Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT ngày 29/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 32/2026/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT ngày 29/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 32/2026/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2026
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 32/2026/HNGĐ-PT
Ngày 29-6-2026
V/v tranh chấp về ly hôn,
chia tài sản khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Minh Phương
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Vân Thuý
Bà Vũ Thị Bích Diệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trang – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Bùi Thị Hậu -
Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2026/TLPT-HNGĐ ngày 16 tháng
3 năm 2026 về việc ly hôn, chia tài sản khi ly hôn.
Do bản án Hôn nhân gia đình thẩm số: 15/2026/HN-ST ngày 03
tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 7, thành phố Hải Phòng bị kháng
cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 31/2026/QĐPT-HNGĐ
ngày 13 tháng 5 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số:
30/2026/QĐPT ngày 23 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trịnh Thị H, sinh năm 1963; số CCCD: ************; nơi
cư trú: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Công H1, sinh năm 1965; số CCCD: ************;
nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập:
1. Cụ Nguyễn Thị B, sinh năm 1923; nơi cư trú: Thôn A, G, huyện V (nay
là xã V), thành phố Hải Phòng;
2. Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1972, số CCCD: ************; nơi
ĐKHKTT: Thôn A, xã G, huyện V (nay là V), thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện
nay: Số A N, phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
2
Người đại diện theo ủy quyền của cụ Nguyễn Thị B ông Nguyễn Văn H2:
Nguyễn Thị H3, sinh năm 1974; nơi ĐKHKTT: Số A N, phường N, quận L (nay
phường L), thành phố Hải Phòng; nơi hiện nay: Số E Khu tái định cư, T, phường
A, thành phố Hải Phòng; có mặt;
(Theo Giấy uỷ quyền ngày 07/11/2023)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập:
1. Ông Lương Văn S, nơi cư trú: Thôn G, xã G, huyện V (nay là xã V), thành
phố Hải Phòng; vắng mặt;
2. Công ty Cổ phần C2, Chi nhánh NM tại Hải Dương; địa chỉ: Khu công nghiệp
T, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương (nay là xã M, thành phố Hải Phòng); vắng mặt;
3. Chị Nguyễn Thị Mai H4, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: Thôn A, G,
huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Tái định cư T, phường
A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Nguyễn Thị M H4: Bà Trịnh Thị H, sinh
năm 1963; nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng;
có mặt;
(Theo Giấy uỷ quyền ngày 26/01/2024)
4. Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1991; nơi ĐKHKTT: Thôn A, G, huyện
V (nay xã V), thành phố Hải Phòng; nơi hiện nay: Số nhà E tầng E V Đ, phường
G, thành phố Hà Nội; vắng mặt;
5. Anh Nguyễn Mạnh D, sinh năm 1993; nơi ĐKHKTT: Thôn A, xã G, huyện
V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; vắng mặt;
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Nguyễn Mạnh D: Trịnh Thị H, sinh
năm 1963; s CCCD: ************; nơi cư trú: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã
V), thành phố Hải Phòng; có mặt;
(Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 03/01/2024)
6. Nguyễn Thị T; chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1983; chị Nguyễn Thị T1,
sinh năm 1985; anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1987: cùng địa chỉ: Thôn A, G,
huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt;
7. Ông Nguyễn Văn K; Thị T2; ông Nguyễn Văn K1; anh Nguyễn
Văn K2, sinh năm 1972; anh Nguyễn Văn K3, sinh năm 1975; chị Nguyễn Thị H5,
sinh năm 1976; chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1994; cùng địa chỉ: Thôn A, G,
huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt;
8. Ông Phạm Minh H6; Lương Thị H7, sinh năm 1958; chị Phạm Thị H8,
sinh năm 1977; chị Phạm Thị H9, sinh năm 1980; anh Phạm Minh H10, sinh năm
1983; chị Phạm Thị H11, sinh năm 1985 và anh Phạm Văn H12, sinh năm 1991;
3
cùng địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; đều vắng
mặt;
9. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1975; Phạm Thị Đ, sinh năm 1975; cùng
địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt;
10. Bà Lương Thị L; ông Hoàng Văn S1; anh Hoàng Văn N chị Hoàng Thị
P; cùng địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay V), thành phố Hải Phòng; đều
vắng mặt;
11. Nguyễn Thị T3; cụ Hoàng Thị Đ1, sinh năm 1930; anh Nguyễn Văn Đ2,
sinh năm 1982; anh Nguyễn Xuân N1, sinh năm 1985; chị Nguyễn Thị T4, sinh năm
1990; cùng địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay xã V), thành phố Hải Phòng; đều
vắng mặt;
12. Ông Nguyễn Văn T5 (đã chết);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn T5: Bùi Thị
Đ3; anh Nguyễn Trường L1, sinh năm 1992; cùng địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V
(nay là xã V), thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt;
13. Ông Nguyễn Văn V1; Thị D2, sinh năm 1961; chị Thị Kim O,
sinh năm 1985; chị Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1988; anh Nguyễn Đức C1, sinh
năm 1992; cùng địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay V), thành phố Hải Phòng;
đều vắng mặt;
14. Ông Nguyễn Văn P1 (đã chết), bà Phạm Thị V2 (đã chết);
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn P1, bà Phạm Thị
V2: Anh Nguyễn Phú Đ4, sinh năm 1983; chị Nguyễn Thị T6, sinh năm 1963; chị
Nguyễn Thị T7, sinh năm 1966; chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1968; chị Nguyễn Thị
N2, sinh năm 1972; chị Nguyễn Thị T8, sinh năm 1975; cùng địa chỉ: Thôn A,
G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt;
15. Ông Nguyễn Văn T9; địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành
phố Hải Phòng; vắng mặt;
16. Ông Nguyễn Văn V3; Bùi Thị T10; chị Nguyễn Thị T11, sinh năm 1990;
chị Nguyễn Thị T12, sinh năm 1994; cùng địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay là
xã V), thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt;
17. Bà Phạm Thị L2; anh Hoàng Văn T13, sinh năm 1974 và chị Hoàng Thị Q,
sinh năm 1976; cùng địa ch: Thôn A, G, huyện V (nay là V), thành phố Hải
Phòng; đều vắng mặt;
18. Ông Nguyễn Văn K4, bà Nguyễn Thị Q1; anh Nguyễn Văn T14, sinh năm
1974; anh Nguyễn Văn T15, sinh năm 1976; anh Nguyễn Văn T16, sinh năm 1979;
cùng địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; đều vắng
mặt;
4
19. Ông Nguyễn Xuân K5; địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay V), thành
phố Hải Phòng; vắng mặt;
20. Ông Nguyễn Văn H13; địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay V), thành
phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người kháng cáo:
1. Ông Nguyễn Công H1 là bị đơn;
2. Nguyễn Thị H3 người đại diện theo uỷ quyền của người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cụ Nguyễn Thị B;
3. Ông Nguyễn Văn H2 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
độc lập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bsung qtrình giải quyết vụ án tại
Tòa án sơ thẩm, nguyên đơn bà Trịnh Thị H trình bày:
Trịnh Thị H và ông Nguyễn Công H1 kết hôn do tự nguyện, có tổ chức lễ
cưới theo phong tục, về chung sống với nhau từ ngày 11/01/1986, nhưng đến ngày
18/02/2020 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã G, huyện V, thành phố Hải
Phòng. Tại Trích lục kết hôn số 02/TLKH-BS ngày 26/02/2023 của Ủy ban nhân
dân G ghi chú: “Thực hiện trích lục từ: Sổ đăng ký kết hôn. Ngày, tháng, năm
xác lập quan hệ hôn nhân: 11/01/1986”. Thời gian đầu chung sống, cuộc sống vợ
chồng hoà thuận nhưng những năm về sau quan hvợ chồng phát sinh nhiều mâu
thuẫn nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột. Ông H1 thường xuyên hành
hung, bạo hành H cả về thể chất tinh thần, càng ngày càng đánh thường xuyên
và nặng nề, có lần bà H phải trốn ngủ ở nơi khác không dám về nhà. Bà H đã phải
làm đơn trình báo công an G. Để đảm bảo an toàn cho bản thân, H đã phải
xin tạm trú tại Ngôi nhà B của Trung tâm P3. Nguyên nhân chính do tính cách
quan điểm sống giữa hai bên không n phù hợp. Hai bên gia đình đã khuyên
giải nhưng không có kết quả. Hai bên đã sống ly thân từ năm 2023, mi người một
nơi, không còn quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn,
mâu thuẫn giữa hai bên không còn khả năng khắc phục nên đề nghị Toà án giải
quyết cho H được ly hôn với ông H1.
Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông H1 có 03 người con chung
Nguyễn Thị Mai H4, sinh ngày 15/7/1987, Nguyễn Tuấn A, sinh ngày
18/12/1991 Nguyễn Mạnh D, sinh ngày 02/11/1993. Nay cả ba con chung đều
đã trưởng thành, tự lo được cuộc sống của mình nên H không yêu cầu Toà án
giải quyết về việc nuôi con chung.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống H ông H1 tạo lập được các tài
sản chung như sau:
5
Tài sản thứ nhất: Nhà (diện tích 40m
2
, xây 2,5 tầng) công trình phụ diện
tích 40m
2
, 01 tầng xây dựng trên thửa đất số 533a, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: Thôn
A, G, huyện V, thành phố Hải Phòng. Thửa đất này đã được Ủy ban nhân dân
huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 254932 ngày 12/11/2012
đứng tên cụ Nguyễn Thị B (là mẹ chồng của bà H).
Tài sản thứ hai: Diện tích đất ao khoảng 360m
2
tại thửa đất số 532, tờ bản đồ
số 17, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng. Diện tích đất này bà
H, ông H1 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Xuân K5 (có lập hợp đồng chuyển
nhượng).
Tài sản thứ ba: Trang trại nuôi lợn tại xđồng Sốc, diện tích 3.021m
2
(diện
tích thực tế khoảng 4.500m
2
) tại thửa đất số 272, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: Thôn A,
xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng, bao gồm cả phần diện tích đất ruộng do ông
H1, H nhận chuyển nhượng phần diện tích đất ruộng đổi cho các gia đình
khác. Cụ thể:
- Đối với phần diện tích đất ruộng do bà H, ông H1 nhận chuyển nhượng của:
+ Ông Nguyễn Văn P1 diện tích 240m
2
, tờ bản đồ số 17, số thửa 668 tại x
đồng Trên; diện tích đất 444m
2
; tại thửa số 149, tờ bản đồ số 18, tại sứ đồng Đ, địa
chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
+ Lương Thị L diện ch 525m
2
, tại thửa số 268, tờ bản đồ số 17, tại s
đồng Sốc, địa ch: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
+ Ông Nguyễn Văn H2, diện tích đất 464m
2
, số thửa 825, tờ bản đồ số 17, tại
sứ đồng 3; diện tích đất 306m
2
, tại thửa số 77, tờ bản đồ số 18 tại sứ đồng
Cao; diện tích đất 669m
2
, tại thửa số 536, tờ bản đồ số 16, tại sứ đồng Chiều Bãi;
diện tích đất 240m
2
, tại thửa số 136b, tbản đồ số 18, tại sứ đồng Gợ, địa chỉ: Thôn
A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
- Đối với phần diện tích đất ruộng do bà H, ông H1 đổi cho:
+ Gia đình bà Nguyễn Thị T3 diện tích 720m
2
, tại thửa đất số 267, tờ bản đồ
số 17 tại sứ Đ, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay xã V), thành phố Hải Phòng.
Trả cho T3 diện tích đất ruộng 240m
2
, thửa số 668, tờ bản đồ số 17 tại sứ đồng
Trên; diện tích 444m
2
, thửa đất số 149, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Thôn A, G,
huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
+ Ông Nguyễn Văn V4 diện tích 240m
2
, tại thửa đất số 272, tờ bản đồ số 19
tại sứ Đ, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là V), thành phố Hải Phòng. Trả
cho ông V4 diện tích đất ruộng 240m
2
, thửa số 136b, tờ bản đồ số 18 và 385m
2
đất
tại thửa số 136a, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay V),
thành phố Hải Phòng.
+ Ông Nguyễn Văn V1 diện tích 531m
2
, tại thửa đất số 269b, tờ bản đồ số 19
tại sứ Đ, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là V), thành phố Hải Phòng. Trả
6
cho ông V1 diện tích đất 95m
2
, thửa số 136a, tờ bản đồ số 18, tại sứ đồng Gợ; diện
tích 227m
2
đất tại thửa số 468, tờ bản đồ số 17 tại sứ đồng Đìa; diện tích 130m
2
đất
tại thửa số 465d, tờ bản đồ số 17 tại sứ đồng Lò 3; địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V
(nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
+ Ông Phạm Minh H6 diện tích 804m
2
, tại thửa đất số 273, tbản đ số 18 tại
sứ Đ, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng. Trả cho
ông H6 diện tích đất 342m
2
, thửa số 825, tờ bản đồ số 17, tại sứ đồng Đìa 2; diện
tích 227m
2
đất tại thửa số 468, tờ bản đồ số 17 tại sứ đồng Đìa; diện tích 344m
2
đất
tại thửa số 825, tờ bản đồ số 17; địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay V),
thành phố Hải Phòng.
+ Ông Nguyễn Văn K diện tích 708m
2
, tại thửa đất số 271, tờ bản đồ số 17 tại
sứ Đ. Trả cho ông K diện tích đất 452m
2
, thửa số 454, tờ bản đồ số 17, tại sứ đồng
Đìa 3; diện tích 256m
2
thửa số 464d, tờ bản đồ số 17, tại sứ đồng Đ; địa chỉ: Thôn
A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
+ Ông Nguyễn Văn C diện tích 360m
2
, tại thửa đất số 273, tờ bản đồ số 18 tại
sứ Đ. Trả cho ông Chính diện T17 đất 696m
2
, thửa số 536, tờ bản đồ số 16 (đất
chiều bãi); địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
+ Bà Bùi Thị Đ3, ông Nguyễn Văn T5 diện tích 288m
2
, tại thửa đất số 270, tờ
bản đsố 17 tại sứ Đ. Trả cho bà Đ3, ông T5 diện tích 216m
2
đất ruộng, thửa số
83, tờ bản đồ số 18, tại sứ đồng Lò 1; diện tích đất 121m
2
đất ruộng thửa số 214b,
tờ bản đồ số 18, tại sứ đồng L; địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành
phố Hải Phòng.
+ Ông Nguyễn Văn T9 diện tích 121m
2
, tại thửa đất số 214b, tờ bản đồ số 18
tại sứ đồng Lò Cao. Trả cho ông T9 diện tích đất 220m
2
, thửa số 199, tờ bản đồ số
18, tại sứ đồng L; địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải
Phòng.
+ Ông Nguyễn Văn V3, Nguyễn Thị T1 386m
2
, tại thửa đất số 465d, tờ bản
đồ số 17 tại sứ đồng Đìa 3. Trả cho ông V3, T1 diện ch đất 386m
2
, thửa số 286,
tờ bản đồ số 18, tại sứ đồng G; địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nayxã V), thành
phố Hải Phòng.
Trong tổng số diện tích khoảng 4.500m
2
đất trang trại 525m
2
đất ruộng bà
H, ông H1 nhận chuyển nhượng của L; diện ch 684m
2
nhận chuyển nhượng
của ông P1; diện tích đất 1.679m
2
nhận chuyển nhượng của ông H2. Phần diện tích
đất còn lại của hộ gia đình 05 người (gồm ông H1, H, các con chung Nguyễn
Thị Mai H4, Nguyễn Tuấn ANguyễn Mạnh D).
Tài sản thứ : Diện tích 436m
2
đất chiều chân sóng tại thửa đất số 134, tờ bản
đồ s19, địa ch: Thôn A, G, huyện V (nay là V), thành phố Hải Phòng
diện tích 1.020m
2
đất chiều 2 tại thửa đất s 343, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Thôn A,
7
G, huyện V (nay là V), thành phố Hải Phòng. Đây diện tích đất chiều bãi
là của ông H1, bà H và các con chung.
Tài sản thứ năm: Phần chi phí san lấp xây tường bao, chuồng gà, công trình
phụ, cây cối hoa màu đối với thửa đất số 736, tờ bản đồ số 17; địa chỉ: Thôn A, xã
G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
Tài sản thứ sáu: 01 xe ô nhãn hiệu Toyota, loại xe: xe ô con, số loại:
Corolla, biển kiểm soát: 15A-441.62, đăng năm 2018, hiện ông H1 quản lý, sử
dụng.
Tài sản thứ bảy: Diện tích đất 240m
2
, đất gốc đa tại thửa số 286, tờ bản đồ số
18, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
Tài sản thứ tám: Thửa đất số 37, tbản đồ số 11; địa chỉ: Thôn C, xã G, huyện
V, thành phố Hải Phòng đất 95% tại thửa số 88, tờ bản đồ số 05, địa chỉ: Thôn
F xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng mua chung cùng ông Lương Văn S.
Tài sản thứ chín: 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, biển kiểm soát: 15K1-
23360; 01 ti vi Sam sung 43 43inch; 03 điều hoà Daikin; 03 tủ lạnh (02 tủ đông, 01
tủ đứng 400 lít); Máy phát điện; Máy ghế nằm Massage.
Tại văn bản ngày 28/3/2025 và tại phiên hoà giải ngày 22/8/2025, H bà H
rút một phần yêu cầu về việc phân chia đối với các tài sản thứ bảy, tám tài sản
thứ chín.
Ly hôn, H đề nghị Toà án chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định
của pháp luật. Hiện bà H không có chỗ ở nên khi Toà án phân chia tài sản, nguyện
vọng của bà H được nhận diện tích đất và tài sản trên đất của Trang trại nuôi lợn tại
sứ đồng Sốc, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
Diện tích 436m
2
đất chiều chân sóng tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 19, địa chỉ:
Thôn A, G, huyện V (nay V), thành phố Hải Phòng diện tích 1.020m
2
đất chiều 2 tại thửa đất số 343, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Thôn A, G, huyện V
(nay là xã V), thành phố Hải Phòng và trả tiền chênh lệch cho ông H1.
Đối với yêu cầu ca c B về việc buộc bà H và ông H1 phải bồi thường 1,5 tỷ
đồng do tháo dỡ ngôi nhà cấp 4 nát của cụ B cũng như yêu cầu phải di dời, tháo
dỡ tài sản trên đất ngôi nhà mà ông H1, bà H đã xây dựng hoặc chi phí tháo dỡ
nếu không di rời, bà H không đồng ý các lý do: Khi bà H vlàm dâu cụ B năm
1986 tngôi nhà của cụ B đã dột nát. Đến năm 2005, ngôi nhà xuống cấp trầm
trọng không thể tiếp tục sử dụng được cho cả gia đình H, ông H1 cụ B nên
vợ chồng H đã xin phép cụ B phá dỡ ngôi ncũ, xây ngôi nmới để cả gia
đình ở. Lúc đó cụ B hoàn toàn đồng ý, ủng hộ vợ chồng bà H xây nhà mới. Khi xây
dựng xong ngôi nhà thì cụ B ở cùng gia đình H, suốt từ đó cB không có bất kỳ
yêu cầu nào, chỉ khi H ông H1 làm thủ tục ly hôn thì cụ B mới yêu cầu
này. Ngôi nhà cụ B tại thời điểm bị dỡ bỏ đã không còn sử dụng được mà cụ B đòi
bồi thường 1,5 triệu đồng là không hợp lý.
8
Về nợ chung: bà H không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại các Bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, bị
đơn ông Nguyễn Công H1 trình bày:
Ông H1 xác nhận mối quan hhôn nhân giữa ông H1 H được xác lập
đúng như H trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng nhiều mâu thuẫn,
nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn đúng như bà H trình bày. Nay xét thấy tình cảm vợ
chồng không còn, mâu thuẫn vchồng không thể khắc phục nên ông H1 đồng ý ly
hôn với bà H.
Về con chung: Ông H1 xác nhận ông và bà H 03 người con chung đúng như
H trình bày. Nay các con chung đều đã thành niên, phát triển bình thường nên
ông H1 không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung vợ chồng gồm có các tài sản sau:
Tài sản thứ nhất: Về nhà và công trình phụ, ông H1, bà H xây dựng trên thửa
đất số 533a, tờ bản đsố 17, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng
do ông H1 và bà H tự ý phá dỡ nhà, bếp và các công trình xây dựng khác trên đất
của cụ B (mẹ đẻ ông H1) để ở mà không được phép của cụ B các anh chị em của
ông H1. Tổng trị giá tài sản trên thửa đất này của cụ B ước tính khoảng 2 tỷ đồng.
Năm 2004, cụ B đã tách mt phần diện tích đất cho vợ chồng ông H1 để làm nhà ở
nhưng xét thấy diện tích đất của cụ B còn nhiều nên vợ chồng ông H1 đã bán cho
ông D3 lấy tiền. Đến năm 2005 thì vợ chồng ông H1 đã phá nhà và các công trình
xây dựng khác của cụ B để xây dựng nhà và các công trình phụ như bà H đã trình
bày. Ông H1 thấy rằng việc vợ chồng ông H1 phá huỷ nhà và công trình xây dựng
khác của cụ B để xây nhà chưa được sự đồng ý của cụ B các anh chị em
trong gia đình là không đúng nên đề nghị Toà án giải quyết buộc vợ chng ông H1
phải tự phá dỡ ngôi nhà đã xây, trả lại đất và bồi thường thiệt hại cho cụ B.
Tài sản thứ hai: Trang trại nuôi lợn tại xứ đồng Sốc tại thửa đất số 272, tờ bản
đồ số 17, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng, diện tích hiện trạng
khoảng hơn 4.500m
2
, bao gồm cả phần diện tích đất ruộng do vchồng ông H1
nhận chuyển nhượng cả phần diện tích đất ruộng đổi cho các hộ gia đình khác
như nội dung lời trình bày của bà H. Tuy nhiên, trong tổng số diện tích đất khoảng
4.500m
2
1.679m
2
đất ruộng của ông Nguyễn Văn H2, cụ thể: diện tích đất
464m
2
tại thửa đất số 825, tờ bản đồ số 17 tại sứ đồng Lò 3; diện tích đất 306m
2
tại
thửa đất số 77, tờ bản đồ số 18 tại sứ đồng Lò Cao; diện tích đất 669m
2
tại thửa đất
số 536, tờ bản đồ số 16 tại sứ đồng Chiều; diện tích đất 240m
2
tại thửa đất số 136b,
tờ bản đồ số 18 tại sứ đồng Gợ; địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay xã V), thành
phố Hải Phòng. Diện tích nhận chuyển nhượng: diện ch đất ruộng 525m
2
vợ chồng
ông H1 nhận chuyển nhượng của L; 684m
2
nhận chuyển nhượng của ông P1.
Diện tích đất còn lại đất ruộng của hộ gia đình ông H1, gồm vợ chồng ông H1,
bà H và các con chung là chị H4, anh Tuấn A và anh D.
9
Tài sản thứ ba: Diện tích 436m
2
đất chiều chân sóng tại thửa đất số 134, tờ
bản đồ số 19, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng
và diện tích 1.020m
2
đất chiều 2 tại thửa đất số 343, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Thôn
A, G, huyện V (nay V), thành phố Hải Phòng. Đây diện tích đất chiều
bãi là của ông H1, bà H và các con chung.
Ly hôn, ông H1 đề nghị Toà án phân chia tài sản trên theo quy định của pháp
luật.
Các tài sản sau không phải là tài sản chung vợ chồng:
- Đối với diện tích đất ao khoảng 360m
2
tại thửa đất số 532, tờ bản đồ số 17,
địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng tài sản riêng của ông H1
nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Xuân K5, không phải tài sản chung của
vợ chồng, thể hiện tại hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/10/2001. Tuy nhiên, tại
phiên hoà giải ngày 22/8/2025, ông H1 lại trình bày đâytài sản của cụ B, ông H1
chỉ là người làm thủ tục mua hộ.
- Phần chi phí san lấp xây tường bao, chuồng gà, công trình phụ, cây cối
hoa màu đối với thửa đất số 736, tờ bản đồ số 17; địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V
(nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
- 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe: xe ô tô con, số loại: Corolla, biển kiểm
soát: 15A-441.62, đăng ký năm 2018, là tài sản riêng của ông H1.
- Đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11; địa chỉ: Thôn C, G, huyện V,
thành phố Hải Phòng đất 95% tại thửa số 88, tờ bản đồ số 05, địa chỉ: Thôn F xã
D, huyện V, thành phố Hải Phòng của ông Lương Văn S, ông H1 chỉ người
môi giới làm chứng cho việc ông S mua đất, không phải tài sản chung vợ
chồng nên đề nghị Toà án không đưa ông S vào tham gia tố tụng trong vụ án.
Theo đơn yêu cầu độc lập, các bản tự khai quá trình giải quyết vụ án tại Toà
án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập cụ Nguyễn
Thị B trình bày:
Năm 2004, cụ B đã tách diện tích đất thổ 100m
2
tại thửa đất số 533a, tờ bản
đồ số 17 cho vợ chồng ông H1, H để làm nhà nhưng ông H1, H không
chuyển nhượng cho ông D3 lấy tiền. Đến năm 2005, vợ chồng ông H1, bà H đã
tự ý phá dỡ toàn bộ 04 gian nhà gỗ dổi, lợp ngói mũi diện tích khoảng 66m
2
; 03
gian nhà ngang xây gạch lợp ngói móc diện tích 26,25m
2
; sân vôi trạt diện tích
130m
2
; 02 gian chuồng lợn xây gạch, lợp ngói móc rộng 8m
2
; 02 gian bếp xây gạch
lợp ngói móc rộng 15m
2
; 01 giếng khơi, 01 bể nước mưa 4m
3
cùng nhiều cây cối
hoa màu. Tổng giá trị tài sản 1.500.000.000 đồng. Sau đó vchồng ông H1 đã
tự ý xây ntrên đất của cụ B không được sự đồng ý của cụ B cùng những
người con khác. Nay vợ chồng ông H1 ly hôn, đề nghị Toà án: Buộc vợ chồng ông
H1, bà H phải trả lại 1,5 tỷ đồng do đã tự ý phá dỡ nhà của cụ B. Yêu cầu ông H1,
bà H phải di dời, phá dtoàn bộ công trình xây dựng, cây cối hoa màu ra khỏi thửa
10
đất của cụ B. Trường hợp nếu ông H1, H không di chuyển, phá dỡ nhà các
công trình xây dựng trên đất thì phải chịu chi phí cho việc phá dỡ, di dời này.
Theo đơn yêu cầu độc lập, các bản tự khai qtrình giải quyết vụ án tại Toà
án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập ông Nguyễn
Văn H2 trình bày:
Ông H1, H làm thủ tục ly hôn đề nghị Toà án phân chia tài sản diện
tích đất nông nghiệp khoảng hơn 4.500m
2
, trong số diện tích đất này, ông H1, bà H
chỉ diện tích đất nông nghiệp 1.324m
2
, diện tích đất còn lại 1.679m
2
của
ông H2. Ông H2 đã góp diện tích đất nông nghiệp 1.679m
2
để cùng làm Trang trại
nuôi lợn với ông H1, bà H (việc này hai bên chỉ thoả thuận miệng, không văn
bản thoả thuận hoặc hợp đồng nào). Toàn bộ diện tích đất này của ông H2 đã được
đổi cho các ông bà, cụ thể như sau: Diện tích đất 240m
2
, thửa số 136b, tờ bản đồ số
18 sứ đồng Gợ đổi cho ông V1 diện tích đất 531m
2
, thửa số 269A, tờ bản đồ số 18,
khu cánh đồng Sốc 2. Diện tích đất 464m
2
, thửa số 825, tờ bản đồ số 17, sứ đồng
3 đổi cho ông V1 diện tích 531m
2
, thửa số 269A, tờ bản đồ số 18, khu cánh đồng
Sốc 3. Diện tích đất 306m
2
, thửa số 77, tờ bản đồ số 18, sứ đồng Cao đổi cho
ông K diện tích 708m
2
, thửa số 281, tờ bản đồ số 17, tại khu cánh đồng Sốc 3. Diện
tích đất 669m
2
, thửa s536, tờ bản đồ số 16, sứ đồng Chiều đổi cho ông H6 diện
tích đất 804m
2
, thửa số 273, tbản đồ số 18, khu cánh đồng Sốc 3; địa chỉ: Thôn
A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
Do vậy, ông H2 đề nghị Toà án không phân chia diện tích đất ruộng 1.679m
2
cho ông H1, H buộc ông H1, H phải phá dỡ Trang trại nuôi lợn đã xây
dựng để trả lại cho ông H2 diện tích đất 1.679m
2
.
Tại Bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - chị Nguyễn Thị Mai
H4, anh Nguyễn Tuấn A, anh Nguyễn Mạnh D thống nhất trình bày:
Do điều kiện công việc không trực tiếp tham gia trong quá trình giải quyết vụ
án tại Toà án nên uỷ quyền cho mẹ đẻ Trịnh Thị H được quyền thay mặt các
anh chị quyết định mọi vấn đề liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ, mọi quyền
lợi của họ đồng ý cho bà H sử dụng.
Tại Văn bản gửi Toà án ngày 17/6/2026 theo Thông báo số 01/2025/TB
ngày 13/10/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần C2 trình
bày:
Hợp đồng chăn nuôi giữa Công ty Cổ phần C2 Chi nhánh NM 3 tại Hà Nội
ông Nguyễn Công H1 đã chính thức được hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng
vào ngày 08/5/2025. Các quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên đã được giải quyết đầy
đủ không bất kỳ tranh chấp hay nghĩa vụ nào liên quan đến hợp đồng chăn
nuôi gia súc trên nên Công ty không còn liên quan đến vụ án ly hôn, tranh chấp
chia tài sản giữa ông H1 và bà H.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác:
11
Ông Nguyễn Văn K6 xác nhậnchuyển nhượng cho ông H1, bà H diện tích
đất ao 337m
2
, tại thửa đất số 532, tờ bản đồ s17 với giá 3.000.000 đồng. Việc
chuyển nhượng giữa các bên đã xong, ông K6 không còn liên quan đến thửa đất
nên đề nghị Toà án không đưa ông K6 vào tham gia tố tụng trong vụ án.
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn P2 Phạm
Thị V2 xác nhận đã chuyển nhượng cho ông H1, bà H diện tích đất ruộng 240m
2
tại xđồng Trên, tờ bản đồ số 17, số thửa 668; 444m
2
tại Sứ đồng Đìa 4, số thửa
đất 149, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố
Hải Phòng. Các bên đã lập hợp đồng, chứng thực của Ủy ban nhân dân G,
huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng. Các bên đã bàn giao đất và bàn giao
tiền, không còn liên quan nên đề nghị Toà án không đưa họ vào tham gia tố tụng
trong vụ án.
Gia đình bà Lương Thị L xác nhận đã chuyển nhượng cho ông H1, bà H diện
tích đất ruộng 525m
2
tại sứ đồng Sốc, thửa đất số 268, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: thôn
A Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng. Các bên đã lập hợp
đồng, có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố
Hải Phòng. Việc chuyển nhượng đã xong, không còn quyền lợi liên quan nên đề
nghị Toà án không đưa họ vào tham gia tố tụng trong vụ án.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H13, hộ bà
Nguyễn Thị T, hộ ông Nguyễn Văn K, hộ ông Phạm Minh H6, hộ ông Nguyễn Văn
C, hộ Nguyễn Thị T3, hộ Bùi Thị Đ3, hộ ông Nguyễn Văn V1, hộ ông Nguyễn
Văn T9, hộ ông Nguyễn Văn V3 đều xác nhận: Năm 2012 những gia đình trên
đổi ruộng cho vợ chồng ông Nguyễn Công H1, Trịnh Thị H (về diện tích, s
thửa đất, số tờ bản đồ như ni dung bà H trình bày). Các bên đã bàn giao ruộng, vợ
chồng ông H1, H đã xây Trại chăn nuôi lợn từ năm 2012 đến nay, các bên đổi
đất vẫn sử dụng phần diện tích đất ruộng đổi ổn định, không có tranh chấp.
Với nội dung như trên, tại Bản án Hôn nhân và gia đình thẩm số
15/2026/HNGĐ-ST ngày 03-02-2026, Tòa án nhân dân Khu vực 7, thành phố Hải
Phòng đã căn cứ vào các Điều 33, 55, 59, 60, 61, 62 của Luật Hôn nhân gia đình;
các Điều 213, 219, 223 của Bộ luật Dân sự; các Điều 56, 59, 142 của Luật Đất đai,
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Công nhận
việc thuận tình ly hôn giữa Hông H1. Về con chung: Các con chung đã thành
niên, không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Về tài sản chung: Chia cho ông
H1 được quyền sở hữu ngôi nhà 2,5 tầng, công trình phụ trên thửa đất số 533a, tờ
bản đồ số 17, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng
của cụ B; quyền sử dụng diện tích đất 337m
2
, tại thửa đất số 532, tờ bản đồ số 17,
địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; quyền sở hữu
phần đất san lấp xây dựng tường bao, chuồng gà, công trình phụ, cây cối hoa
màu đối với thửa đất số 736, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay
là xã V), thành phố Hải Phòng; quyền sở hữu 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe
12
ô tô con, biển số: 15A-441.62, tổng cộng trị giá tài sản: 5.870.924.000 đồng. Chia
cho H được quyền sdụng diện tích đất 4.545,4m
2
(Trang trại nuôi lợn tại xứ
đồng Sốc), tại thửa đất số 271, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: Thôn A, G, huyện V
(nay là V), thành phố Hải Phòng và quyền sở hữu toàn bộ tài sản trên diện tích
đất này; quyền sử dụng diện tích đất 436m
2
đất chiều chân sóng tại thửa đất số 134,
tờ bản đồ số 19 và diện tích 1.020m
2
đất chiều 2, tại thửa đất số 343, tờ bản đồ số
19, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; tổng cộng
trị giá tài sản: 4.430.589.000 đồng. Ông H1 nghĩa vụ thanh toán cho chị H4, anh
Tuấn A anh D mỗi người số tiền 280.206.000 đồng; thanh toán cho H s
tiền là 299.759.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của cụ B về việc buộc
ông H1, H phải bồi thường số tiền 1,5 tỷ đồng. Không chấp nhận yêu cầu độc
lập của ông H2 về việc buộc ông H1, bà H phải trả lại diện tích đất ruộng 464m
2
,
thửa số 825, tờ bản đồ số 17, sứ đồng Lò 3; diện tích đất 306m
2
, thửa số 77, tờ bản
đồ số 18, sứ đồng Lò Cao; diện tích đất 669m
2
đất ruộng, thửa s 536, tờ bản đồ số
16, sứ đồng Chiều; diện tích đất ruộng 240m
2
, thửa số 136b, tờ bản đồ số 18 s
đồng Gợ; cùng địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay V), thành phố Hải Phòng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về án phí, lãi suất chậm thi hành án,
và tuyên quyền kháng cáo đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 13/02/2026, bị đơn ông Nguyễn Công H1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản
án sơ thẩm do không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm; đề nghị Toà án cấp
phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để xét xử lại. Ngày 02/4/2026, ông H1 đơn kháng
cáo bổ sung, cụ thể: đề nghị Toà án cấp phúc thẩm tuyên: Trả lại phần diện tích đất
ruộng diện tích 1.679m
2
đứng tên ông Nguyễn Văn H2; ông H1bà H nghĩa vụ
phá dỡ ngôi nhà 2,5 tầng để trả lại đất cho cụ B; Định giá tài sản trên thửa đất số
736; diện tích đất ao mua của ông K6 là của cụ B (ông H1 mua hộ). Đề nghị Toà án
định giá lại đối với Trang trại nuôi lợn tại sứ đồng Sốc; định giá lại quyền sử dụng
diện tích 436m
2
đất chiều chân sóng tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 19, địa chỉ:
Thôn A, xã G, huyện V (nay xã V), thành phố Hải Phòng diện tích 1.020m
2
đất
chiều 2 tại thửa đất số 343, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là
xã V), thành phố Hải Phòng.
Ngày 11 ngày 13 tháng 02 năm 2026, người đại diện theo uỷ quyền của
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập (cụ Nguyễn Thị B và ông
Nguyễn Văn H2) là bà Nguyễn Thị H3 đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm do
không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm; đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xét
xử lại theo hướng: Tuyên huỷ bản án thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 7-Hải
Phòng; buộc ông H1, bà H phải bồi thường thiệt hại cho cB do đã phá nhà công
trình xây dựng của cụ B; Trả lại phần diện tích đất 1.679m
2
của ông H2 góp để làm
trang trại với với ông H1, bà H; Buộc ông H1 di chuyển ra khỏi thửa đất của cụ B.
Tại phiên tòa phúc thm:
13
Nguyên đơn H rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể rút yêu cầu khởi
kiện về việc phân chia: Phần chi psan lấp xây tường bao, chuồng gà, công
trình phụ, cây cối hoa màu đối với thửa đất số 736, tờ bản đồ số 17; địa chỉ: Thôn
A, xã G, huyện V (nay là V), thành phố Hải Phòng; giữ nguyên quan điểm đối
với yêu cầu đã rút tại giai đoạn sơ thẩm (phân chia đối với: diện tích đất 240m
2
, đất
gốc đa tại thửa số 286, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là
V), thành phố Hải Phòng; Thửa đất số 37, tờ bản đ số 11; địa chỉ: Thôn C, G,
huyện V, thành phố Hải Phòng và đất 95% tại thửa số 88, tờ bản đồ số 05, địa chỉ:
Thôn F xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng mua chung cùng ông Lương Văn S);
đồ dùng sinh hoạt trong gia đình: 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH Mode, biển kiểm
soát: 15K1-23360; 01 ti vi Sam sung 43 43inch; 03 điều hoà Daikin; 03 tủ lạnh (02
tủ đông, 01 tủ đứng 400 lít); Máy phát điện; Máy ghế nằm Massage; các yêu cầu
phân chia tài sản còn lại thì H giữ nguyên. Ngoài ra, H còn trình bày: H
đồng ý trả lại phần diện tích đất sản xuất nông nghiệp 1.679m
2
đã mượn của ông
H2 để làm trang trại nuôi lợn bằng cách: Trả Diện tích 436m
2
đất chiều chân sóng
tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V),
thành phố Hải Phòng diện tích 1.020m
2
đất chiều 2 tại thửa đất s343, tờ bản
đồ số 19, địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng; phần
diện tích còn thiếu (223m
2
) sẽ trả bằng giá trị theo định giá của Hội đồng định giá
hoặc nếu ông H2 đồng ý nhận bằng giá trị thì bà H và các con chung đồng ý đối trừ
vào số tiền ông H1 phải hoàn trả cho H các con chung theo quyết định
của bản án sơ thẩm. Nếu số tiền ông H1 phải trả cho H các con chung cao
hơn giá trị diện tích đất 1.679m
2
phải trả cho ông H2 thì ông H1 phải trả cho bà H
và các con chung số tiền còn lại, sau khi đã đối trừ.
Bị đơn ông H1 đồng ý với việc H rút một phần yêu cầu khởi kiện; giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Toà án huỷ bản án thẩm. Ngoài ra, ông H1
còn thay đổi lời trình bày đối với diện tích đất ao mua của ông K6 tại thửa đất 532,
tờ bản đồ số 17 là tiền ca c B đưa cho ông H1 mua cho ông H2 (nhưng trong giấy
chuyển nhượng, ông H1 lại lấy tên của ông H1) và không đồng ý với phương án đề
xuất của bà H về việc trả lại diện tích đất ruộng tại bãi chiều chân sóng cho ông H2
mà phải trả bằng diện tích đất Trang trại nuôi lợn. Tại phiên toà phúc thẩm, ông H1
cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh thủ tục kết quả định
giá tại giai đoạn sơ thm không đúng quy định của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập người đại diện
theo uỷ quyền của cụ B ông H2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Toà án
sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận kháng cáo của cụ B ông H2. Người đại
diện theo uỷ quyền của ông H2 cũng không đồng ý với phương án của bà H đề xuất
trả diện tích đất tại bãi chiều chân sóng cho ông H2 mà phải trả bằng đất tại Trang
trại nuôi lợn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến:
14
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc thẩm,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự bản đã chấp hành thực hiện đúng các
quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tng dân sự.
Quan điểm của Kiểm sát viên đối kháng cáo của bđơn những người
quyền, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập: Bản án thẩm xác định tài sản chung
phân chia các tài sản là hiện vật cho mỗi bên ông H1, H căn cứ nên kng
chấp nhận kháng cáo của ông H1, cụ B. Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm, nguyên
đơn bà H rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu phân chia phần chi
phí san lấp xây tường bao, chuồng gà, công trình phụ, cây cối hoa màu đối với thửa
đất số 736, tờ bản đồ số 17 (ông H1 đồng ý với việc rút này) việc tính toán của
bản án sơ thẩm về giá trị tài sản phân chia chưa chính xác nên đề ngh Hội đồng xét
xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng
cáo của ông H2 sửa bản án thẩm theo hướng chấp nhận đề xuất của H về
phương án trả đất sản xuất nông nghiệp cho ông H2 tính toán lại trị gcác tài
sản phân chia theo kết quả đã đnh giá.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
[1] Quan hệ tranh chấp của vụ án là về ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly
hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Do vụ án kháng cáo nên thuộc thẩm
quyền của Tòa Hôn nhân gia đình phúc thẩm Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 28, khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
[2] Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Công H1; người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan yêu cầu độc lập cụ Nguyễn Thị B ông Nguyễn Văn H2 nộp
trong thời hạn luật định nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự xét xử phúc
thẩm (theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật T tụng dân sự).
[3] Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quanyêu cầu độc lập
cụ Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn H2; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị
Nguyễn Thị Mai H4, anh Nguyễn Tuấn A, anh Nguyễn Mạnh D vắng mặt nhưng đã
người đại diện theo uỷ quyền mặt; những người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan khác trong vụ án vắng mặt nhiều lần không do mặc đã được Toà án
triệu tập hợp lệ nên Hội đồng xét xquyết định xét xử vắng mặt htheo quy định
tại khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Công H1; người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan có yêu cu độc lập – cụ Nguyễn Thị B và ông Nguyễn Văn H2.
[4] Về tài sản chung của ông H1, bà H:
[4.1] Các tài sản chung hai bên trình bày thống nhất nhau:
15
[4.1.1] Nhà (diện tích 40m
2
, xây 2,5 tầng) công trình phụ diện tích 40m
2
xây 01 tầng, trên thửa đất số 533a, tờ bản đồ s17, địa chỉ: Thôn A, G, huyện
V, thành phố Hải Phòng. Thửa đất này đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 254932, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: CH 00040
ngày 12/11/2012 đứng tên cụ Nguyễn Thị B (là mẹ chồng của H đứng tên chủ
sử dụng đất đối với diện tích đất 888m
2
(đất 130m
2
, đất vườn 328m
2
, đất ao
430m
2
), tại thửa đất số 533a, 736, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: Thôn D, xã G, huyện V,
thành phố Hải Phòng).
[4.1.2] Diện tích 436m
2
đất chiều chân sóng tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số
19, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay xã V), thành phố Hải Phòng diện tích
1.020m
2
đất chiều 2, tại thửa đất số 343, tờ bản đồ số 19, địa chỉ: Thôn A, G,
huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng. Đây là một trong số diện tích đất sản
xuất nông nghiệp Ủy ban nhân dân huyện V đã cấp cho hộ gia đình ông H1 gồm
vợ chồng ông H1 và ba người con chung (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do
Ủy ban nhân dân huyện V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 11/7/1995
cho hộ ông Nguyễn Văn H14 được quyền sử dụng 3.424m
2
đất sản xuất nông
nghiệp, địa chỉ: T, G, huyện V đối với các thửa đất số 136a, diện tích 480m
2
(Gợ); số 83, diện tích 216m
2
(Lò 1), số 199, diện ch 220m
2
(Lò 2); thửa số 286,
diện tích 600m
2
(Gốc đa) cùng tờ bản đồ số 18; thửa số 454, diện tích 452m
2
(Đìa
3), tờ bản số 17; thửa số 134, diện tích 436m
2
(Chiều chân sóng) thửa số 343,
diện tích 1.020m
2
(Chiều 2), cùng tờ bản đồ số 19. H đề xuất trả ông H2 diện
tích đất chiều chân sóng và chân sóng 2 ều đất sản xuất nông nghiệp, được Hội
đồng định giá xác định giá đất bằng nhau) là phù hợp, thuận tiện cho các bên trong
việc sử dụng đất đảm bảo quyền lợi cho các bên. Tổng cộng diện tích đất 02 thửa
tại bãi chiều chân sóng là 1.456m
2
, phần diện tích đất còn thiếu là 223m
2
cần buộc
ông H14, bà H trả bằng giá tr.
[4.1.3] Trang trại nuôi lợn tại sứ đồng Sốc, diện tích đất sản xuất nông nghiệp
3.021m
2
(diện tích hiện trạng khoảng 4.545,4m
2
) tại thửa đất số 272, tờ bản đồ s
17, địa chỉ: Thôn A, G, huyện V, thành phHải Phòng, bao gồm cả phần diện
tích đất ruộng do ông H14, bà H nhận chuyển nhượng; phần diện tích đất ruộng đổi
cho các gia đình khác. Tuy nhiên, đối với tài sản này, theo lời trình bày của ông
H14 thì trong tổng diện tích đất này có diện tích đất sản xuất nông nghiệp 1.679m
2
thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn H2 là em trai ruột của ông H14, không
phải là tài sản chung của vợ chồng. Tại phiên tphúc thẩm, H cũng đồng ý với
quan điểm của ông H14, trả lại ông H2 diện tích đất sản xuất nông nghiệp 1.679m
2
.
Tuy nhiên, hiện diện tích đất mượn của ông H2 cũng đã đổi cho người khác tổng
diện tích đất này trước khi đổi nằm nhiều vị tkhác nhau. Sau khi đổi đã nhập
vào các diện tích đất khác, của nhiều người khác nhau (do đổi hoặc nhận chuyển
nhượng) để làm Trang trại nuôi lợn, hiện đã xây dựng các tài sản trên diện tích đất
của Trang trại để phục vụ cho mục đích chăn nuôi lợn nên không thể tách diện tích
đất Trang trại trả cho ông H2.
16
[4.2] Các tài sản hai bên có lời trình bày không thống nhất nhau:
[4.2.1] Diện tích đất ao hiện trạng 337m
2
, tại thửa đất số 532, tờ bản đồ số 17,
địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng. Theo lời trình
bày của H, diện tích đất này H, ông H14 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn
Xuân K5 (có viết giấy chuyển nhượng). Ông H14 trình bày đây là tài sản riêng của
ông H14 nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Xuân K5, không phải tài sản chung
của vợ chồng (thể hiện tại hợp đồng chuyển nhượng ngày 09/10/2001). Tuy nhiên,
tại phiên hoà giải ngày 22/8/2025, ông H14 trình bày đây tài sản của cụ B, ông
H14 chỉ người làm thủ tục mua hộ tại phiên toà phúc thẩm tông H14 lại trình
bày diện tích đất này của ông H2 do cụ B đưa tiền cho ông H14 mua cho ông H2.
Tài liệu xác minh thể hiện: Ông Nguyễn Xuân K5 cho biết: Gia đình ông K5 sử dụng
chung với ông Phạm Văn H15 diện tích ao 674m
2
(gia đình ông K5 sử dụng diện
tích đất 337m
2
), tại thửa số 532, cụm A thôn D (nay thôn A G, huyện V, Hải
Phòng). Nguồn gốc diện tích đất ao là của bố mẹ ông để lại. Do không còn nhu cầu
sử dụng nên vợ chồng ông K5 đã chuyển nhượng diện tích đất ao trên cho vợ chồng
ông H14, H với giá 3.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng viết giấy. Việc
chuyển nhượng giữa hai bên đã xong, không tranh chấp gì. Theo Giấy chuyển
nhượng ngày 09/10/2001, giữa ông Nguyễn Xuân K5 ông Nguyễn Công H1 thì
vợ chồng ông K5 đã chuyển nhượng diện tích đất ao cho ông H1 kể từ ngày
10/10/2001. Ông Phạm Văn H15 cho biết: Ông sử dụng chung với ông Nguyễn Xuân
K5 diện tích ao 674m
2
tại thửa số 532, cụm A thôn D (nay thôn A G, huyện V,
Hải Phòng). Nguồn gốc diện tích đất ao là của bố mẹ ông bố mẹ ông K5 đlại.
Sau này các cụ cho lại ông H15 và ông K5. Do ông K5 không còn nhu cầu sử dụng
nên đã chuyển nhượng lại cho ông H1, còn phần diện tích đất ao ông H15 sử dụng,
vợ chồng ông H1 nhiều lần đặt vấn đề chuyển nhượng nốt cho họ nhưng do gia đình
ông H15 đông con nên chỉ đồng ý đổi phần diện tích này. Tại Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số G395924 do Ủy ban nhân dân huyện V cấp đứng tên ông
Nguyễn Văn K6 được quyền sdụng 1.803m
2
, địa chỉ tại xóm M xã G, trong số diện
tích đất này674m
2
diện tích đất ao, tại thửa đất số 532, tờ bản đồ số 17.
[4.2.2] Phần chi phí san lấpxây tường bao, chuồng gà, công trình phụ, cây
cối hoa màu đối với thửa đất số 736, tờ bản đồ số 17; địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện
V (nay xã V), thành phố Hải Phòng. Tại phiên toà phúc thẩm H đã rút yêu cầu
phân chia đối với các phần chi phí này.
[4.2.3] 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe: xe ô tô con, số loại: Corolla, biển
kiểm soát: 15A-441.62, đăng năm 2018, hiện ông H1 quản , sử dụng. H
trình bày là tài sản chung vợ chồng, còn ông H1 trình bày tài sản riêng của ông
H1.
[4.3] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn H đã rút yêu cầu vviệc
phân chia đối với các tài sản là: Phân chia quyền sdụng đối với diện tích đất
240m
2
, đất gốc đa tại thửa số 286, tờ bản đồ số 18, đa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V
17
(nay V), thành phố Hải Phòng; Quyền sử dụng thửa đất số 37, tờ bản đồ số
11; địa chỉ: Thôn C, G, huyện V, thành phố Hải Phòng và đất 95% tại thửa số
88, tờ bản đồ số 05, địa chỉ: Thôn F D, huyện V, thành phố Hải Phòng; 01 xe
máy nhãn hiệu Honda SH Mode, biển kiểm soát: 15K1-23360; 01 ti vi Sam sung
43 43inch; 03 điều hoà Daikin; 03 tủ lạnh (02 tủ đông, 01 tủ đứng 400 lít); Máy
phát điện; Máy ghế nằm Massage diện tích đất 240m
2
(đất gốc đa) tại thửa số
286, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải
Phòng. Việc rút yêu cầu của bà H tự nguyện nên cần đình chỉ xét xử đối với việc
rút yêu cầu này theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 của B luật Tố tụng dân
sự.
[5.1] Tại Văn bản số 39/CV-UBND ngày 08/5/2025 của Ủy ban nhân dân
G gửi Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo cho biết: Sau khi Ủy ban nhân dân xã G
soát, kiểm tra hồ sơ được lưu giữ tại Uỷ ban từ năm 2008 đến nay thì hiện Uỷ ban
không còn lưu giữ các hợp đồng chuyển đổi, chuyển nhượng ruộng đất tại khu vực
thôn A, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng giữa vchồng ông Nguyễn Công H1,
Trịnh Thị H, ông Nguyễn Văn H2 với các hộ gia đình ông Nguyễn Văn V1; bà
Nguyễn Thị L3; ông Nguyễn Văn V5; ông Nguyễn Văn V3; ông Nguyễn Văn P1,
Phạm Thị V2; ông Nguyễn Văn K4; ông Phạm Minh H6; ông Nguyễn Văn K;
Nguyễn Thị L4; ông Nguyễn Văn T9; ông Nguyễn Văn T5. Tuy nhiên, theo hồ
sơ địa chính thì tại thời điểm năm 2009 và năm 2012 giữa các hộ gia đình trên có
đề nghị Ủy ban nhân dân xã G chứng thực các giao dịch chuyển đổi, chuyển nhượng
diện tích đất 95% cho vợ chồng ông Nguyễn Công H1, Trịnh Thị H để xây dựng
dự án Trang trại nuôi lợn thịt tại thôn A xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng.
[5.2] Tại Biên bản lấy lời khai của ông Phạm Minh H6; hộ bà Nguyễn Thị T3;
hộ ông Nguyễn Văn V1; hộ Thị N3, ông Nguyễn Văn T9; hộ ông Nguyễn
Văn K, bà Thị T2; ông Nguyễn Văn V3, Bùi Thị T10; ông Nguyễn Văn C;
Phạm Thị L2; hộ bà Nguyễn Thị T; bà Bùi Thị Đ3, ông Nguyễn Văn T5 đều xác
nhận năm 2012 các hộ gia đình nêu trên đã đổi đất sản xuất nông nghiệp cho vợ
chồng ông H1, bà H để vợ chồng ông H1, bà H xây dựng Trang trại nuôi lợn, hiện
các bên không có tranh chấp và không còn liên quan gì đến diện tích đã đổi.
[5.3] Hộ ông Nguyễn Văn P1, Phạm Thị V2; bà Lương Thị L, ông Hoàng
Văn S1; ông Nguyễn Văn K4 đều xác nhận năm 2012 các hộ gia đình nêu trên đã
đã chuyển nhượng đất sản xuất nông nghiệp cho vợ chồng ông H1, bà H để vợ
chồng ông H1, H xây dựng Trang trại nuôi lợn, hiện các bên không tranh chấp
và không còn liên quan gì đến diện tích đã chuyển nhượng.
[5.4] Ông Hoàng Văn H16 Trưởng thôn 1, xã G cho biết: Về trang trại nuôi
lợn của ông H1, bà H được xây dựng hoạt động từ năm 2012. Từ đó cho đến
nay, Trang trại vẫn hoạt động bình thường, không tranh chấp với ai chưa
chuyển nhượng cho người khác. Tổng diện tích đất hiện trạng của Trang trại khoảng
4.500m
2
. Hiện những người đổi đất và chuyển nhượng diện tích đất sản xuất nông
18
nghiệp cho vợ chồng ông H1 vẫn đang sử dụng diện tích đất đổi, không tranh
chấp. Trong tổng diện tích đất khoảng 4.500m
2
1.679m
2
đất sản xuất nông nghiệp
của ông H2, cụ B đã được gia đình ông H1 sử dụng để đổi cho các hộ lấy diện tích
đất làm Trang trại nuôi lợn từ năm 2012 đến nay, không tranh chấp, còn vợ
chồng ông H1, H với ông H2 chuyển nhượng, hay chuyển đổi cho nhau thì
ông H16 không nắm được.
[6] Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản:
[6.1] Nhà 02 tầng (tum) xây năm 2005; công trình phụ xây năm 2010, trị giá:
371.263.943 đồng.
[6.2] Diện tích đất ao hiện trạng 337,0m
2
tại thửa đất số 532, tờ bản đồ số 17,
địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V, thành phố Hải Phòng, trị giá: 337m
2
x 15.000.000
đồng = 5.055.000.000 đồng.
[6.3] Trang trại nuôi lợn tại xứ đồng Sc: Diện tích đất hiện trạng: 4545,4m
2
x
500.000 đồng/m
2
= 2.272.700.000 đồng; tài sản trên diện tích đất này là:
1.412.689.904 đồng, cộng: 3.685.389.904 đồng.
[6.4] Diện tích 436m
2
đất sản xuất nông nghiệp (chiều chân sóng) tại thửa đất
số 134, tờ bản đồ số 19, và diện tích đất sản xuất nông nghiệp 1.020m
2
(chiều 2) tại
thửa đất s343, tbản đsố 19, cùng địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nayxã V),
thành phố Hải Phòng, trị giá: 1.456m
2
x 445.000 đng/m
2
= 647.920.000 đồng.
[6.5] Phần chi phí san lấp tại thửa đất số 736, khối lượng san lấp 350m
3
, trị
giá: 108.282.300 đồng. Cổng, tường bao trị giá: 51.846.409 đồng. Chuồng gà trị
giá: 15.861.689 đồng. Cây cối hoa màu tại thửa đất số 736, tờ bản đồ s 17, trị giá:
53.300.000 đồng, tổng cộng: 229.290.398 đồng.
[6.6] 01 xe ô nhãn hiệu Toyota, loại xe: xe ô con, sloại: Corolla, biển
kiểm soát: 15 A-441.62, ông H1, bà H thống nhất trị giá là 300.000.000 đồng.
[7] Từ những ni dung trên, Hội đồng xét xử pc thẩm thấy rằng:
[7.1] Ngôi nhà 2,5 tầng và công trình phụ xây trên thửa đất số 533a, tờ bản đồ
số 17, địa chỉ: Thôn A, G, huyện V, thành phố Hải Phòng (thửa đất đứng tên c
B) được xây dựng năm 2005, các đương sự thống nhất xác định là tài sản chung của
vợ chồng. Ông H1 kháng cáo đề nghị Toà án buộc ông H1 và bà H có nghĩa vụ p
dỡ ngôi nhà 2,5 tầng để trả lại đất cho cụ B là không cón cứ vì việc ông H1, bà H
đã xây dựng nhà và công trình phụ trên thửa đất của cụ B, tính đến thời điểm họ ly
hôn là khoảng 18 năm, việc họ xây dựng nhà, công trình phụ và sinh sống tại đó, cụ
B và các anh em nhà ông H1 đều biết nhưng đều không có ý kiến phản đối gì, từ đó
cho đến nay cụ B và gia đình cụ B không đơn đề nghị quan thẩm quyền giải
quyết về vấn đề này. Nay ông H1, bà H ly hôn lại đề nghị phá dỡ nhà và bồi thường
tài sản cũ của cụ B không có căn cứ nên cần xác định ngôi nhà 2,5 tầng (xây năm
2005), nhà bếp, nhà vệ sinh (xây năm 2010) là tài sản chung của ông H1, bà H; khi
xây dựng đã được sự đồng ý của c B các anh chị em của ông H1 n không chấp
19
nhận kháng cáo của ông H1 cụ B về việc ông H1, H phải phá dỡ ngôi nhà,
công trình phụ bồi thường thiệt hại cho cụ B. Toà án cấp thẩm giao cho ông
H1 được quyền sở hữu tài sản này phù hợp ngôi nhà xây dựng trên thửa đt
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cụ B.
[7.2] Đối với diện tích đất ao hiện trạng 337m
2
, tại thửa đất số 532, tbản đồ
số 17, đa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng tài sản
phát sinh trong thời kỳ hôn nhân, lời trình bày của ông H1 về tài sản này ở các thời
điểm khác nhau không thống nhất với nhau. Ngoài lời trình bày, ông H1, cụ B
ông H2 không có tài liệu, chứng cứ, chứng minh diện tích đất nàycủa cụ B hoặc
ông H2 không phải tài sản chung của vợ chồng. Trong khi đó người được quyền
sử dụng hợp pháp diện tích đất ông Nguyễn Xuân K5 xác nhận đã chuyển nhượng
cho vợ chồng ông H1, bà H diện tích đất này, việc chuyển nhượng đã xong hiện các
bên không có tranh chấp; mặt khác tài sản này phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của
ông H1, bà H nên cần xác định diện tích đất này là tài sản chung của ông H1, bà H.
[7.3] Về diện tích đất xây dựng Trang trại nuôi lợn tại xứ đồng Sốc: Diện tích
đất hiện trạng: 4.545,4m
2
tại thửa đất số 271, tờ bản đồ số 17. Nguồn gốc diện tích
đất này bao gồm diện tích đất nhận chuyển nhượng đổi cho các hộ gia đình khác.
Theo Giấy chứng nhận quyền sdụng đất số E 0431091 do Ủy ban nhân dân huyện
V, thành phố Hải Phòng cấp đứng tên ông Nguyễn Văn H14 được quyền sử dụng
3.424m
2
, địa chỉ: Cụm A, G, bao gồm thửa số 136a, tờ bản đồ số 18, diện tích
đất sản xuất nông nghiệp 480m
2
(Gợ); thửa số 83, tờ bản đồ 18, diện tích đất sản
xuất nông nghiệp 216m
2
(Lò 1); thửa số 199, tờ bản đồ 18, diện tích đất sản xuất
nông nghiệp 220m
2
(Lò 2); thửa số 286, tờ bản đồ 18, diện tích đất sản xuất nông
nghiệp 600m
2
(Gốc đa); thửa s454, tờ bản đồ 17, diện tích đất sản xuất nông
nghiệp 452m
2
(Đìa 3); thửa số 134, tờ bản đồ 19, diện tích đất sản xuất nông nghiệp
436m
2
(Chiều chân sóng); thửa số 343, tờ bản đồ 19, diện tích đất sản xuất nông
nghiệp 1020m
2
(Chiều 2). Nay ông H14 bà H đều xác nhận trong tổng diện tích
đất 4.545,4m
2
tại thửa đất s271, tờ bản đồ số 17 1.679m
2
đất của ông Nguyễn
Văn H2 (đã đổi cho một số người khác), không phải đất thuộc quyền sử dụng của
ông H14, H (Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số E 0431095 ngày
11/7/1995 của Ủy ban nhân dân huyện V cấp đứng tên ông Nguyễn Văn H2 được
quyền sử dụng diện tích đất sản suất nông nghiệp 1.679m
2
, tại cụm A, G) và đều
đồng ý trả lại cho ông H2. H đề xuất trả lại cho ông H2 diện tích đất sản xuất
nông nghiệp 1.456m
2
bao gồm diện tích đất sản xuất nông nghiệp 436m
2
, tại thửa
đất số 134, tờ bản đ số 19 và diện tích đất sản xuất nông nghiệp 1.020m
2
, tại thửa
đất số 343, tờ bản đồ số 19, phần diện tích đất còn thiếu sẽ trả cho ông H2 bằng giá
trị. Ông H14 người đại diện của ông H2 không đồng ý mà yêu cầu phải tách một
phần diện tích đất tại Trang trại nuôi lợn để trả. Hội đồng xét xphúc thẩm thấy
rằng: Diện tích đất 1.679m
2
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông H2 diện tích
đất 1.456m
2
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông H14, bà H đều là đất sản xuất
nông nghiệp, theo kết luận định giá của Hội đồng định giá giá trị bằng nhau;
20
diện tích đất 1.679m
2
gồm nhiều thửa đất khác nhau hiện đã được dùng để đổi
cho nhiều người khác; Trang trại nuôi lợn đã được ông H14, H xây dựng và hoạt
động từ năm 2012, nhiều năm nay và sử dụng ổn định nên đề xuất của bà H trả lại
phần diện ch đất 1.456m
2
cho ông H2 là hợp lý, đảm bảo quyền lợi thuận lợi
cho các bên đương sự trong việc sử dụng đất nên cần chấp nhận một phần kháng
cáo của ông H2, buộc ông H14, H phải trả cho ông H2 diện tích đất sản xuất
nông nghiệp 1.456m
2
nghĩa vthanh toán cho ông H2 diện tích còn thiếu
(223m
2
) bằng giá trị.
[7.4] Đối với yêu cầu phân chia chi phí san lấp và xây tường bao, chuồng gà,
công trình phụ, cây cối hoa màu đối với thửa đất số 736, tờ bản đồ số 17; địa chỉ:
Thôn A, G, huyện V (nay V), thành phố Hải Phòng, tại phiên toà phúc
thẩm, H đã rút, ông H14 đồng ý nên cần đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này theo
quy định tại điểm b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7.5] Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe: xe ô con, số loại:
Corolla, biển kiểm soát: 15A-441.62, đăng ký năm 2018, hiện ông H14 quản lý, sử
dụng là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông H14, bà H. Ông H14 cho
rằng không phải là tài sản chung vợ chồng nhưng cũng không chứng minh được là
tài sản riêng của ông H14 nên cần xác định đây tài sản chung của ông H14,
H.
[7.6] Ngoài ra, ông H14, bà H xác nhận, quyền sử dụng diện tích đất sản xuất
nông nghiệp 3.424m
2
thuộc quyền sử dụng chung của ông H14, H ba con
chung chị H4, anh Tuấn A anh D. Diện tích đất này ông H14, bà H đã dùng
để đổi diện tích đất khác để xây Trang trại nuôi lợn, nay phân chia tài sản chung vợ
chồng thì ông H14, bà H có nghĩa vụ hoàn trả cho các anh chị nêu trên bằng giá trị.
[7.7] Đối với nội dung kháng cáo của ông H14 về yêu cầu định giá tài sản trên
thửa đất số 736; định giá lại đối với Trang trại nuôi lợn tại sứ đồng Sốc; định giá lại
quyền sử dụng diện tích 436m
2
đất chiều chân sóng tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số
19 và diện tích 1.020m
2
đất chiều 2 tại thửa đất số 343, tờ bản đồ số 19, cùng địa
chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay V), thành phố Hải Phòng, Hội đồng xét xử
thấy rằng: Ông H14 đều có mặt khi tiến hành định giá các tài sản này, sau đó kng
khiếu nại về việc định giá. Việc tiến hành định giá đã tuân theo quy định của pháp
luật nên không có căn cứ để chấp nhận nội dung kháng cáo này của ông H14.
[8] Từ những nội dung trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, tài sản chung của ông
H14 H gồm các tài sản sau: Ngôi nhà 2,5 tầng và công trình phụ xây trên thửa
đất số 533a, tờ bản đồ s17, địa chỉ: Thôn A, G, huyện V, thành phố Hải Phòng,
trị giá: 371.263.943 đồng; Quyền sdụng diện tích đất ao hiện trạng 337m
2
, tại
thửa đất số 532, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: Thôn A, G, huyện V (nay V),
thành phố Hải Phòng, trị giá: 5.055.000.000 đồng (15.000.000 đồng/m
2
x 337m
2
);
Trang trại nuôi lợn tại xứ đồng Sốc: Quyền sử dụng diện tích đất và tài sản trên đất,
trị giá: 3.685.389.904 đồng; Quyền sử dụng diện tích đất sản xuất nông nghiệp
21
436m
2
đất chiều chân sóng tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 19, diện tích 1.020m
2
đất sản xuất nông nghiệp chiều 2 tại thửa đất số 343, tờ bản đồ số 19, cùng địa chỉ:
Thôn A, G, huyện V (nay V), thành phố Hải Phòng, trị giá: 647.920.000
đồng (1.456m
2
x 445.000 đồng/m
2
); trị giá: 01 xe ô con, biển kiểm soát: 15 A-
441.62: 300.000.000 đồng; tổng cộng: 10.059.573.847 đồng. Trong đó, phần trị giá
quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của ba người con chung của ông H14, bà
H (chH4, anh Tuấn A anh D) 914.208.000 đồng (mỗi người được sdụng
684,8m
2
đất sản xuất nông nghiệp x 445.000 đồng/m
2
x 3). Ông H14, bà H phải trả
cho ông H2 diện tích đất sản xuất nông nghiệp 1.456m
2
số tiền 99.235.000
đồng (223m
2
x 445.000 đồng/m
2
), tổng cộng: 747.155.000 đồng. tổng trị giá tài sản
chung của ông H14, bà H là: 10.059.573.847 đồng - 914.208.000 đồng -
747.155.000 đồng = 8.398.210.847 đồng. Ông H14, H mỗi người được chia:
8.398.210.847 đồng : 2 = 4.199.105.423,5 đồng (làm tròn 4.199.105.423 đồng).
Bản án sơ thẩm xác định công sức của ông H14, H đối với khối tài sản chung
ngang bằng nhau và chia cho ông H14 được quyền sử dụng ngôi nhà 2,5 tầng, công
trình phụ trên thửa đất số 533a, tờ bản đồ số 17; được quyền sử dụng diện tích đất
ao hiện trạng 337m
2
, tại thửa đất số 532, tờ bản đồ số 17 sở hữu chiếc xe ô
con biển kiểm soát: 15A-441.62. H được quyền sử dụng diện tích đất sản xuất
nông nghiệp và tài sản trên diện tích đất tại Trang trại nuôi lợn là p hợp với điều
kiện thực tế của các bên sau khi ly hôn đảm bảo quyền lợi cho các bên đương
sự. Do ông H14 được nhận tài sản bằng hiện vật giá trị nhiều hơn bà H nên
nghĩa vthanh toán cho ba con chung số tiền 914.208.000 đồng; cho ông H2 số
tiền 99.235.000 đồng và thanh toán cho bà H số tiền chênh lệch từ việc phân chia
tài sản là 513.715.519 đồng. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm
thấy rằng không căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông H14 cụ B cần giữ
nguyên nội dung này của bản án thẩm như phân tích trên; căn cứ để chấp nhận
một phần kháng cáo ca ông H2 sửa một phần bản án sơ thẩm theo quy định tại các
Điều 33, 38, 59, 60, 62 của Luật Hôn nhân Gia đình; các Điều 210, 212, 213,
219, 158, 163, 165, 166 của Bộ luật Dân sự; Điều 172 ca Luật Đất đai năm 2024;
khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[9] Về án phí sơ thẩm:
[9.1] Cụ Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Công H1bà Trịnh Thị H phải chịu án
phí thẩm, tuy nhiên họ đều người cao tuổi, đơn đề nghị miễn án phí nên
miễn án phí cho họ theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật dân sự; điểm a, b khoản
5 Điều 27, khoản 6 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14; Điều 2 của Luật
Người cao tui.
[9.2] Ông Nguyễn Văn H2 không phải chịu án phí thẩm. Trả lại ông Nguyễn
Văn H2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.300.000 đồng tại Biên lai thu tạm ứng
án phí số 0007357 ngày 09 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực
22
7, thành phố Hải Phòng) theo quy định tại khoản 6 Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH 14.
[10] Về án phí phúc thẩm: Do bản án thẩm bị sửa nên những người kháng
cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; trả lại ông Nguyễn Văn H2 số tiền
tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo quy định tại khoản 2 Điều 148 của Bộ luật
Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14.
[11] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Công H1; kháng cáo của
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập – cụ Nguyễn Thị B. Chấp
nhận một phần kháng cáo của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu
độc lập - ông Nguyễn Văn H2;
1. Sửa một phần Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 15/2026/HNGĐ-ST
ngày 03-02-2026 của Toà án nhân dân Khu vực 7, thành phố Hải Phòng (về chia tài
sản chung và án phí sơ thẩm).
Căn cứ vào các Điều 33, 38, 59, 60, 62 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào các Điều 210, 212, 213, 219, 158, 163, 165, 166 của Bộ luật Dân
sự;
Căn cứ vào Điều 172 của Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 217; b khoản 1 Điều 299 của Bộ luật Ttụng
dân sự.
Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a,
b khoản 5 Điều 27, khoản 6 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án; Điều 2 ca Luật Người cao tuổi.
2. Xử: Chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà Trịnh Thị H.
2.1. Chia cho ông Nguyễn Công H1:
2.1.1. Được quyền sở hữu đối với ngôi nhà công trình phụ (nhà 40m
2
xây
2,5 tầng, công trình phụ 40m
2
xây 01 tầng) trên thửa đất thửa đất số 533a, tờ bản đồ
số 17, địa chỉ: Thôn A, xã G (nay là xã V), huyện V, thành phố Hải Phòng (thửa đất
đứng tên cụ Nguyễn Thị B);
23
2.1.2. Được quyền sử dụng diện tích đất 337m
2
, tại thửa đất số số 532, tờ bản
đồ số 17, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay V), thành phố Hải Phòng, bao
gồm các mốc 1,2,3,8,6,7,1.
2.1.3. Được quyền sở hữu chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại xe: xe ô tô con,
số loại: Corolla, biển kiểm soát: 15 A-441.62.
Tổng trị giá: 5.726.263.943 đồng.
2.2. Chia cho bà Trịnh Thị H: Được quyền sử dụng diện tích đất sản xuất nông
nghiệp 4.545,4m
2
toàn btài sản trên đất (Trang trại nuôi lợn tại xứ đồng Sốc),
thửa đất số 272, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: Thôn A, G (nay là V), huyện V, thành
phố Hải Phòng. Tổng trị giá: 3.685.389.904 đồng.
3. Chấp nhận một phần yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có
yêu cầu độc lập ông Nguyễn Văn H2 về việc: Buộc ông Nguyễn Công H1,
Trịnh Thị H phải trả diện tích đất sản xuất nông nghiệp 1.679m
2
, địa chỉ: Thôn A,
xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng.
3.1. Buộc ông Nguyễn Công H1, bà Trịnh Thị H có nghĩa vụ hoàn trả cho ông
Nguyễn Văn H2 quyền sdụng diện tích 436m
2
đất sản xuất nông nghiệp (chiều
chân sóng) tại thửa đất số 134, tờ bản đồ số 19 và diện tích đất sản xuất nông nghiệp
1.020m
2
(chiều 2) tại thửa đất số 343, tờ bản đồ số 19, cùng địa chỉ: Thôn A, xã G,
huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng và số tiền 99.235.000 đồng.
3.2. Ông Nguyễn Công H1 Trịnh Thị H nghĩa vụ hoàn trả cho chị
Nguyễn Thị Mai H4, anh Nguyễn Tuấn A và anh Nguyễn Mạnh D mỗi người số tiền
là 304.736.000 đồng, cụ thể: Ông Nguyễn Công H1 có nghĩa vụ thanh toán cho ông
Nguyễn Văn H2 số tiền 99.235.000 đồng; nghĩa vụ thanh toán cho chị Nguyễn
Thị Mai H4, anh Nguyễn Tuấn A anh Nguyễn Mạnh D mỗi người số tiền
304.736.000 đồng.
3.3. Ông Nguyễn Công H1 nghĩa vụ thanh toán cho bà Trịnh Thị H số tiền
chênh lệch từ việc phân chia tài sản là: 513.715.519 đồng.
Kể từ ngàyTrịnh Thị H, chị Nguyễn Thị Mai H4, anh Nguyễn Tuấn A, anh
Nguyễn Mạnh D, ông Nguyễn Văn H2 đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng ông Nguyễn Công H1 còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 357 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
4. Ông Nguyễn Công H1 Trịnh Thị H, ông Nguyễn Văn H2 trách
nhiệm đến cơ quan nhà nước thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất được quyền
sử dụng theo quy định của pháp luật.
(có sơ đồ kèm theo bản án)
5. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của cụ Nguyễn Thị B vviệc: Buộc vợ
chồng ông Nguyễn Công H1, bà Trịnh Thị H phải trả lại 1.500.000.000 đồng do đã
24
tự ý phá dỡ nhà của cụ Nguyễn Thị B. Yêu cầu ông Nguyễn Công H1, Trịnh Th
H phải di dời, phá dỡ toàn bộ công trình xây dựng, cây cối hoa màu ra khỏi thửa
đất của cụ Nguyễn Thị B. Trường hợp nếu ông Nguyễn Công H1, Trịnh Thị H
không di chuyển, phá dỡ nhà và các công trình xây dựng trên đất thì phải chu chi
phí cho việc phá dỡ, di dời này.
6. Đình chỉ xét xđối với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Trịnh Thị H vviệc: Phân chia quyền sử dụng đối với diện tích đất 240m
2
, đất
gốc đa tại thửa số 286, tờ bản đồ số 18, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là
V), thành phố Hải Phòng; Quyền sử dụng thửa đất số 37, tờ bản đồ số 11; địa chỉ:
Thôn C, xã G, huyện V, thành ph Hải Phòng và đất 95% tại thửa số 88, tờ bản đồ
số 05, địa chỉ: Thôn F xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng; 01 xe máy nhãn hiệu
Honda SH Mode, biển kiểm soát: 15K1-23360; 01 ti vi Sam sung 43 43inch; 03
điều hoà Daikin; 03 tủ lạnh (02 tủ đông, 01 tủ đứng 400 lít); Máy phát điện; Máy
ghế nằm Massage; phân chia diện tích đất 240m
2
(đất gốc đa) tại thửa số 286, tờ
bản đồ số 18, địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay là xã V), thành phố Hải Phòng;
phân chia chi phí san lấp và xây tường bao, chuồng gà, công trình ph, cây cối hoa
màu đối với thửa đất số 736, tờ bản đ số 17; địa chỉ: Thôn A, xã G, huyện V (nay
là xã V), thành phố Hải Phòng.
7. Về án phí sơ thẩm:
7.1. Miễn án phí thẩm cho ông Nguyễn Công H1, Trịnh Thị H cụ
Nguyễn Thị B.
7.2. Ông Nguyễn Văn H2 không phải chịu án phí sơ thẩm. Trả lại ông Nguyễn
Văn H2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 6.300.000 đồng tại Biên lai thu tiền số
0007357 ngày 09/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo (nay là
Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7), thành phố Hải Phòng.
8. Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Công H1, cụ Nguyễn Thị B ông
Nguyễn Văn H2 không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại ông Nguyễn Văn H2 số
tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại Biên lai thu tiền tạm ứng
án phí số 0002367 ngày 04/3/2026 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
9. Các quyết định khác của Bản án thẩm số 15/2026/HNGĐ-ST ngày 03
tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân Khu vực 7, thành phố Hải Phòng hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(có sơ đồ kèm theo bản án)
Trường hp Bn án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 ca Lut Thi
hành án dân s đưc sửa đổi, b sung năm 2014 thì người được thi hành án, người
phi thi hành án có quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t
nguyn thi hành án hoc cưng chế thi hành án theo quy đnh ti các điều 6,7,7a,9
ca Lut thi hành án dân s đưc sửa đi, b sung năm 2014; thời hiu thi hành án
25
đưc thc hiện theo quy định Điu 30 ca Lut Thi hành án dân s đưc sửa đổi,
b sung năm 2014.
Nơi nhận:
- VKSND TP Hải Phòng;
- TAND Khu vực 7 - Hải Phòng;
- Phòng THADS Khu vực 7,
TP. Hải Phòng;
- Thi hành án DS TP. Hải Phòng;
- Các đương sự (để thi hành);
- Lưu: HCTP, HS.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Minh Phương
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT Bản án số 32/2026/HNGĐ-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất