Bản án số 756/2026/DS-PT ngày 05/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 756/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 756/2026/DS-PT ngày 05/06/2026 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 756/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án 756- DSPT- 05-6-2026- Ng -Ha -Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 756/2026/DS-PT Bản án số 756/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 756/2026/DS-PT Bản án số 756/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TNH TÂY NINH
Bn án s: 756/2026/DS-PT
Ngày: 05-6-2026
“Tranh chp quyn s dụng đất
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phn Hội đng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Nguyn Quc Tun.
Các Thm phán:
1 Ông Phan Thanh Tùng;
2 Ông Nguyễn Phước Thanh.
Thư phiên tòa: Ngô Thanh Xuân, Thư Tòa án nhân dân tnh Tây
Ninh.
Đại din Vin kim sát nhân dân tnh y Ninh tham gia phiên tòa: Ông
Hunh Phm Khánh, Kim sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 170/TLPT-DS ngày 23 tng 3
năm 2026, về “Tranh chp QSDĐ”.
Do Bản án dân sthẩm số 11/2026/DS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Tây Ninh, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 205/2026/QĐ-PT ngày
01 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Văn N, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp P, C, tỉnh An
Giang; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Văn N: Ông Nguyễn Văn P, sinh
năm 1983. Địa chỉ: 4 Q, khóm B, phường B, tỉnh An Giang (Theo Văn bản ủy
quyền ngày 09-12-2024); vắng mặt.
Bị đơn: Phạm Thị Mười H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp H, K, tỉnh
Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Phạm Thị Mười H: Ông Nguyễn Văn
K, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp C, V, tỉnh Tây Ninh (Theo Văn bản ủy quyền
ngày 12-01-2026 và Hợp đồng uỷ quyền ngày 28-4-2026); có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Hữu V, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp P, xã C, tỉnh An Giang. Nơi
ở hiện nay: Số A N, khóm B, phường B, tỉnh An Giang; vắng mặt;
2. Nguyễn Tuyết M, sinh năm 1981. Địa chỉ: Ấp P, C, tỉnh An
Giang. Nơi ở hiện nay: Số A N, khóm B, phường B, tỉnh An Giang; vắng mặt;
3. Ông Phan Văn B, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp T, K, tỉnh Tây Ninh;
vắng mặt.
4. Ông Phan Văn K1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Ấp T, K, tỉnh Tây Ninh;
vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn K1: Phạm Thị Mười
H, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp T, K, tỉnh Tây Ninh (Theo Văn bản ủy quyền
ngày 20-8-2025); vắng mặt;
5. Chủ tịch UBND K, tỉnh Tây Ninh. Địa chỉ: ấp G, K, tỉnh Tây
Ninh; vắng mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17-3-2025, đơn khởi kiện (sửa đổi) ngày 17-4-
2025, đơn khởi kiện (sửa đổi) ngày 30-4-2025, đơn khởi kiện (bổ sung) ngày
13-8-2025 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông
Lê Văn N và người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Văn N trình bày:
Ngày 12-5-2023 ông Văn N nhận chuyển nhượng QSDĐ (Viết tắt
QSDĐ) của ông Hữu V, bà Nguyễn Tuyết M với tổng diện tích đất lúa
khoảng 11,31ha, với số tiền 9,1 tỷ đồng; tại ấp T, K, huyện V, tỉnh Long An
(Nay là ấp H, K, tỉnh Tây Ninh). Trong phần đất ông N nhận chuyển nhượng
thì ông V được Giấy chứng nhận QSDĐ, nên lập hợp đồng chuyển nhượng
QSDĐ được công chứng; riêng phần diện tích đất khoảng 1.500m
2
thì chưa
được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ nên chỉ lập giấy chuyển nhượng. Cùng ngày
12-5-2023 ông N đã giao tiền cho ông V, M đã giao đất cho ông N sử
dụng. Ông N cho ông Phan Văn B thuê đất từ vụ đông xuân 2024 cho đến nay.
Đến tháng 6/2024, Phạm Thị Mười H tự ý đến trồng cây, đào mương
bao chiếm một phần diện tích đất này của ông N. Ông N gửi đơn đến UBND
K giải quyết nhưng kết quả không thành.
Nay ông Lê Văn N khởi kiện yêu cầu bà Phạm Thị Mười H di dời cây trồng
gồm 50 cây dừa, trả lại cho ông N phần đất đã lần chiếm khoảng 1.500m
2
, thuộc
một phần thửa 33, một phần thửa 1270; tờ bản đồ số 4; tọa lạc tại ấp H, K,
tỉnh Tây Ninh.
Tại buổi hòa giải ngày 17-6-2025, người đại diện theo ủy quyền của ông
Văn N rút yêu cầu khởi kiện đối với Phạm Thị Mười H về việc yêu cầu H
di dời 50 cây dừa.
3
Ngày 13-8-2025 ông Lê Văn N có đơn khởi kiện bổ sung, yêu cầu bà Phạm
Thị Mười H trả thêm diện tích đất 1.648,1m
2
; nên tổng cộng ông N yêu cầu
Mười H trả lại diện tích đất 3.148,1m
2
; theo Mảnh trích đo địa chính số 03-2025.
Bị đơn Phạm Thị Mười H trình bày: thửa đất 33, 1129; tờ bản
đồ số 4, giáp đường tuần tra biên giới; tọa lạc tại ấp T, xã K, huyện V, tỉnh Long
An (Nay ấp H, xã K, tỉnh Tây Ninh), đất này nguồn gốc do khai phá từ
năm 1986 theo chủ trương của Nhà nước lấp kín Đồng Tháp M1; đã nhiều
lần làm thủ tục nhưng vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Theo trích
lục trước đây thể hiện đất trên thuộc thửa 33, 1129; hiện nay số thửa mấy bà
không biết. Diện tích đất đã chuyển nhượng QSDĐ cho ông Nguyễn Tấn L,
ông Quang C, ông Trung H1 vào năm 2019 với diện tích 11,7ha, với số
tiền 350.000.000 đồng/ha.
Diện tích đất mặt tiền giáp đường tuần tra biên giới chưa giấy chứng
nhận QSDĐ thì không chuyển nhượng; nhưng nghĩ đất của Nhà nước
giáp đường tuần tra biên giới khoảng 15m là diện tích đất nhỏ nên giao luôn cho
ông L, ông C ông H1 sử dụng không chuyển nhượng. Năm 2024 phát
hiện phần đất chưa có giấy chứng nhận QSDĐ có diện tích đất lớn nên bà lấy lại
sử dụng.
Nay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Văn N về yêu cầu
trả diện tích đất thuộc một phần thửa 33, một phần thửa 1270; tờ bản đồ số 4
thì không đồng ý. Trước đây trồng 60 cây dừa trên đất tranh chấp
khoảng 02 tháng tuổi, nhưng ông Phan Văn B đã ủi mất hiện nay không còn.
Còn ông N cho rằng hiện nay có dừa trên đất tranh chấp là không có.
Tại phiên tòa thẩm, ông Nguyễn Văn K người đại diện theo ủy
quyền của Phạm Thị Mười H trình bày: Thống nhất lời trình bày của
Mười H trình bày bổ sung việc ông Văn N không quyền khởi kiện
Phạm Thị Mười H; vì ông N chưa được cấp giấy chứng nhận QSDĐ; nguồn gốc
đất do vchồng Mười H khai phá, chgiao cho ông L, ông C, ông H1 sử
dụng mà không có chuyển nhượng nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phan Văn B trình bày: Việc chuyển nhượng đất giữa các bên ông
không biết. Hiện ông là người thuê đất hơn 11ha của ông Lê Văn N từ năm 2019
và có luôn phần đất tranh chấp, ông thuê với giá 20.000.000 đồng/ha, ông N tính
tiền ông tròn 11 ha, thời gian thuê đến vụ hè thu năm 2025. Nhưng trước đó ông
cũng thuê ông H1 02 năm, ông V 01 năm. Đến vụ đông xuân 2024 thì Mười
H tý lấy cọc xi măng cắm không cho ông sử dụng khoảng 8 công sự việc
được chính quyền địa phương giải quyết hiện không ai sdụng phần đất trên.
Diện tích đất tranh chấp giáp đường tuần tra biên giới từ năm 2019 đến năm
2024 ông canh tác lúa, Mười H cho rằng ông ủi hết cây không có. Vụ việc
4
tranh chấp giữa ông N và bà Mười H ông không có ý kiến và xin giải quyết vắng
mặt.
+ Ông Phan Văn K1 trình bày: Ông K1 là chồng của bà Phạm Thị Mười H,
ông thống nhất với tất cả lời trình bày của bà Mười H.
+ Chủ tịch UBND K trình bày tại Công văn s257/UBND-KT ngày 20-
01-2026:
Ý kiến Chủ tịch UBND về nguồn gốc diện tích 3.019 tại một phần
thửa 33, 1270; tờ bản đồ số 70 (tờ bản đồ số 4); tọa lạc tại ấp H, xã K, tỉnh
Tây Ninh: Qua xác minh thực tế và hồ lưu trữ, nguồn gốc phần đất này do
Phạm Thị Mười H cùng chồng là ông Phan Văn K1 trực tiếp khai hoang vào
khoảng năm 1990 sử dụng ổn định đến năm 2019. Từ năm 2019 đến nay,
theo thông tin xác minh, đất đã qua chuyển nhượng cho nhiều đối tượng khác.
Tuy nhiên, các giao dịch chuyển nhượng này giao dịch giấy tay, các bên
không thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai tại cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền. Do đó, trên hồ địa chính quản tại chưa cập nhật biến động đối
với các trường hợp chuyển nhượng này.
Ý kiến Chủ tịch UBND về diện tích 3.019 tại một phần thửa 33,
1270, tờ bản đồ số 70 nêu trên thuộc trường hợp đủ điều kiện được cấp giấy
chứng nhận QSDĐ hay không: Diện tích 3.019 nêu trên qua soát không
thuộc quỹ đất công do UBND quản (đất thuộc diện người dân khai sót
trong quá tnh đo đạc, thành lập bản đồ địa chính). Hiện trạng vị trí đất phù hợp
với Quy hoạch sử dụng đất của địa phương. Do đó, nếu người sử dụng đất
chứng minh được quá trình sử dụng ổn định, liên tục, không tranh chấp
(ngoài vụ việc Tòa án đang thụ ) thì phần đất này đủ điều kiện xem xét cấp
Giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật về đất đai hiện hành.
Ý kiến Chủ tịch UBND về trường hợp Tòa án xác định diện tích 3.019
tại một phần thửa 33, 1270, tờ bản đồ số 70 (tờ bản đồ số 4) nêu trên
thuộc quyền sdụng của một trong các đương sự trong vụ án: Việc xác định ai
người quyền sử dụng hợp pháp đối với diện tích đất tranh chấp nêu trên
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân. Sau khi Bản án hoặc
Quyết định hiệu lực pháp luật của Tòa án, UBND K sẽ căn cứ vào phán
quyết của Tòa án và các quy định của Luật Đất đai để hướng dẫn đương sự thực
hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định.
Từ khi thụ vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản ttụng theo quy định
nhưng ông Lê Hữu V và bà Nguyễn Tuyết M không thể hiện ý kiến.
Tại Bản án Dân sự thẩm số 11/2026/DS-ST ngày 21-01-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 9, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N về việc yêu
cầu bà Phạm Thị Mười H di dời 50 cây dừa.
5
2. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Văn N vviệc tranh chấp
quyền sử dụng đất đối với Phạm Thị Mười H đối với diện tích 3.148,1m
2
tại
một phần thửa 33, 1270; tờ bản đồ số 70; tọa lạc tại ấp H, xã K, tỉnh Tây Ninh.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ do
chậm thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 12-02-2026, ông Văn N đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án
thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật ttụng của Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư phiên tòa kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội
đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp
luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông Lê Văn N; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ
vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, xét kháng
cáo của đương sự Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ông Văn N kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn
luật định, phù hợp tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của ông Văn N, yêu cầu sửa
bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N, nhận thấy:
2.1. Về tài sản tranh chấp: nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần
đất tranh chấp diện ch 3.148,1m
2
, thuộc một phần thửa 33, 1270; tờ bản đồ
số 70; tọa lạc tại ấp H, xã K, tỉnh Tây Ninh.
Theo Mảnh trích đo địa chính số 03-2025 ngày 29-7-2025 của Chi nhánh
Văn phòng đăng đất đai khu vực V thể hiện vị trí tranh chấp giữa ông N
Phạm Thị Mười H tại thửa 33, 1270 3.019m
2
; tại một phần thửa 33 (diện
tích 246m
2
), một phần thửa 1270 (diện tích 2.773m
2
) chưa giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.
2.2. Về nguồn gốc đất tranh chấp: Bị đơn Phạm Thị Mười H xác định
nguồn gốc tranh chấp này do gia đình H khai phá sử dụng từ năm 1986 đến
nay. Nguyên đơn ông Lê Văn N trình bày đất này do ông N nhận chuyển
nhượng của ông Hữu V, Nguyễn Tuyết M với tổng diện tích đất lúa
khoảng 11,31ha, với số tiền 9,1 tỷ đồng, trong đó có phần đất tranh chấp chưa ai
được cấp giấy đất này; nhưng ông N không cung cấp được chứng cứ chứng
minh cho lời trình bày của ông N về nguồn gốc đất này hợp pháp; đồng thời,
tại Bản án dân sự thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 30-7-2024 của Tòa án nhân
6
dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An Bản án dân sự phúc thẩm số
47/2025/DS-PT ngày 14-01-2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An tuyên bố
Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ quyền sử dụng đất giữa ông Lê Văn N với ông
Hữu V, Nguyễn Tuyết Mhiệu do giả tạo. Do đó, cấp sơ thẩm không
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn N là có căn cứ.
Từ những phân tích trên, nhận thấy lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên
toà phù hợp nên cần chấp nhận; do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo
của ông Lê Văn N; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn N người cao tuổi nên được
miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng n sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn N,
2. Giữ nguyên Bản án Dân sự thẩm số: 11/2026/DS-ST ngày 21 tháng
01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9, tỉnh Tây Ninh.
3. Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 92,
Điều 147, Điều 228, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 236
của Luật Đất đai m 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
3.1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Văn N về việc
yêu cầu bà Phạm Thị Mười H di dời 50 cây dừa.
3.2. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Văn N, về việc tranh chấp
quyền sử dụng đất đối với Phạm Thị ời H đối với diện tích đất 3.148,1m
2
;
tại một phần thửa 33, 1270; tờ bản đồ số 70; tọa lạc tại ấp H, K, tỉnh Tây
Ninh.
3.3. Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền 8.669.000 đồng, ông Văn N phải
chịu, ông N đã nộp chi phí xong.
3.4. Về án phí dân sự thẩm phúc thẩm: Miễn tiền án pcho ông
Văn N.
4. Các quyết đnh khác ca bản án thm không kháng cáo, kháng
ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
5. Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC;
- VKSNDTC
- VKSND tnh Tây Ninh;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
7
- TAND Khu vc 9;
- Phòng THADS Khu vc 9;
- Phòng GĐ, KT, TT&THA;
- Các đương sự;
- Lưu tập án;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyn Quc Tun
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 756/2026/DS-PT Bản án số 756/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 756/2026/DS-PT Bản án số 756/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất