Bản án số 318/2026/DS-PT ngày 17/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 318/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 318/2026/DS-PT ngày 17/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 318/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 318/2026/DS-PT Bản án số 318/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 318/2026/DS-PT Bản án số 318/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 318/2026/DS-PT
Ngày 17 - 6 - 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng tặng giao khoán
và yêu cầu bồi thường thiệt hại
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị My My
Các thẩm phán: Ông Lê Trúc Lâm, ông Y Phi Kbuôr
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa:
Lê Thị Bích Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét
xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 183/2025/TLPT- DS ngày 25
tháng 3 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng giao khoán yêu cầu bồi
thường thiệt hại về tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số: 96/2024/DS-ST ngày 12 tháng 12 năm
2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc (nay TAND khu vực 4 Đắk
Lắk) bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 248/2026/QĐPT-DS ngày 06
tháng 5 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 310/2026/QĐ-PT ngày
28/5/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần C; địa chỉ: K, Quốc lộ B, xã E, tỉnh Đắk
Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoàng P, chức vụ: Chủ tịch Hội
đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Đình B, sinh
năm 1957; địa chỉ: F T, phường B, tỉnh Đắk Lắk; có mặt.
2
2. Bị đơn yêu cầu phản tố: Ngô Thị H, sinh năm 1972; địa chỉ:
Thôn N, xã E, tỉnh Đắk Lắk; có mặt
Người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn: Ông Phạm Văn H1, sinh năm
1984; địa chỉ: Buôn K, xã K, tỉnh Lâm Đồng; có mặt.
3. Người kháng cáo: Ngô Thị H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung quá trình tham gia tố tụng và
tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn ông Phạm Đình B
trình bày:
Ngày 25/8/2011, bà Ngô Thị H đơn xin hợp đồng khoán gọn vườn cây
phê cho hộ nông trường viên gửi Công ty TNHH một thành viên C (Nay
Công ty Cổ phần C).
Ngày 27/8/2011 giữa H Công ty đã Hợp đồng khoán gọn vườn
cây cà phê cho hộ nông trường viên số 931/2011/HĐ-GK. Theo hợp đồng thì bà
H nhận khoán chăm sóc vườn cây pVối trồng năm 1990 của Công ty
diện tích 8.730m
2
và diện tích bờ lô 1.268m
2
. Địa điểm đất giao khoán thuộc đội
1/5, tại thửa 36, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: thuộc xã H, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk. Nguyên giá vườn cây khi nhận khoán 49.139.714đồng; Giá trị vườn cây
còn lại 29.001.313đồng. Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%, chủ hộ
góp 49%. Thời hạn giao khoán 10 năm (từ ngày kết hợp đồng đến niên vụ
2020-2021).
Mức giao khoán hằng năm H phải nộp về Công ty theo thoả thuận
trong Hợp đồng giao khoán. Cụ thể: Niên vụ 2011-2012 đến 2014-2015 nộp
2.781 kg quả tươi/niên vụ; Niên vụ 2015-2016 đến 2017-2018 nộp 2.483 kg quả
tươi/niên vụ; Niên vụ 2018-2019 đến 2020-2021 nộp 2.185 kg quả tươi/niên vụ.
Việc hợp đồng trên dựa vào Bộ luật dân sự 2005; Nghị Định số
135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của chính phủ; Thông số 102/2006/TT-
BNN ngày 13/11/2006 của Bộ N; Quyết định số 1399/QĐ-UDND ngày
08/6/2011 của UBND tỉnh Đ; Biên bản Họp các sở ngành liên quan (biên bản
Họp 11 sở ngành ngày 20/1/2011); Nghị quyết hội nghị đại biểu người lao động
ngày 26/3/2010; Biên bản họp mở rộng tham gia góp ý kiến phương án khoán
gọn vườn cây phê cho hộ nông trườn viên, trên sở kế thừa sửa đổi
“Phương án hợp đồng hợp tác đầu & Phân chia sản phẩm” Công ty đã
thực hiện từ năm 1998 đến năm 2010; Việc kết hợp đồng giữa hai bên
hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, không lừa dối, vì trước khi ký hợp đồng
thì bà H đã có đơn xin nhận khoán vườn cây gửi Công ty, sau đó có hội đồng xét
duyệt đơn xin hợp đồng khoán gọn vườn cây phê cho hộ nông trường viên
cho từng nhân, đến Tổng giám đốc thay mặt Công ty hợp đồng theo quy
định của pháp luật. Việc ký kết này là theo chu kỳ kinh doanh của vườn cây chứ
không ký theo từng năm.
Kể từ khi nhận khoán vườn cây cho đến niên vụ phê 2017-2018 H
đã thực hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây cũng như thực hiện đầy đnghĩa vụ
3
giao nộp sản phẩm theo hợp đồng. Từ niên vụ 2018-2019 đến niên vụ 2023-
2024 H đã không thực hiện nghĩa vụ giao nộp sản phẩm phê quả tươi cho
Công ty theo đúng cam kết trong Hợp đồng ngoài Hợp đồng. Ngoài ra theo
thông báo của Cục T tỉnh số tiền thuê đất bà H phải nộp về Công ty là 5.793.381
đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng còn tự ý cắt hạ 51 cây muồng đen
trồng năm 1994, đồng thời chiếm đoạt toàn bộ 19,99m
3
gỗ tròn. Mặt khác
còn nợ tiền khấu hao kênh mương của Công ty từ năm 2018 đến 2021.
Mặc hợp đồng đã hết hạn, Công ty đã động viên, thông báo nhiều lần
nhưng H vẫn cố tình chống đối, không hợp tác. những do trên, Công ty
làm đơn khởi kiện bà Ngô Thị H, đề nghị Toà án giải quyết:
- Chấm dứt Hợp đồng khoán gọn vườn cây phê cho hộ nông trường
viên số 931/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011. Buộc Ngô Thị H phải (Di rời
hoặc chặt bỏ toàn bộ cây trồng xen, hệ thống tưới, hàng rào vật kiến trúc
khác ra khỏi đất, vườn cây) trả lại toàn bộ vườn cây cho Công ty cổ phần C với
diện tích 8.730m
2
và diện tích bờ lộ 1.268m
2
. Địa điểm đất giao khoán thuộc đội
1/5, tại thửa 36, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: thuộc xã H, huyện K, tỉnh Đắk
Lắk. Thửa đất tứ cận: Phía Bắc giáp thửa số 37, tờ bản đồ số 17 người nhận
khoán Hồ Thị H2; Phía Nam giáp thửa số 38, tờ bản đsố 17 người nhận
khoán Nguyễn Thị H3; Phía Đông giáp thửa s41a, tờ bản đồ số 17 người
nhận khoán Phan Thị M; Phía Tây giáp thửa số 35b, tờ bản đồ số 17 người
nhận khoán bà Nguyễn Thị H4.
- Buộc Ngô Thị H phải trả cho Công ty cổ phần C 7.176kg phê quả
tươi còn nợ của 04 niên vụ (2018-2019; 2019-2020; 2020-2021; 2021-2022).
Ngoài ra, theo đơn khởi kiện bổ sung, Công ty yêu cầu Ngô Thị H phải trả
cho Công ty 8.568kg phê quả tươi ngoài hợp đồng 02 niên vụ (2022-2023;
2023-2024). Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về
việc buộc H phải trả cho Công ty 4.198kg phê quả tươi ngoài hợp đồng
của 02 niên vụ (2022-2023; 2023-2024). Nguyên đơn chỉ yêu cầu H phải trả
cho Công ty sản lượng phê quả tươi ngoài hợp đồng 02 niên vụ (2022-2023;
2023-2024) tương đương với sản lượng niên vụ cuối (2020-2021) theo hợp đồng
là 2.185 kg cà phê quả tươi/1niên vụ x 02 = 4.370kg cà phê quả tươi. Tổng cộng,
Công ty yêu cầu H phải trả cho Công ty cổ phần C 11.546kg phê quả tươi
còn nợ của 06 niên vụ (2018-2019; 2019-2020; 2020-2021; 2021-2022; 2022-
2023; 2023-2024). Cụ thể: Niên v2018-2019 621 kg; Niên vụ 2019-2020
đến niên vụ 2023-2024 mỗi niên vụ là 2.185kg.
- Buộc bà Ngô Thị H phải nộp tiền thuê đất về Công ty Phần 49% để công
ty nộp cho cục thuế tỉnh T 5.793.381 đồng. Trong đó: Truy thu tiền thuê đất
2006 - 2010 204.196 đồng; Truy thu tiền thuê đất 2015- 2017 2.093.426
đồng; Tiền thuê đất: năm 2018 875.296 đồng; năm 2019 874.175 đồng;
năm 2020 là 873.144 đồng; năm 2021 là 873.144 đồng.
- Buộc Ngô Thị H phải trả cho Công ty cổ phần C tiền khấu hao kênh
mương hồ đập tưới cho vườn phê 04 năm (tm 2018 đến năm 2021)
1.746.000 đồng. Trong đó mỗi năm là 436.500 đồng.
4
- Buộc bà Ngô Thị H đền bù thiệt hại do hành vi chặt phá, chiếm đoạt cây
muồng đen để che bóng, chắn gió cho vườn cây 51 cây trồng năm 1994, khối
lượng 19,99m
3
, giá 19,99m
3
x 4.620.000đ/m
3
= 92.353.800 đồng. Tại phiên
tòa nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về viêc buộc H phải bồi
thường 49% trị giá 51 cây muồng đen trồng năm 1994. Nguyên đơn chỉ yêu cầu
bà H phải bồi thường 51% trị giá 51 cây muồng đen trồng năm 1994 là
92.353.800 đồng x 51% = 46.176.900 đồng.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn tnguyên đơn không đồng ý đề nghị
Tòa án xem xét không chấp nhận.
Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên a ông Phạm Văn H1
người đại diện theo ủy quyền cho bị đơn bà Ngô Thị H trình bày: Về việc ký kết
hợp đồng khoán gọn, thời gian ký kết, diện tích nhận khoán các thỏa thuận
trong hợp đồng như nguyên đơn trình bày đúng. Tuy nhiên, quá trình thực
hiện hợp đồng Công ty không thực hiện đúng theo hợp đồng, không xem xét
giảm sản lượng cho người nhận khoán khi thiên tại xảy ra. những do
nêu trên nên bà H dừng đóng sản để yêu cầu Công ty giảm sản lượng đóng
thương thảo lại các điều khoản trong hợp đồng.
Do đó, Công ty cổ phần C buộc bà H phải trả cho công ty 11.546kg cà p
quả tươi còn nợ của 06 niên vụ (2018-2019; 2019-2020; 2020-2021; 2021-2022;
2022-2023; 2023-2024) Chấm dứt hợp đồng khoán gọn không hợp đề
nghị công ty cổ phần C giảm sản lượng theo quy định trong hợp đồng m
việc với H để thỏa thuận việc phân chia thu nhập sau khi trừ chi phí đầu
đúng theo quy định của nghị định 135/2005 của chính phủ.
Công ty cổ phần C buộc H phải nộp tiền thuê đất về Công ty số tiền
5.793.381 đồng tiền thuê đất không nêu căn cứ ràng không đúng với
giá thuê đất trong hợp đồng thuê đất do Công ty Đ với UBND tỉnh Đ tại hợp
đồng thuê đất số 64/HĐTĐ ngày 27/06/2011, phụ lục hợp đồng ngày 17/11/2011
phụ lục hợp đồng số 118/PL-HĐTĐ ngày 21/6/2017 do vậy H chưa để
nộp tiền cho đúng với 49% đất bà H đã thuê.
Công ty cổ phần C buộc bà Ngô Thị H phải trả cho Công ty cổ phần C
tiền khấu hao kênh mương hồ đập tưới cho vườn phê 04 năm (từ năm 2018
đến năm 2021) 1.746.000 đồng, mỗi năm 436.500 đồng thì H không
đồng ý.
Công ty cổ phần C buộc Ngô Thị H đền 51% thiệt hại do hành vi
chặt phá, chiếm đoạt cây muồng đen để che bóng, chắn gió cho vườn cây 51
cây trồng năm 1994, khối lượng 19,99m
3
thì H không đồng ý H
người trực tiếp chăm sóc, rong tỉa cây.
Đối với yêu cầu phản tố: Theo đơn Phản tố H yêu cầu Công ty Cổ
phần C trả lại cho H sản lượng p đã thu sai từ năm 2011 - 2018
458,32kg phê nhân; số phê H hưởng theo tỷ lệ 40% từ niên v2011 -
2018 là 1.449,17kg phê nhân; Công nhận việc phân chia sản phẩm sau thu
nhập cho gia đình H với t lCông ty 60%, H 40% sản lượng sau khi trừ
chi phí từ năm 2018-2022 là 541,25kg cà phê nhân; Công nhận hiệu lực của hợp
5
đồng hợp tác đầu tư số 395/HĐHTĐT ngày 05/9/1998 giữa Công ty TNHH
MTV C và bà Ngô Thị H.
Tại phiên tòa thẩm, bị đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc
buộc Công ty Cổ phần C trả lại cho H số sản lượng phê đã thu sai tnăm
2011 - 2018 458,32kg phê nhân; số phê H hưởng theo t lệ 40% từ
niên vụ 2011 - 2018 1.449,17kg phê nhân; Công nhận việc phân chia sản
phẩm sau thu nhập cho gia đình H với tỷ lệ Công ty 60%, H 40% sản
lượng sau khi trừ chi phí từ năm 2018-2022 là 541,25kg cà phê nhân.
H chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hiệu lực của hợp đồng hợp
tác đầu số 395/HĐHTĐT ngày 05/9/1998 giữa Công ty TNHH MTV C
Ngô Thị H.
Hiện nay, huyện ủy Krông P1 đã làm việc vớiH và các hộ nhận khoán
hứa sẽ giải quyết (biên bản làm việc số: 03-BB/TCTHU ngày 01/12/2022).
Việc tranh chấp giữa H công ty cổ phần C đang được thanh tra chính phủ
và ủy ban nhân tỉnh Đắk Lắk, cùng các quan có thẩm quyền giải quyết. Ngày
22/09/2023 UBND tỉnh Đ đã có công văn số: 8185/UBND-NNMT (V/v đnghị
thanh tra toàn diện tại công ty cổ phần C). Kết quả giải quyết của thanh tra chính
phủ và các cơ quan liên quan có thể ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên đề
nghị Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc tạm đình chỉ vụ án để chờ các quan
chức năng giải quyết; đề nghị đưa chồng, con H vào tham gia tố tụng với
cách là người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị xem xét lại cách
khởi kiện của Công ty cổ phần C H chỉ kết hợp đồng với Công ty
TNHH Một thành viên C.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 96/2024/DS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2024
của Toà án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk đã quyết định:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều
219, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 388, 390, 392, khoản 1, 3, 7, 8 Điều 409, 412, 414, 501,
502, 503, 506 của Bộ luật dân sự năm 2005; điểm c khoản 1 Điều 688 của Bộ
luật dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 7, 8, 9, 10, 12 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày
08/11/2005 của Chính phủ;
- Áp dụng Thông số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006
của Bộ N;
- Áp dụng Luật đất đai năm 2003;
- Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ
phần C.
6
1.1. Buộc Ngô Thị H phải trả cho Công ty cổ phần C1 sản lượng
phê quả tươi còn nợ của 06 niên vụ (từ niên vụ 2018-2019 đến niên vụ 2023-
2024) là 11.546kg (Mười một nghìn, năm trăm bốn mươi sáu kilogam).
1.2. Buộc bà Ngô Thị H phải nộp tiền thuê đất phần 49% về Công ty (truy
thu năm 2006 đến năm 2010; 2015 đến 2017) tiền thuê đất 04 năm (từ năm
2018 đến năm 2021) 5.793.381 đồng (Năm triệu, bảy trăm chín mươi ba
nghìn, ba trăm tám mươi mốt đồng).
1.3. Buộc Ngô ThH phải trả cho Công ty cổ phần C1 tiền khấu hao
kênh mương, hồ đập từ năm 2018 đến năm 2021 1.746.000 đồng (Một triệu,
bảy trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).
1.4. Buộc Ngô Thị H phải bồi thường cho Công ty cổ phần C 51% giá
trị 51 cây muồng đen trồng năm 1994 bị cắt hạ 47.100.438 đồng (Bốn mươi
bảy triệu, một trăm nghìn, bốn trăm ba mươi tám đồng).
1.5. Chấm dứt Hợp đồng khoán gọn vườn cây pcho hộ nông trường
viên số 931/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011 giữa Công ty TNHH MTV C
Ngô Thị H.
Ngô Thị H nghĩa vụ trả lại cho Công ty Cổ phần C diện tích đã
nhận khoán 8.730m
2
diện tích bờ lộ 1.268m
2
. Địa điểm đất giao khoán
thuộc đội 1/5, tại thửa 36, tờ bản đồ số 17, địa chỉ thửa đất: thuộc H, huyện
K, tỉnh Đắk Lắk. Thửa đất tứ cận: Phía Bắc giáp: Thửa số 37 , tờ bản đồ số
17 người nhận khoán Hồ Thị H2; Phía Nam giáp: Thửa số 38, tờ bản đồ số
17 người nhận khoán bà Nguyễn Thị H3; Phía Đông giáp: Thửa số 41a, tờ bản
đồ số 17 người nhận khoán Phan Thị M; Phía Tây giáp: Thửa số 35b, tờ bản
đồ số 17 người nhận khoán Nguyễn Thị H4 và tài sản trên đất bao gồm: 890
cây cà phê trồng năm 1994.
- Buộc Công ty cổ phần C phải nghĩa vụ thanh toán giá trị vườn cây
cho Ngô ThH số tiền 98.472.507 đồng (Chín mươi tám triệu, bốn trăm bảy
mươi hai nghìn, năm trăm lẻ bảy đồng).
- Buộc Ngô Thị H phải tự tháo dỡ, di dời hoặc chặt bỏ các loại cây
trồng các vật kiến trúc đã trồng và tạo dựng trên đất không đúng theo thỏa
thuận trong hợp đồng đã ký kết, bao gồm: 112 cây Sầu riêng ghép (53 cây trồng
năm 2018; 20 cây trồng năm 2020; 32 cây trồng năm 2022; 07 cây trồng năm
2024); 57 Cây ghép trồng năm 2018; 44 cây Tiêu trồng năm 2021 trên trụ
sống là Cây G và cây Núc Nác; 89 trụ bê tông (10x10cm) cao 2m; 06 trụ điện bê
ng (10x10cm) cao 04m; 02 cánh cổng kích thước (3,5mx1,6m), khung sắt,
lưới B40; 1.433,3m kẽm gai; 100m ống nhựa chôn ngầm dưới đất phi 114;
320m ống nhựa chôn ngầm dưới đất phi 60; 20 cái T60; 04 Khóa phi 60; 20 cái
đầu Cùm phi 60; 20 đầu gai ống phi 60; 100m đường dây điện 3pha; 390m lưới
B40, ca 1,5m; 01 căn nhà lán diện tích 9m
2
, lền láng xi măng, mái lợp tôn, có tô
trát, không trần; 01 mái che nhà lán bằng tôn, khung sắt, diện tích 06m
2
. Công ty
cổ phần C không nghĩa vụ phải thanh toán lại số tiền giá trị các loại cây
trồng, vật kiến trúc nêu trên cho bà H.
7
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu
thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
buộc bà Ngô Thị H phải trả cho Công ty cổ phần C sản lượng pquả tươi
của 02 niên vụ (2022-2023; 2023-2024) 4.198kg 49% giá trị của 51 cây
muồng đen trồng năm 1994 bị cắt hạ.
3. Không chấp nhận một phần yêu cầu phản tcủa bà Ngô Thị H vviệc
Công nhận hiệu lực của hợp đồng hợp tác đầu tư số 395/HĐHTĐT ngày
05/9/1998 giữa Công ty TNHH MTV C và bà Ngô Thị H.
4. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn về việc
buộc Công ty Cổ phần C trả lại cho H số sản lượng phê đã thu sai từ năm
2011 - 2018 458,32kg cà phê nhân, giá trị tạm tính 27.499.200 đồng; số
phê H hưởng theo tỷ lệ 40% từ niên vụ 2011 - 2018 là 1.449,17kg phê
nhân; Công nhận việc phân chia sản phẩm sau thu nhập cho gia đình bà H với tỷ
lệ Công ty 60%, H 40% sản lượng sau khi trừ chi phí từ năm 2018-2022
541,25kg cà phê nhân.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng
cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩmNgô Thị H kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ
thẩm số: 96/2024/DS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân khu
vực 4 – Đắk Lắk.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi
kiện, bị đơn giữ nguyên đơn kháng cáo.
Tại phiên tòa Đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Các đương sự trong vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm đã
thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Qua phân tích đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án, lời trình bày của các bên đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX
căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 – Không chấp nhận kháng cáo của
bị đơn bà Ngô Thị H giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thu thập trong hồ vụ án, kết
quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
8
[1] Về ttụng: Bị đơn Ngô Thị H làm đơn kháng cáo trong thời hạn
luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, nên vụ án được giải quyết theo
trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn Ngô Thị H cho rằng H
không ký kết hợp đồng với Công ty cổ phần C mà chỉ ký kết hợp đồng với Công
ty TNHH MTV C, cấp thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
bác yêu cầu phản tố của bị đơn là không đúng, HĐXX thấy rằng:
[2.1] Về việc chuyển đổi từ hình Công ty TNHH MTV C sang Công
ty Cổ phần C đã được thực hiện theo trình tự quy định của pháp luật, được
Phòng đăng kinh doanh - Sở K đầu cấp giấy chứng nhận đăng doanh
nghiệp Công ty Cổ phần đăng thay đổi lần thứ 5 ngày 09/10/2019, hiện nay
chưa bị cơ quan có thẩm quyền nào hủy bỏ tư cách pháp nhân. Mặt khác, căn cứ
khoản 4 Điều 202 Luật doanh nghiệp quy định “Công ty chuyển đổi đương
nhiên kế thừa toàn bộ quyền và lợi ích hp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản
nợ, gồm cả nợ thuế, hợp đồng lao động nghĩa vụ khác của công ty được
chuyển đổi”. Nên việc Tòa án cấp thẩm thụ lý, giải quyết ván theo yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cồ phần cà phê Thắng Lợi là có căn cứ.
[2.2] Về yêu cầu khởi kiện Ngô Thị H phải trả cho Công ty cổ phần C
sản lượng cà phê quả tươi còn nợ của 06 niên vụ (từ niên vụ 2018-2019 đến niên
vụ 2023-2024) 11.546kg; yêu cầu Ngô Thị H phải nộp tiền thuê đất phần
49% về Công ty (truy thu năm 2006 đến năm 2010; 2015 đến 2017) và tiền thuê
đất 04 năm (từ năm 2018 đến năm 2021) là 5.793.381 đồng; yêu cầu Ngô Thị
H phải trả cho Công ty cổ phần C tiền khấu hao kênh ơng, hồ đập từ năm
2018 đến năm 2021 1.746.000 đồng; yêu cầu Ngô Thị H phải bồi thường
cho Công ty cổ phần C 51% giá trị 51 cây muồng đen trồng năm 1994 bị cắt hạ
là 47.100.438 đồng. Thấy rằng:
Ngày 27/8/2011 giữa Công ty TNHH MTV C và bà Ngô Thị H đã ký Hợp
đồng khoán gọn vườn cây phê số 931/2011/HĐ-GK. Quá trình thực hiện hợp
đồng, từ niên vụ 2011-2012 đến niên vụ 2017-2018 bà H đã thực hiện việc quản
lý, chăm sóc vườn cây giao nộp sản phẩm theo nội dung hợp đồng đã ký kết.
H cho rằng Công ty không thực hiện đúng các cam kết, không xem xét giảm
sản lượng giao khoán khi thiên tai nên bà ngừng giao nộp sản phẩm để yêu
cầu Công ty T1 lại các điều khoản trong hợp đồng. Tuy nhiên, bà H không cung
cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh Công ty đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa
vụ hợp đồng hoặc hành vi làm cho mục đích giao kết hợp đồng không đạt
được.
Tại khoản 5 Điều 6 Hợp đồng khoán gọn quy định: “Trong quá trình thực
hiện hợp đồng bên B không hoàn thành chỉ tiêu giao nộp sản phẩm cà phê theo
định mức hàng năm thì bên A quyền áp dụng biện pháp cần thiết để thu hồi
nợ và đơn phương chấm dứt hợp đồng giao khoán...”.
9
Tại điểm g khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng khoán gọn, về phần nghĩa v
của bên B nội dung: Bên B nghĩa vụ nộp tiền thuê đất, thuế đất nông
nghiệp cho Nhà nước, theo tỷ lệ 51 49%, phần bên B chịu 49% nộp vào tháng
11 trong năm thông qua bên A
Theo các tài liệu trong hồ vụ án thì từ niên vụ 2018-2019 H
không thực hiện đầy đnghĩa vụ giao nộp sản lượng theo định mức đã cam kết,
đồng thời không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuê đất theo thỏa thuận, là hành vi
vi phạm hợp đồng. Do đó, Tòa án cấp thẩm chấp nhận yêu cầu của Công ty
về việc buộc H thực hiện nghĩa vụ còn thiếu, đồng thời chấm dứt hợp đồng
giao khoán và trả lại diện tích nhận khoán cho Công ty là có căn cứ.
[2.3] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Ngô Thị
H phải bồi thường thiệt hại do hành vi tự cắt hạ cây muồng đen, thì thấy:
Khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng khoán gọn vườn cây phê quy định về
điều khoản cam kết chung thì “Công ty thống nhất quản cây muồng đen hiện
trên lô phê giao khoán, nếu do quá dày rợp, già cỗi phải cắt tỉa hoặc
khi vườn cây thanh thì công ty sẽ tổ chức kiểm kê, lập thủ tục bán theo
phương thức đấu thầu…”. Theo Biên bản kiểm vườn cây phê cây
muồng năm 2019 thì trên đất nhận khoán của H còn 53 cây muồng đen. Biên
bản chủ tự ý cắt muồng đen trên nhận khoán ngày 12/5/2021 H không
có mặt, có sự chứng kiến của đại diện Công ty, đội trưởng và xác nhận của Công
an H thì H đã tự ý cắt hạ 51 cây muồng đen trồng năm 1994. Như vậy,
việc H tự ý cắt hạ đối với cây muồng đen trên diện tích đất nhận khoán vi
phạm hợp đồng đã kết nên cấp thẩm buộc Ngô Thị H phải bồi thường
cho Công ty giá trị 51 cây muồng đen trồng năm 1994 là phù hợp.
[2.4] Về giải quyết hậu quả khi chấm dứt hợp đồng giao khoán:
Theo quy định tại Điều 1 của Hợp đồng được kết giữa các bên thì
“Phần giá trị vườn cây trên đất Công ty góp 51%, chủ hộ góp 49%”. Mặt khác,
trong hợp đồng hai bên không thỏa thuận về mức độ khấu hao tài sản. Như vậy,
khi chấm dứt hợp đồng thì Công ty phải nghĩa vụ trả lại phần 49% giá trị
vườn cây cà phê còn trên lô cho bà H là phù hợp.
Đối với các tài sản khác trên đất do H tự trồng, tạo dựng tcăn cứ
điểm c khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng khoán gọn số
931/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011 nội dung “Được làm lán trại tạm bảo vệ
sản phẩm trong thi kỳ thu hoạch. Vật liệu làm lán chỉ bằng vật liệu dễ tháo
dỡ...Diện tích không quá 12m
2
, chiều cao không quá 4m ...”; “...Trong
phê chỉ cây phê với cây muồng đen, ngoài bđược trồng xen tiêu...”.
Ngoài ra, tại Nghị Quyết 04/NQ-HĐTV ngày 01/6/2017 và Thông báo số
42/TB-CT ngày 09/6/2017 của Công ty TNHH MTV C thể hiện việc cho phép
người nhận khoán trồng Cây tiêu phụ bám trên cây muồng đen trong và bờ lô
phê.
10
Như vậy, toàn bộ tài sản trên nhận khoán H tự ý trồng, tạo dựng
không đúng thỏa thuận trong hợp đồng cần buộc bà H phải chặt bỏ hoặc tháo dỡ,
di dời, Công ty không nghĩa vụ thanh toán lại cho H trị giá số tài sản này
là phù hợp.
[2.5] Đối với yêu cầu phản tố đề nghị công nhận hiệu lực Hợp đồng hợp
tác đầu tư số 395/HĐHTĐT ngày 05/9/1998, xét thấy:
Ngày 05/9/1998 H và Công ty TNHH MTV C hợp đồng hợp tác
đầu sản xuất phê phân chia sản phẩm số 395/HĐHTĐT, thời hạn hợp
đồng là 30 năm. Tuy nhiên đến năm 2011, Công ty đã lập phương án chuyển đổi
khoán vườn cây phê từ Phương án hợp đồng hợp tác đầu sản xuất phê
và phân chia sản phẩm sang Phương án khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông
trường viên. Ngày 27/8/2011, H Công ty TNHH MTV C đã hợp đồng
khoán gọn vườn cây phê cho hộ nông trường viên số 931/2011/HĐ-GK thay
thế cho hợp đồng hợp tác đầu sản xuất phê và phân chia sản phẩm số
395/HĐHTĐT ngày 05/9/1998. Như vậy, Hợp đồng số 395/HĐHTĐT ngày
05/9/1998 đã hết hiệu lực. Do đó, Tòa án cấp thẩm xác định Hợp đồng hợp
tác đầu s395/HĐHTĐT ngày 05/9/1998 không còn được các bên thực hiện
đã được thay thế bằng Hợp đồng khoán gọn số 931/2011/HĐ-GK căn
cứ.
Từ những nhận định trên thấy rằng kháng cáo của bà H là không có cơ sở,
cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Vì không được chấp nhận kháng cáo nên
Ngô Thị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của Ngô Thị H Giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm số: 96/2024/DS-ST ngày 12 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân
huyện Krông Pắc (nay là TAND khu vực 4 Đắk Lắk).
[2.]. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ngô Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Được
khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ng án phí đã nộp theo biên lai thu số
0014425 ngày 02/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pắc
(nay là Phòng THADS khu vực 4 - Đắk Lắk).
11
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- VKSND tỉnh Đắk Lắk (02); THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND khu vực 4 - Đắk Lắk;
- Phòng THADS Khu vực 4 - Đắk Lắk ;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ. (Đã ký)
Nguyễn Thị My My
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 318/2026/DS-PT Bản án số 318/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 318/2026/DS-PT Bản án số 318/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất