để vào nhà, khong một năm gần đây không hiu
nguyên do gì gia đình ông rào b ao không cho gia đình ông T đi qua, ông T phi
xin m đưng đi qua đất hàng xóm để vào nhà.
- Ông Văn D trình bày: Khu đất hiện nay gia đình ông T ông đang quản
s dụng trước đây của gia đình tôi đã qun và s dng, trng cây t m
7
1980. Đến khoảng năm 2000 ông Triu Xuân L1 mua li với giá 7.000.000 đồng. Khi
gia đình tôi quản lý, s dng đã có một con đường mòn đ hàng xóm mọi người cùng
đi lại, sau này khi địa phương mở đưng dân sinh khác thì mọi người mới ít đi li
con đường này, nay con đưng sau này do ông san i m rng ruộng, gia đình nhà
ông T phải đi lại qua b ao nhà ông Ấ, đến khi ông rào li b ao ông T phi xin
hàng xóm m đường khác để đi vào nhà.
- Ông Phạm Văn T3 trình bày: Tôi vi ông T và ông không có quan h anh em,
h hàng không mâu thun gì. Theo tôi nắm được thì trước đây 1 con đưng
đi chung qua trước nhà ông Ấ, bà con trong thôn và gia đình tôi đi lại qua đường này
để sinh hot, sn xuất, Sau đó Nhà nước m con đường khác nên gia đình tôi
con trong thôn không đi đường này na, ch còn gia đình ông T đi qua đường này.
sau này ông phá đi để làm rung, ông T phải đi nhờ qua đất nhà ông để vào nhà.
Năm 2024 ông T và ông xy ra mâu thun, ông không cho ông T đi qua nhà ông
na nên ông T đến gia đình tôi xin mở 1 con đường qua đt của tôi để vào nhà, tôi
đồng ý để cho ông T m lối đ đi li khi nào gii quyết xong vic tranh chp tôi
không cho đi nhờ na.
Tại Bản án thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 29/12/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 6-Thái Nguyên đã tuyên xử:
Áp dng khon 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158,
Điều 164, Điều 165, Điều 166, Điều 228, Điều 271, Điều 273/B lut t tng dân s
2015; Điều 254/ B lut Dân s 2015; Điều 95, Điều 171/Luật đất đai năm 2013
Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 ca Ủy ban thường v Quc
hội quy định v mc thu, thu, np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án.
Chp nhn toàn b yêu cu khi kin của nguyên đơn ông Triệu Đức T. Buc
ông Triu Quang phi tr li din tích lối đi chung 77,4m
2
, ti thửa đt s 17, t
bản đồ s 48 đã được cp Giy chng nhn quyn s dụng đt s BU 256084 cp
ngày 05/11/2013, địa ch: P, thôn Bn Pá, T, huyn C, tnh Bc Kn (nay T,
tnh Thái Nguyên).
Ông Triệu Đức T đưc s dng phần đất din tích 77,4m
2
để làm lối đi
chung được gi hn bi các mc t 19,20,21,22,23,24,25,26,27,28,29, 30,31,19 (theo
biên bn xem xét thẩm định ti ch ngày 21/11/2025 ca Toà án nhân dân khu vc 6
Thái nguyên, có sơ đồ kèm theo bn án).
Sau khi bn án hiu lc pháp lut, ông Triệu Đức T, ông Triu Quang
Triu Th P có tch nhiệm đến cơ quan quản đất đai đăng ký biến động đất đai
đối vi thửa đất s 17, t bản đồ s 48 do y ban nhân dân huyn C, tnh Bc Kn
8
cp Giy chng nhn quyn s dụng đt s BU 256084, ngày 05/11/2013 cho h ông
Triu Quang bà Triu Th P.
y ban nhân dân T, tnh Thái Nguyên trách nhim chnh lý, b sung vào
Giy chng nhn quyn s dụng đất s BU 256084 đối vi thửa đất s 17, t bản đồ
s 48 do UBND huyn C, tnh Bc Kn cp ngày 05/11/2013 cho h ông Triu
Quang và bà Triu Th P phn lối đi chung có din tích 77,4m
2
.
Ngoài ra Bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của các đương sự.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026 bị đơn Triệu Quang kháng cáo toàn bộ bản án
dân sự thẩm số: 13/2025/DSST ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 6 - Thái Nguyên, đề nghị Tòa án sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị đơn ý kiến: Gi nguyên nội dung đơn kháng cáo. Yêu cầu HĐXX sửa bản
án số 13/2025/DSST ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 -
Thái Nguyên với các do: Đất do bố mẹ ông mua của ông L2 ông D không
đường đi, mọi người men theo bờ suối để đi. Lối đi ông cho gia đình ông T đi từ năm
2015 nằm trong GCNQSDĐ của gia đình ông và ông chỉ cho đi nhờ. Con đường hiện
tại nhà ông T đang đi nhờ qua đất của hàng xóm cũng khá tiện lợi, chỉ có một đoạn là
dốc tức, chỉ cần cải tạo thêm đi được. Hiện nay người dân trong làng không ai đi
qua lại lối đi hiện đang tranh chấp. Trường hợp phải mở lối đi thì buộc nhà ông T
đền bù số tiền 30.000.000 đồng.
Nguyên đơn ý kiến: Không nhất trí với nội dung kháng cáo của bị đơn đề
nghị giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm.
Những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: T1 nhất trí với ý kiến của
ông T; bà P nhất trí với ý kiến của ông Ấ.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của người tiến hành tố tụng
đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của người
tham gia tố tụng: các đương sự thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự.
Về nội dung:
Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp
nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn; giữ nguyên Bản án dân sự thẩm s
13/2025/DSST ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Thái
Nguyên.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN
[I] Về thủ tục tố tụng:
9
[1]. Xét kháng cáo của đương sự: làm trong thời hạn luật định hợp lệ nên
được xem xét theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2]. Về việc vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người
làm chứng. Những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nời làm chứng đã được
Tòa án triệu tập hợp lệ, đơn xin xét xử vắng mặt và đều không kháng cáo. Quá
trình giải quyết tại sơ thẩm đã có lời khai trong hồ vụ án. HĐXX xét xử vắng mặt
những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan người làm chứng theo quy định của
pháp luật.
[II]. Về nội dung:
[2.1]. Xét kháng cáo ca b đơn HĐXX thấy rng:
V ngun gốc đất và quá trình s dng s dng lối đi chung:
Năm 2001 ông Triu Xuân L1 Triu Th S1 mua ca ông Đào Văn L2
ông Văn D một khu đất và đất vườn, sau khi mua xong ông L1 S1 chia
khu đất trên làm 03 phần cho ông các con, đến năm 2008 thì được cp Giy
CNQSDĐ. Cụ th ông L1, bà S1 qun lý, s dng 543m
2
đất, trong đó có 300m
2
đất
và 243m
2
đất vườn; ông Triệu Đc T và bà Triu Th T1 đưc chia 1468m
2
đt trong
đó 300m
2
đất 1168m
2
đất vườn; ông Triu Quang Triu Th P đưc
chia 895m
2
đất, trong đó 300m
2
đất 595m
2
đất vườn.
Đến năm 2013 đo đạc để cp li, cấp đổi Giấy CNQSDĐ thì ông Triu Xuân L1
Triu Th S1 đưc cấp GCNQSDĐ số BU 256085 cp ngày 05/11/2013, tha
đất s 18, t bản đồ s 48, địa ch: Khu , thôn Bn Pá, xã T, huyn C, tnh Bc Kn;
din tích 885,2m
2
, trong đó 300m
2
đất nông thôn 585,2m
2
đất trng cây lâu
năm khác. Ông Triệu Đức T và bà Triu Th T1 đưc cấp GCNQSDĐ s BU 256083
cp ngày 05/11/2013, thửa đt s 15, t bản đồ s 48,; địa ch: P, thôn B, xã T, huyn
C, tnh Bc Kn; din tích 1656,3m
2
, trong đó có 300m
2
đất nông thôn và 1356,3m
2
đất trồng cây lâu năm khác. Ông Triu Quang và bà Triu Th P đưc cp
GCNQSDĐ số BU 256084 cp ngày 05/11/2013, thửa đt s 17, t bản đồ s 48,; địa
ch: P, thôn B, T, huyn C, tnh Bc Kn; din tích 1182,8m
2
, trong đó 300m
2
đất nông thôn và 882,8m
2
đất trồng cây lâu năm khác.
Trước khi ông L1 mua khu đất trên thì đã một lối đi chung cho mọi người
trong thôn, s dụng đi lại để lao động, sn xuất. Sau khi chia đất thì đất ca ông
L1 và ông T phía trong, đ vào nhà phải đi qua lối mòn trên đt ca ông Triu
Quang Ấ. Năm 2011 thôn T, M m con đường khác tránh nên mọi người trong
thôn không đi lại con đường này, ch gia đình ông L1 ông T đi đường này để
vào nhà. Năm 2015 ông phá con đường này để m rng rung để gia đình ông
L1ông T đi lại con đường khác qua trước ca nhà b ao ca ông đi vào nhà.
Năm 2023 thì ông L1 chết, đến tháng 4/2024 thì giữa gia đình ông T và gia đình ông
phát sinh u thun, ông đã rào đường lại, không cho gia đình ông T đi lại qua
10
đất ca nhà ông na. T đó đến nay ông T phi xin hàng xóm là ông Phạm Văn T3
m đường qua đất ca ông T3 cho đi nhờ để vào nhà.
Những người làm chng Phạm Văn L, Triệu Văn T2, Phạm Văn T3 Phm
Th K đều khẳng định trước đây đã một con đường qua thửa đt s 17 để đi vào
thửa đất s 15 và qua tha 18 vào nhà ông T, đây là đường dân sinh, tt c ngưi dân
trong làng đều đi, năm 2011 khi làm đường dân sinh khác thì ngưi dân con
đưng này ch n ch yếu gia đình ông T, ông và gia đình ông L1 đi lại. Năm
2015 ông đã san lấp đ làm ruộng đồng thời để gia đình ông T đi qua con đường t
b sui vào thửa đất s 17 để vào thửa đất s 15 (đường đi qua cạnh b ao). Người
làm chng Văn D, ch s dụng trước đây của thửa đất cũng khẳng định gia đình
ông s dng thửa đất t những năm 1980 lúc đó trên đất cũng một lối đi chung
trên đất ca ông hin nay, ch khi xã làm đường khác thì mới ít người đi lại.
y ban nhân dân T cũng xác nhận vic một con đường trên đất ca ông
đưc s dng làm lối đi chung, năm 2013 khi cấp giy chng nhn quyn s dng
đất thì không tách con đường ra riêng.
Như vậy, các thửa đất s 15 ca ông Triệu Đc T, tha s 17 ca ông Triu
Quang và tha s 18 hiện đứng tên ông Triu Xuân L1 trước đây là ca ông L1
S1 chia cho ông T ông mỗi người mt phn các thửa đất 17 15 hin
nay. Thời điểm chia đất trên đất vẫn có đường đi và việc đi lại của gia đình ông T qua
thửa đất s 17 ch khác v v trí lối đi do khi ông T phá đường đi có từ trước và để gia
đình ông T đi đường khác, việc đi lại không có gián đoạn cho đến tháng 4 năm 2024
khi ông rào đường và không cho đi na. Ti phiên tòa ông cũng xác nhận đã cải
tạo con đường thành rung và hiện nay ông đang quản lý s dng tha ruộng đó.
T các phân tích trên đ cơ sở để khẳng định trước đây con đưng mòn
dân sinh làm lối đi chung để vào nhà ca ông Triệu Đc T. Năm 2015 ông đã san
lấp để làm ruộng đồng thời đ gia đình ông T đi qua con đường t b sui o tha
đất s 17 để vào tha đất s 15 (đường đi qua cạnh b ao) nhà ông T đã sử dng
con đường này cho đến khi gia đình ông Ấ không cho đi qua nữa.
V lối đi thc tế hiện nay gia đình ông T đang đi qua thì sau khi đi t b sui
vào đất ca ông T3 thì vn phải đi qua thửa s 17 đ vào nhà ông T tha s 18, li
đi này có đon dc tức, đi lại khó khăn, gia đình ông T3 cũng chỉ cho gia đình ông T
đi nhờ qua lối đi này. Đi với con đường mòn đi qua thửa đất s 17 trước đây
hin ông đã phá đi để làm rung, nếu m lại đường v trí này để ông T đi vào
thửa đất s 15 18 ts ảnh hưởng đến vic sn xut chia nh đất ông đang
s dng. Vì vậy, để vào thửa đất s 15 và nhà của gia đình ông T tha s 18 thì đi
qua t b sui vào tha s 17 của gia đình ông theo con đường gia đình ông T đã
đi từ năm 2015 đến đầu năm 2024 thuận tin hợp lý. Ngoài con đường trên
không còn con đường nào khác.
11
V yêu cầu đền s tiền 30.000.000 đồng ca b đơn, HĐXX xét thấy ti thi
đim ông L1, bà S1 chia đất cho các con đã lối đi llói đi này ôgn đã ci to
thành ruộng vào ănm 2015 nên ông phi trách nhim m lối đi khác cho gia
đình ông T do đó không có căn cứ chp nhn yêu cầu đến bù s tin trên.
Tnhững nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy Tòa án cấp thẩm đã thu
thập, đánh giá đầy đủ chứng cứ, căn cứ vào Điều 254/BLDS chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự cũng khẳng định lối đi chung mà tòa án
thẩm đã tuyên không chỉ có gia đình nguyên đơn đi mà cả gia đình bị đơn cũng sử
dụng một phần để vào nhà của bị đơn nên việc Tòa án cấp thẩm xác định cho
nguyên đơn được quyền sử dụng toàn bộ diện tích lối đi trên là không đảm bảo quyền
lợi cho bị đơn do đó HĐXX sẽ tuyên lại nội dung này.
[III]. Về án phí:
Căn cứ Điều 148/BLTTDS, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, b đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, Điều 38, Điều 148, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng
dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn Triệu Quang Ấ, giữ nguyên
Bản án thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 29 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân
Khu vực 6 - Thái Nguyên. Cụ thể:
- Chp nhn toàn b yêu cu khi kin của nguyên đơn ông Triệu Đức T. Buc
ông Triu Quang phi tr li din tích lối đi chung 77,4m
2
, ti thửa đt s 17, t
bản đồ s 48 đã được cp Giy chng nhn quyn s dụng đt s BU 256084 cp
ngày 05/11/2013, địa ch: P, thôn Bn Pá, T, huyn C, tnh Bc Kn (nay T,
tnh Thái Nguyên), được gii hn bi các mc 19,20,21,22,23,24,25,26,27,28, 29,
30,31,19 (theo kết qu đo đạc xem xét thẩm định ti ch ngày 21/11/2025 ca Toà án
nhân dân khu vc 6 Thái nguyên, có sơ đồ kèm theo bn án).
Sau khi bn án hiu lc pháp lut, ông Triệu Đức T, ông Triu Quang
Triu Th P có tch nhiệm đến cơ quan quản đất đai đăng ký biến động đất đai
đối vi thửa đất s 17, t bản đồ s 48 do y ban nhân dân huyn C, tnh Bc Kn
cp Giy chng nhn quyn s dụng đt s BU 256084, ngày 05/11/2013 cho h ông
Triu Quang bà Triu Th P.
12
y ban nhân dân T, tnh Thái Nguyên trách nhim chnh lý, b sung vào
Giy chng nhn quyn s dụng đất s BU 256084 đối vi thửa đất s 17, t bản đồ
s 48 do UBND huyn C, tnh Bc Kn cp ngày 05/11/2013 cho h ông Triu
Quang và bà Triu Th P phn lối đi chung có diện tích 77,4m
2
.
2. V chi phí t tng: Ông Triu Quang phi tr s tin 5.400.000
đ
(Năm triệu
bốn trăm nghìn đồng) cho ông Triệu Đức T chi phí xem xét thẩm định ti ch và định
giá tài sn mà ông T đã chi trả trước.
V nghĩa vụ chm tr: “K t ngày bn án hiu lc pháp lut hoc k t
ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án
xong tt c các khon tin, hàng tháng bên phi thi hành án còn phi chu khon tin
lãi ca s tin còn phi thi hành án còn phi chu khon tin lãi ca s tin còn phi
thi hành án theo mc lãi suất quy định ti khoản 2 Điều 468 B lut dân s năm
2015”.
3. V án phí:
V án phí dân s sơ thẩm: Buc ông Triu Quang phi chu 300.000
đ
(Ba trăm
nghìn đồng) án phí dân s thẩm. Hoàn tr li cho ông Triệu Đức T 300.000
đ
(Ba
trăm nghìn đồng) tin tm ứng án phí đã nộp theo biên lai s 0001941 ngày
10/01/2025 ti Chi cc Thi hành án dân s huyn Ch Mi, tnh Bc Kn (nay
Phòng Thi hành án dân s khu vc 6 Thái Nguyên).
V án phí dân s phúc thm: Ông Triu Quang phi chu 300.000
đ
(Ba trăm
nghìn đồng) án phí dân s phúc thẩm được tr vào s tin tm ứng án phí đã nộp theo
biên lai s 0000186 ngày 14/01/2026 ca Thi hành án dân s tnh Thái Nguyên.
Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng o, kháng nghị.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc
bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 7b 9 Luật thi hành án
dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự”
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND khu vực 6 - TN;
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- Phòng THADS khu vực 6 - TN;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
13
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Lý Thị Thúy
Nơi nhận:
- TAND khu vực 2;
- VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- THADS;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lý Thị Thúy
14
Tải về
Bản án số 58/2026/DS-PT Bản án số 58/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 58/2026/DS-PT Bản án số 58/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất