Bản án số 315/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 315/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 315/2026/DS-PT ngày 11/06/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê khoán tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 315/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 11/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 315/2026/DS-PT Bản án số 315/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 315/2026/DS-PT Bản án số 315/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 315/2026/DS-PT
Ngày: 11 6 2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng giao
khoán và yêu cầu bồi thường thiệt
hại về tài sản”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị My My;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Nhung, bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Dương Công Bình – ThưToà án nhân
dân tỉnh Đắk Lắk
- Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Trương Thị Thu Thy
Kim sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tiến hành
xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 159/2025/TLPT-DS ngày 26
tháng 2 năm 2025 về việc "Tranh chấp hợp đồng giao khoán và yêu cầu bồi thường
thiệt hại về tài sản" do kháng o của bị đơn Đào Thị G đối với Bản án thẩm
số 81/2024/DS-ST ngày 30-9-2024 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk
Lắk. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 211/2025/QĐPT-DS ngày 23/4/2025,
Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 214/2025/QĐ-PT ngày 14/5/2025, Thông
báo chuyển lịch xét xử vụ án dân sự phúc thẩm số 535/2025/TB-TA ngày 23/5/2025
Thông báo mở lại phiên tòa số: 604/2026/TB-TA ngày 28/4/2026, Quyết định
hoãn phiên tòa phúc thẩm số 312/2026/QĐ-PT ngày 28/5/2026 giữa:
- Nguyên đơn: Công ty Cổ phần C (Trước đây là Công ty TNHH MTV C).
Địa chỉ: K, Quốc lộ B, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Hoàng P, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng
quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty Cổ phần C: Ông Phạm
Đình B, sinh năm 1957. Địa chỉ: F T, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
- Bị đơn: Đào Thị G, sinh năm 1955. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Buôn K, xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
1. Đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn ông Phạm Đình B trình bày:
Vào ngày 27/8/2011, Đào Thị G Hợp đồng khoán gọn vườn cây
phê cho hộ nông trường viên số 246/2011/HĐ-GK với công ty TNHH MTV C để
nhận khoán chăm sóc vườn câyphê Vối trồng năm 1984 của Công ty có diện tích
10.060 m
2
diện tích bờ 1.461 m
2
. Nguyên giá: 40.872.374 đồng (Bốn mươi
triệu,tám trăm bảy hai ngàn, ba trăm bảy tư đồng). Giá trị còn lại: 24.000.835 đồng
(Hai triệu, không ngàn,tám trăm ba lăm đồng) Thời gian giao khoán 05 năm,
sau đó gia hạn đến niên vụ thu hoạch 2020-2021, tính từ ngày ký kết hợp đồng. Sản
lượng giao khoán hằng năm bà Đào Thị G phải nộp về công ty theo Hợp đồng giao
khoán cụ thể như sau: Từ niên vụ thu hoạch 2011-2012 đến niên vụ 2020-2021
Đào Thị G phải nộp 2.403 kg quả tươi/niên vụ; Tương ứng với 5,25 tạ nhân /ha/năm.
Từ khi nhận vườn cây đến niên vụ phê 2018-2019 Đào Thị G đã thực
hiện nghĩa vụ chăm sóc vườn cây theo đúng quy định của công ty thực hiện nghĩa
vụ giao nộp sản phẩm đầy đủ trong theo Hợp đồng giao khoán vườn cây đã ký với
công ty. Hợp đồng của với Công ty TNHH MTV C (nay Công ty cổ phần C)
đã hết hạn vào niên vụ thu hoạch 2020-2021 tức ngày 31/12/2020). Hiện nay
đang chiếm dụng bất hợp pháp vườn cây của Công ty để sản xuất, kinh doanh.
Từ niên vụ thu hoạch cà phê 2019-2020 đến niên vụ 2023-2024, Đào Thị G
đã không thực hiện nghĩa vụ giao nộp sản phẩm phê quả tươi cho công ty theo
đúng cam kết trong Hợp đồng. Ngoài ra theo thông báo của cục T2 tỉnh tiền truy thu
tiền thuê đất (2006 đến 2010; 2015 đến 2017); Tiền thuê đất 06 năm
(2018,2019,2020,2021,2022 2023) là: 8.882.391 đồng (Tám triệu, tám trăm tám
mươi hai ngàn ba trăm chín mươi mốt đồng). Trong đó: Truy thu tiền thuê đất 2006-
2010 588.262 đồng; Truy thu tiền thuê đất 2015- 2017 2.412.356 đồng; Tiền
thuê đất năm 2018 là 1.008.646 đồng. Tiền thuê đất năm 2019 là 1.007.353 đồng.
Tiền thđất năm 2020 1.006.165 đồng. Tiền thuê đất năm 2021 1.006.165
đồng. Tiền thuê đất năm 2022 là 926.722 đồng. Tiền thuê đất năm 2023 926.722
đồng .
Trong quá trình thực hiện hợp đồng còn tự ý chặt h27 cây muồng đen trồng
năm 1984 đche bóng và chắn gió cho vườn phê, đồng thời chiếm đoạt toàn bộ
khối lượng gỗ tròn. Mặt khác còn nợ tiền khấu hao kênh mương, hồ đập của Công
ty từ năm 2018 đến 2021.
Mặc dù công ty đã động viên, thông báo nhiều lần nhưng bà Đào Thị G vẫn cố
tình chống đối, không hợp tác với công ty. Việc làm này của Đào Thị G vi
phạm hợp đồng đối với Công ty, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp và
tài sản của công ty.
Vì những lý do trên, Công ty làm đơn khởi kiện bà Đào Thị G ra trước TAND
huyện Krông Pắc. Đề nghị Toà án tuyên:
3
- Chấm dứt Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên số
246/2011/HĐ-GK. Buộc Bà Đào Thị G phải trả lại toàn bộ đất, vườn cây cho Công
ty cổ phần C với diện tích 10.060 m
2
diện tích bờ 1.461 m
2
, Thuộc đội 15/2,
thửa số 22, tờ bản đồ số 09, địa chỉ thửa đất tại xã H, huyện K, Tỉnh Đắk Lắk. Theo
GCNQSDĐ số K 239519, do UBND tỉnh Đ cấp cho Công ty Cổ phần C vào ngày
16/5/1997. Cụ thể: Thửa đất tứ cận: Phía Bắc giáp: đường + Thửa số 16, tờ bản
đồ số 09, người nhận khoán: Nguyễn thị M. Phía Nam giáp: Đường tránh đông –
BMT. Phía Đông giáp: Thửa s21, tờ bản đồ số 9, người nhận khoán: ông Ngô
Quang T. Phía Tây giáp: Đường + Thửa số 23a +23b, tờ bản đồ số 09, người nhận
khoán: bà Nguyễn Thị V.
- Buộc Bà Đào Thị G phải trả cho công ty cổ phần C là: 11.635 kg (Mười một
nghìn, sáu trăm ba lăm kilogam) phê quả tươi còn nợ ca 05 niên vụ (2019-2020;
2020-2021; 2021-2022; 2022-2023; 2023-2024), cụ thể như sau: Niên v2019-2020
2.403 kg; Niên vụ 2020-2021 2.403 kg; Niên vụ 2021-2022 là 2.403 kg; Niên
vụ 2022-2023 là 2.213 kg; Niên vụ 2023-2024 là 2.213 kg.
- Buộc bà Đào Thị G phải nộp tiền Truy thu tiền thuê đất năm 2006 đến 2010;
năm 2015 đến 2017; Tiền thuê đất 06 năm (2018, 2019, 2020, 2021, 2022, 2023) về
công ty phần 49% đcông ty nộp cho Cục thuế tỉnh T2 là: 8.882.391 đồng (Tám
triệu, tám trăm tám mươi hai ngàn ba trăm chín mươi mốt đồng).
- Buộc Đào Thị G đền thiệt hại do nh vi chặt phá, chiếm đoạt cây
muồng đen để che bóng, chắn gió cho vườn cây 27 cây trồng năm 1984; khối
lượng 29,82 m
3
.
- Buộc Đào Thị G phải trả cho ng ty cổ phần C tiền khấu hao kênh mương
hồ đập tưới cho vườn phê (từ năm 2018 đến năm 2021) 1.765.530 đồng (Một
triệu ,bảy trăm sáu năm ngàn, năm trăm ba mươi đồng). Cụ thể: Tiền khấu hao kênh
mương hồ đập năm 2018 là 256.300 đồng (phần 51%); Tiền khấu hao kênh mương
hồ đập năm 2019 là 503.000 đồng; Tiền khấu hao kênh mương hồ đập năm 2020 là
503.000 đồng; Tiền khấu hao kênh mương hồ đập năm 2021 là 503.000 đồng.
Tại phiên tòa nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bà
Đào Thị G phải bồi thường 30% giá trcủa 27 cây muồng đen trồng năm 1984 bị cắt
hạ. Nguyên đơn chỉ yêu cầu Đào Thị G phải bồi thường 70% gtrị của 27 cây
muồng đen trồng năm 1984 bị cắt hạ.
2. Bị đơn bà Đào Th G trình bày:
Hiện nay, việc tranh chấp giữa tôi và Công ty cổ phần C đang được Thanh tra
chính phủ Ủy ban nhân dân tỉnh Đ cùng các quan thẩm quyền giải quyết.
Ngày 22/9/2023 UBND tỉnh Đ đã có Công văn số 8185/UBND-NNMT v/v đề nghị
thanh tra toàn diện tại Công ty cổ phần C. Kết quả giải quyết của Thanh tra chính
phủ và các quan liên quan thể ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. vậy, tôi
4
kính mong TAND huyện Krông Pắc tạm đình chỉ vụ án cho đến khi có kết quả của
thanh tra chính phủ và các cơ quan liên quan. Do đó tại phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc
thì tôi tham gia đầy đủ nhưng tôi không vào biên bản không đồng ý hòa
giải với nguyên đơn cũng như sẽ không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
3. Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phạm Văn H trình bày:
Vụ việc tranh chấp hợp đồng giao khoán giữa công ty TNHH một thành viên C (nay
ng ty cổ phần C, xin gọi tắt công ty) với bà Đào Thị G xuất phát từ việc công
ty những vi phạm trong quá trình lập hợp đồng giao khoán chưa đúng với nghị
định 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 trong quá trình thực hiện hợp đồng công
ty đã vi phạm các điều khoản trong hợp đồng dẫn đến mâu thuẫn gay gắt giữa công
ty với Đào Thị G. Qua tìm hiểu hồvụ án tôi nhận thấy có nhiều tình tiết, nội
dung trong vụ án cần phải xem xét toàn diện cụ thể như sau:
Công ty cổ phần C không quyền khởi kiện Đào Thị G không hợp
đồng với công ty cổ phần C hợp đồng với công ty TNHH C. Quá trình thực
hiện hợp đồng Công ty không thực hiện đúng theo hợp đồng, không xem xét giảm
sản lượng cho người nhận khoán khi có thiên tai xảy ra. Vì những lý do nêu trên nên
bà G dừng đóng sản để yêu cầu Công ty giảm sản lượng đóng và thương thảo lại các
điều khoản trong hợp đồng.
Hợp đồng khoán gọn vườn cây phê cho hộ nông trường viên số:
246/2011/HĐ-KG giữa hộ Đào Thi G1 ký với công ty TNHH một thành viên C
ngày 27/08/2011 xuất phát từ hợp đồng hợp tác đầu tư sản xuất cà phê và phân chia
sản phẩm giữa ng ty C với hộ bà Đào Thị G năm 1998 với thời hạn 30 năm đến
năm 2028 mới hết hạn. Hợp đồng hợp tác đầu tư này đến nay vẫn còn hiệu lực pháp
luật vì chưa bthanh và vẫn còn thời hạn. Bản chất hợp đồng khoán gọn vườn cây
số: 246/2011/HĐ-GK giữa công ty TNHH một thành viên C với hG, hợp
đồng khoán trắng 51% gtrị vườn cây của công ty TNHH mt thành viên C cho hộ
nông trường viên theo quy định của nghị định 135/2005/NĐ-CP (hộ nông trường
viên đã mua lại 49% giá trị vườn cây từ năm 1999 hợp đồng hợp tác đầu
theo quyết định số: 1675/QĐ-UB ngày 15/08/1998 của UBND tỉnh Đ với thời hạn
30 năm, hợp đồng này chưa thanh lý đang còn hiệu lực pháp luật) có trả sản lượng
cho công ty TNHH một thành viên C. Tất cả các thủ tục từ đơn xin nhận khoán,
phương án khoán đều do phía công ty S, công ty không thực hiện chế dân chủ,
không giải thích rõ về các điều khoản của hợp đồng mà đưa đơn và hợp đồng in sẵn
yêu cầu G ký. Thời điểm đó do cần phải vườn cây đviệc làm tạo thu
nhập lo cho bản thân, gia đình tin tưởng vào phía công ty nên G đã hợp
đồng nêu trên khi chưa hiểu rõ về phương án khoán và hợp đồng khoán. Vic công
5
ty c phn C buc G phi tr cho công ty 11.635kg phê qu tươi của 06 niên
v (2018-2024) là không hợp lý vì năm 2021 nhà nước đã thu hồi 794,3m
2
, đề ngh
công ty c phn C gim sản lượng niên v 2018-2019 theo quy đnh trong hợp đồng
và làm vic vi bà G đ tha thun vic phân chia sn phm sau khi tr chi phí đầu
tư đúng theo quy định ca Ngh định 135/2005 ca chính ph.
Công ty cổ phần C yêu cầu bà G phải nộp tiền thuê đất về công ty cổ phần C số
tiền: 8.882.391 đồng không nêu căn cứ ràng và không đúng với giá thuê đất
trong hợp đồng thuê đất do công ty Đ ký với UBND tỉnh Đ tại hợp đồng thuê đất số
64/ HĐTĐ ngày 27/06/2011, phụ lục hợp đồng ngày 17/11/2011 phụ lục hợp
đồng số 118/PL-HĐTĐ ngày 21/6/2017 do vậy G chưa rõ để nộp tiền cho đúng
với 49% đất đã thuê.
Công ty cổ phần C yêu cầu bà G phải trả tiền khấu hao kênh mương năm 2018
đến năm 2021 với số tiền là: 1.765.530 đồng là không có cơ sở. Bà G chỉ chấp nhận
nộp 49% của số tiền 1.765.530 đồng tương đương 865.109 đồng.
Công ty cổ phần C buộc G phải bồi thường giá trị của 27 cây Muồng đen
trồng năm 1984 hoàn toàn không sở trong hợp đồng không thể hiện số
cây muồng nêu trên công ty không chứng minh được nguồn gốc số cây muồng
đều do G ttrồng chăm sóc. Hơn nữa công ty không chứng minh được G
người chặt hạ số cây muồng nêu trên, việc lập biên bản từ một phía công ty,
không đo đạc được khối lượng cây thực tế, việc xác nhận của công an H là trái
quy định của pháp luật khi không có trong thành phần biên bản. Hơn nữa việc định
giá theo hồ do công ty đưa ra không khách quan, không chứng cứ chứng
minh việc có tồn tại số muồng nêu trên.
Nếu buộc phải chấm dứt hợp đồng khoán gọn vườn cây số: 246/2011/HĐ-GK
giữa bà G và công ty TNHH MTV C, bà G chỉ chấp nhận trả lại cho công ty TNHH
MTV C phần 51% giá trị vườn cây 51% diện tích đất nhận khoán (51% ca
10.060m
2
+ 1461m
2
diện tích bờ trừ đi phần đã thu hồi 794,3m
2
) vì phần 49% giá
trị vườn cây bà G đã mua lại của công ty từ năm 1998 và cũng chịu trách nhiệm trả
tiền thuê đất trên diện ch đất của 49% giá trị vườn cây y, hợp đồng hợp tác
đầu tư đang còn hiệu lực thời hạn 30 năm. Đề nghị tiếp tục thực hiện hợp đồng hợp
tác đầu tư nêu trên.
Hiện nay, Ban tiếp dân Trung ương đã thông báo về việc đối thoại giải
quyết với chúng tôi theo Công n số: 2420/TB-BTDTW ngày 26/07/2023 Huyện
ủy Krông Pắc đã làm việc với chúng tôi và hứa sẽ giải quyết (biên bản làm việc số:
03-BB/TCTHU ngày 01/12/2022), các quan thanh tra đang làm việc thanh tra
toàn diện công ty cổ phần C chưa văn bản trả lời. Từ những phân tích nêu trên tôi
đề nghị hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần C.
6
Tại Bản án thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân
huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (Nay Tòa án nhân dân khu vực 4 Đắk Lắk)
đã quyết định:
- Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều
244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng Điều 388, 390, 392,
khoản 1, 3, 7, 8 Điều 409, 412, 414, 501, 502, 503, 506 của Bộ luật dân sự năm
2005; điểm c khoản 1 Điều 688 ca Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 7, 8, 9,
10, 12 Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ; Áp dụng
Thông số 102/2006/TT-BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ N; Áp dụng Luật
đất đai năm 2003; Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần C.
1.1. Buộc Đào Th G phải trả cho Công ty cổ phần C1 sản lượng cà phê quả
tươi còn nợ của 05 niên vụ (từ niên vụ 2019-2020 đến niên vụ 2023-2024) là 11.635
kg.
1.2. Buộc bà Đào Thị G phải nộp tiền thuê đất phần 49% về Công ty (truy thu
từ 2006 đến năm 2010; tiền thuê đất 2015 đến 2017) T1 thuê đất 06 năm (2018,
2019, 2020, 2021, 2022,2023) 8.882.391 đồng (Tám triệu, tám trăm tám mươi hai
ngàn ba trăm chín mươi mốt đồng).
1.3. Buộc bà Đào Thị G phải trả tiền khấu hao kênh mương, hồ đập năm 2018
đến năm 2021 1.765.530 đồng (Một triệu, bảy trăm sáu năm ngàn, năm trăm ba
mươi đồng).
1.4. Buộc bà Đào Thị G phải bồi thường cho Công ty cổ phần C 70% gtrị 27
cây muồng đen trồng năm 1984 bị cắt hạ là 96.437.880 đồng (Chín mươi sáu triệu
bốn trăm ba mươi bảy nghìn tám trăm tám mươi đồng).
1.5. Chấm dứt Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê cho hộ nông trường viên
số 246/2011/HĐ-GK ngày 27/8/2011 giữa Công ty TNHH MTV C và Đào Thị G.
Đào Thị G có nghĩa vụ trả lại cho Công ty Cổ phần C diện tích đất đã nhận
khoán là 9.265,7m
2
diện tích bờ lô 1.461 m
2
, Thuộc đội 15/2, thửa số 22, tờ bản
đồ số 09, địa chỉ thửa đất tại xã H, huyện K, Tỉnh Đắk Lắk. Theo GCNQSDĐ số K
239519, do UBND tỉnh Đ cấp cho Công ty Cổ phần C vào ngày 16/5/1997. Cụ thể:
Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp: đường lô + Thửa số 16, tờ bản đồ số 09, người
nhận khoán: Nguyễn thị M. Phía Nam giáp: Đường tránh đông BMT. Phía
Đông giáp: Thửa số 21, tờ bản đồ số 9, người nhận khoán: ông Ngô Quang T. Phía
Tây giáp: Đường + Thửa số 23a +23b, tbản đồ số 09, người nhận khoán:
Nguyễn Thị V tài sản trên đất bao gồm: 1013 cây phê (899 cây trồng năm
7
1984, 27 cây trồng năm 2019, 29 cây trồng năm 2020, 33 cây trồng năm 2023, 25
cây trồng 2024); 19 cây muồng đen trồng năm 1984, 11 cây mọc chồi lại sau khi cắt
40 cây trồng năm 2018; 60 cây tiêu (04 cây trồng năm 2018, 56 cây trồng năm
2023).
1.6 Công ty cổ phần C nghĩa vụ thanh toán giá trị vườn cây cho bà Đào Thị
G số tiền 70.801.716 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm lẻ một nghìn bảy trăm mười
sáu đồng).
1.7 Buộc bà Đào Th G phải tự tháo dỡ, di dời hoặc chặt bỏ các loại cây trồng
và các vật kiến trúc đã trồng và tạo dựng trên đất không đúng theo thỏa thuận trong
hợp đồng đã kết, bao gồm: 139 cây mc ca (14 cây trồng năm 2020, 125 cây
trồng năm 2023); 54 cây cau (17 cây trồng năm 2021, 37 câu trồng năm 2022); 07
cây mít thái trồng năm 2019; 01 cây keo trồng năm 2021; 01 cây xoan trồng năm
2021; 30 cây gòn trồng năm 2022; 03 Cây T (02 cây trồng 2024, 01 cây trồng năm
2023); 01 cây lồng mức trồng năm 2020; 01 cây ổi thường trồng năm 2018; 109
Cây sầu riêng (28 cây trồng năm 2018, 10 cây trồng năm 2019, 13 cây trồng năm
2020, 09 cây trồng năm 2021, 08 cây trồng năm 2022, 24 cây trồng năm 2023, 17
cây trồng năm 2024; 24 bụi nghệ. Hàng rào lứới B40, cao 1,8m (12 cuộn x 25m);
120 Trụ rào lưới cao 1,5m (10 x 10 cm); 01 đường dây điện 3 pha dài 118m; 01 ống
nhựa chôn ngầm phi 90 dài 88,6m; 01 ống nhựa chôn ngầm nhụa phi 60 dài 322,6m;
07 trụ điện cao 4m: 15x12 m; 08 cán mốc khoa béc phi 60; 25 cái trụ tông cao
1,5m (dựng béc nối); 01 giếng nước đào đường kính 1,1m, sâu 15m (không rõ năm
đào); 25 cái cùm ren đực (ren trong); 01 căn nhà lán (Chòi) xây gạch, nền măng,
mái lợp tôn, diện tích 9,72 m
2
xây năm 1998. Công ty cổ phần C không có nghĩa vụ
phải thanh toán lại số tiền giá trị các loại cây trồng, vật kiến trúc nêu trên cho
G.
Kể tngày bản án hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày đơn yêu cầu thi
hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được
thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357,
Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần C về việc
buộc bà Đào Thị G phải trả lại 794,3m
2
đất nhận khoán.
3. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà
Đào Thị G phải bồi thường cho Công ty cổ phần C 30% giá trị của 27 cây muồng
đen trồng năm 1984 bị cắt hạ.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng
cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/10/2024, bà Đào Thị G kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
8
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo y quyền nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện, ý kiến như trình bày trong quá trình giải quyết tại cấp thẩm. Đại
diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương s
không tự hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm giải
quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, các
đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật ttụng dân sự. Đơn kháng cáo của
Đào Thị G đã nộp trong thời hạn luật định.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố
tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đào Thị G. Giữ nguyên các
quyết định khác của Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được thẩm tra
công khai tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến Kiểm sát
viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn Đào Thị G đã được nộp trong
thời hạn luật định được miễn tạm ứng án phí nên được xem xét, giải quyết theo
trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút yêu cầu khởi
kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo, c đương sự không tự hòa giải được với nhau
về việc giải quyết vụ án và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về tư cách tham gia tố tụng của nguyên đơn:
Xét thấy, việc chuyển đổi từ hình Công ty TNHH MTV C sang Công ty Cổ
phần C đã được thực hiện theo trình tự quy định của pháp luật được Phòng đăng ký
kinh doanh - Sở kế hoạch đầu cấp giấy chứng nhận đăng doanh nghiệp Công
ty Cổ phần đăng thay đổi lần thứ 5 ngày 09/10/2019, hiện nay chưa bquan
thẩm quyền nào hủy bcách pháp nhân. Mặt khác, căn cứ khoản 4 Điều 202
Luật doanh nghiệp năm 2020 quy định “Công ty chuyển đổi đương nhiên kế thừa
toàn bộ quyền lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ, gồm cả nợ
thuế, hợp đồng lao động và nghĩa vụ khác của công ty được chuyển đổi”. Như vậy,
Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc thụ lý, giải quyết ván theo yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn Công ty Cồ phần phê Thắng L xác định người đại diện theo
pháp luật của Công ty ông Đỗ Hoàng P (chức danh Chủ tịch hội đồng quản trị)
người đại diện của Công ty tham gia tố tụng là căn cứ, phù hợp với quy định tại
Điều 85 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2] Về sản lượng cà phê quả tươi còn phải đóng cho Công ty:
9
Tại điểm c khoản 2 Điều 3 của Hợp đồng khoán gọn vườn cây phê nội
dung: Nghĩa vụ của bên B (bà G) thực hiện nộp sản lượng cho bên A theo quy
định...”và theo quy định tại khoản 5 Điều 6 của hợp đồng nội dung: Trong quá
trình thực hiện hợp đồng bên B không hoàn thành chỉ tiêu giao nộp sản phẩm phê
theo định mức hàng năm thì bên A có quyền áp dụng biện pháp cần thiết để thu hồi
nợ đơn phương chấm dứt hợp đồng giao khoán...”. Xét các niên vụ từ 2019
2020; 2020 - 2021; 2021 2022; 2022 2023; 2023 2024, bà G không thực hiện
đầy đủ nghĩa vụ nộp sản lượng cho Công ty vi phạm nghĩa vụ của bên nhận khoán.
Do đó, bà G phải thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết.
[2.3] Về tiền thuê đất: Tại điểm g khoản 2 Điều 3 của hợp đồng khoán gọn đã
quy định về nghĩa vụ của bà Đào Thị G “Nộp tiền thuê đất, thuế đất nông nghiệp
cho nhà nước (nếu có), theo tỷ lệ 51-49%, phần bên B (49%) nộp vào tháng 11 trong
năm thông qua bên A”. Tuy nhiên, từ năm 2006 đến năm 2010, từ năm 2015 đến
năm 2017 từ năm 2018 đến năm 2023, G chưa nộp tiền thuê đất cho Công ty
đối vớiđất nhận khoán để Công ty thực hiện nghĩa vụ nộp tiền thuê đất vào Ngân
sách nhà nước theo quy định.
Tại Thông báo số 43/CT-THNVDT ngày 08/1/2018 của Cục thuế tỉnh T2 về
việc truy thu tiền thuê đất đã miễn sai đối tượng theo kết luận của Kiểm toán Nhà
nước thì từ năm 2003 2010 (05 năm) tiền thuê đất được tính 1.042.067 đ/ha; Thông
báo số 802/TB-CT ngày 24/4/2018 của Cục thuế tỉnh T2; Thông báo số 984/TB-CT
ngày 07/5/2019 của Cục thuế tỉnh T2 về việc nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước thì
năm 2015 tiền thuê đất được tính 699.849đ/ha, từ năm 2016 đến năm 2017 tiền thuê
đất được tính 1.786.408đ/ha/năm, từ năm 2018 đến năm 2019 tiền thuê đất được tính
1.786.748đ/ha/năm; Thông báo số 695/TB-CT ngày 23/3/2020 tiền thuê đất được
tính 1.785.408đ/ha; Thông báo s1252/TB-CT ngày 29/4/2021 tiền thuê đất được
tính 1.785.408đ/ha. Như vậy, căn cứ vào diện tích đất nhận khoán, diện tích đất bờ
lô và các Thông báo thuế thì G phải có nghĩa vụ nộp tiền thuê đất.
[2.4] Đối với tiền khấu hao kênh mương, hồ đập: Tại Điều 1 của hợp đồng
khoán gọn nêu: 1. Bên A khoán gọn vườn cây cà phê cho bên B trực tiếp đầu tư,
chăm sóc, bảo vệ, thu hoạch giao nộp sản phẩm phê”. tại Điều 2, Điều 3
của hợp đồng có nêu: “Khi vào vụ tưới nước cho cà phê, Công ty mở nước cho bên
B tưới với diện tích tưới mương. Diện tích tưới mương Công ty sẽ thu tiền khấu hao
hồ đập kênh mương theo đơn giá quy định tại hội nghị người lao động hằng năm
Đối với diện tích tưới nước trên hệ thống hồ đập, kênh mương của Công ty thì
phải nộp tiền khấu hao hồ đập kênh mương cho bên A theo đơn giá quy định tại hội
nghị người lao động hằng m”. Tại trang 10 của bảng phương án khoán gọn
nêu: Chi phí khấu hao hồ đập kênh mương 500.000đồng/ha/năm (chi phí 100%
10
trên vườn cây), diện tích bà G nhận khoán là 10.000m
2
. Như vậy, bà G phải trả cho
công ty tiền khấu hau kênh mương, hồ đập theo hợp đồng đã ký kết.
[2.5] Đối với các cây muồng đen bị chặt hạ:
Tại khoản 1 Điều 6 của Hợp đồng khoán gọn vườn cây cà phê quy định về điều
khoản cam kết chung thì: “Công ty thống nhất quản lý cây muồng đen hiện có trên
phê giao khoán, nếu do quá dày rợp, già cỗi phải cắt tỉa hoặc khi vườn
cây thanh thì công ty sẽ tổ chức kiểm kê, lập thủ tục bán theo phương thức đấu
thầu…”.
Theo khoản 1 Điều 6 của hợp đồng tại mục 7.2.1.2 của Phương án khoán
gọn vườn cây cà phê quy định: “Đối với cây muồng đen trồng trên lô cà phê từ năm
1992 trở về trước, khi cắt tỉa hoặc thanh lý thì phân chia theo tlệ 70%-30%”. Như
vậy, việc bà G tự ý cắt hạ đối với cây muồng đen trên diện tích đất nhận khoán là vi
phạm hợp đồng đã ký kết.
[2.6] Đối với Hợp đồng khoán gọn vườn cây phê số 246/2011/HĐ-GK
ngày 27/8/2011 giữa bà Đào Thị G với Công ty TNHH MTV C:
Tại điểm f khoản 1 Điều 2 của Hợp đồng quy định về quyền nghĩa vụ của
bên A (Công ty TNHH MTV C) tbên A có quyền: “Hủy bỏ hợp đồng giao khoán,
thu hồi diện tích giao khoán khi bên nhận khoán vi phạm hợp đồng…”. Và tại khoản
5 Điều 6 của Hợp đồng quy định về điều khoản cam kết chung có nêu: “Trong quá
trình thực hiện hợp đồng bên B không hoàn thành chỉ tiêu giao nộp sản phẩm phê
theo định mức hàng năm, tbên A có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để thu
hồi nợ và đơn phương chấm dứt hợp đồng giao khoán, thu hồi vườn cây cà phê giao
khoán, tiến hành giao cho người khác hợp đồng”.
Như vậy, việc G không đóng sản lượng cho Công ty; không nộp tiền thuê
đất phần 49%, vi phạm nộp tiền khấu hao kênh mương hồ đập là vi phạm hợp đồng
khoán gọn đã kết. Đồng thời, theo Hợp đồng số 246/2011/-GK ngày
27/8/2011, thời hạn giao khoán là 05 năm tính tngày kết hợp đồng, được gia
hạn đến năm 2021. Sau khi hết hạn hợp đồng G không tiếp tục kết hợp đồng
giao khoán mà chiếm dụng vườn cây.
[3] T nhng phân tích, nhận định nêu trên, nhận thấy: Toà án cấp thẩm
tuyên buộc G phải trả cho Công ty sản lượng 11.635kg phê quả tươi còn nợ
của 05 niên vụ, buộc bà G phải nộp tiền thuê đất cho Công ty phần 49% với số tiền
8.882.391 đồng tiền khấu hao kênh mương, hồ đập; buộc G phải bồi thường
số tiền 96.437.880 đồng cây muồng đen đã chặt hạ chấm dứt hợp đồng giao khoán,
buộc bà G phải trả lại diện tích giao khoán và giải quyết hậu quả của việc chấm dứt
hợp đồng căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, xét kháng cáo của bị
đơn Đào Thị G không căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm
phù hợp.
11
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Đào Thị G được miễn án phí dân sự phúc
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Đào Thị G. Giữ nguyên Bản án
thẩm số sơ thẩm s81/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện
Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 4 – Đắk Lắk).
[2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Đào Thị G được miễn án phí dân
sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
- TAND Ti cao; THM PHÁN CH TA PHIÊN TÒA
- VKSND Ti cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lk;
- TAND khu vc 4 - Đk Lắk;(Đã ký)
- Phòng THADS khu vc 4 - Đắk Lk;
- Các đương sự;
- Công thông tin đin t Tòa án;
- Lưu hồ sơ vụ án. Nguyn Th My My
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 315/2026/DS-PT Bản án số 315/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 315/2026/DS-PT Bản án số 315/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất