Bản án số 61/2026/HS-PT ngày 25/05/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 61/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 61/2026/HS-PT ngày 25/05/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 61/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 25/05/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bị cáo Vo Van T, Pham Hong Q phạm tội trộm cắp tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 61/2026/HS-PT Bản án số 61/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 61/2026/HS-PT Bản án số 61/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 61/2026/HS-PT
Ngày: 25 - 5 - 2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Duy Mỹ Ngọc;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Chí Đức,
Ông Lê Văn Phận,
Thư ký phiên tòa: Lữ Hồng Ngoan -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh
Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Quốc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sthụ số 65/2026/TLPT-HS, ngày 20 tháng
4 năm 2026 đối với bị cáo Võ Văn T, bị cáo Phạm Hồng Q do có kháng cáo của
bị cáo Văn T, bị cáo Phạm Hồng Q đối với Bản án hình sự thẩm số
22/2026/HS-ST, ngày 10/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long.
Các bị cáo có kháng cáo:
1/ n T, sinh ngày 01/01/1977 tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi trú: Số C
Khóm H, phường N, tỉnh Vĩnh Long; Nơi hiện tại: Khóm Đ, phường H, tỉnh
Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân
tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông
Văn N (chết) bà Trần Thị L, sinh năm 1941. Bị cáo có vợ tên Thị H, sinh
năm: 1981 và 05 người con (lớn nhất sinh năm: 2001, nhỏ nhất sinh năm: 2018).
Tiền án: 02 (Ngày 24/10/2019 bị Toà án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh
Trà Vinh xử phạt 02 năm vtội Trộm cắp tài sản; Ngày 13/4/2022 bTán
nhân dân thành phố TVinh, tỉnh TVinh xử phạt 03 m về tội Trộm cắp
tài sản); Tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ tngày 16/9/2025 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến
nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2
2/ Phạm Hồng Q, sinh ngày 30/4/1989 tại tỉnh Vĩnh Long; Nơi cư trú: Số
E đường H, Khóm A, phường L, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Lao động tự do;
Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo:
Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn M (chết) và bà Nguyễn Thị H1.
Bị cáo vợ tên Thị T1, sinh năm 1990 ã ly hôn) 01 người con sinh năm:
2012.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/9/2025 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến
nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1/ Bà Thạch Thị M1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp T, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
2/ Bà Nguyễn Thị Thùy H2, sinh năm 1968 (vắng mặt).
Nơi cư trú: T, phường T, thành phố Cần Thơ.
3/ Chị Thạch So Kan H3, sinh năm 2004 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp T, xã S, tỉnh Vĩnh Long.
4/ Chị Nguyễn Huỳnh Mai L1, sinh năm 2003 (vắng mặt).
Nơi cư trú: T, phường T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo uỷ quyền của M1, bà H2, chị Ka H4, chị L1: ông
Đàm Quốc C, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Nơi cư trú: ấp G, xã T, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Nguyễn Văn L2, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Nơi cư trú: số I khóm H, phường N, tỉnh Vĩnh Long.
2/ Ông Huỳnh Văn S, sinh năm 1971 Giám đốc Công ty TNHH MTV H5.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông S: Ông Huỳnh Tấn Đ, sinh năm 1990
(vắng mặt).
Nơi cư trú: khóm B, phường N, tỉnh Vĩnh Long.
- Người làm chứng: Bà Lê Thị H, sinh năm 1981 (vắng mặt).
Nơi cư trú: khóm Đ, phường H, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
3
Vào khoảng 22 giờ ngày 15/9/2025, bị cáo Võ Văn T gặp bị cáo Phạm
Hồng Q tại quán phê gần chợ T2 (Q từng cháu rễ của T), tại đây khi nói
chuyện với nhau thì được biết cả hai đều đang cần tiền tiêu sài nên rủ nhau cùng
đi trộm cắp tài sản. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 16/9/2025, bị cáo T điều
khiển xe nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, gắn biển số 84B1-349.70 chở bị
cáo Q để tìm nhà nào hở trong quản tài sản sẽ vào trộm. Khi đi đến một đoạn
đường nhựa thuộc ấp T, xã S, tỉnh Vĩnh Long, thấy một ngôi nhà bên phải có sân
đang che rạp chuẩn bị tiệc (nhà của Nguyễn Thị Thùy H2 cùng gia đình từ
Campuchia mới về để tchức tiệc) nên bị cáo T dừng xe lại và để xe bên ngoài
hàng rào, hai bị cáo trèo qua hàng rào, đi dọc theo hàng rào để tránh đèn chiếu
sáng rồi đi vòng đến cửa nhà bếp thấy cửa khép hờ, bên trong nhà đèn sáng nên
cả hai bị cáo mở hé cửa xem, thấy không có ai trong nhà nên cả hai bị cáo đi vào
nhà bếp và đi lên phòng khách tìm tài sản lấy trộm nhưng không thấy nên bị cáo
T tiếp tục lên cầu thang đến tầng 1 thì thấy phòng ngủ bên phải còn sáng đèn
cửa khép lại nên mới lấy tay đẩy nhẹ nhìn bên trong thấy những người trong
phòng đã ngủ gồm Nguyễn Thị Thùy H2, sinh ngày 20/8/1968, chị Nguyễn
Huỳnh Mai L1, sinh ngày 30/8/2003, Thạch Thị M1, sinh ngày 07/6/1969 và
chị Thạch So Kan H3, sinh ngày 07/9/2004 để tài sản trong các túi xách dưới
nền gạch, các tài sản của 04 người bao gồm: 05 điện thoại di động hiệu Iphone
(gồm 02 điện thoại Iphone 15 Promax, 01 điện thoại Iphone 13 Promax, 01 điện
thoại Iphone XS Max, 01 điện thoại Iphone 7 Plus); 02 cái máy tính bảng (hiệu
Ipad 11 Pro Ipad Pro 12,9 inch); 01 cái máy chụp ảnh nhãn hiệu Canon; 01
đồng hồ đeo tay nhãn hiệu OH BRAND RED BOX; 01 cái mắt kính nhãn hiệu G;
tiền Việt Nam 4.500.000 đồng; tiền Đô la Mỹ 555 USD tiền Campuchia
1.535.800 Riel. Bị cáo T mới dùng tay mở nhẹ cửa đi vào bên trong phòng lấy
trộm 01 cái túi xách đem ra ngoài cửa phòng, bị cáo Q thấy vậy cũng đi vào trong
phòng lấy tiếp 03 cái túi xách đem ra ngoài. Sau đó, cả hai bị cáo mang các túi
xách lấy trộm được đi xuống nhà, ra ngoài cửa phụ, cạnh lối đi bên hong nhà, hai
bị cáo kiểm tra bên trong các túi xách thấy nhiều điện thoại hiệu iphone,
máy tính bảng, tiền Việt Nam, tiền USD tiền C1 nên đã lấy tất cả tài sản
trong các túi xách bỏ vào trong 01 cái túi xách nilong màu đen, trên túi xách
dòng chữ FJALLRAVEN KANKEN cả hai đi ra ngoài theo hướng đã đột nhập.
Khi ra khỏi nhà thì bị cáo Q để cái túi xách đựng tài sản lấy trộm phía trước baga
xe và điều khiển xe mô tô chở bị cáo T chạy theo hướng xã T, đi trên đường S về
hướng phường N, trên đường đi bị cáo T ngồi phía sau thấy tiền rớt ra từ túi
xách nhưng các bị cáo chạy tiếp mà không dừng lại nhặt, khi về nhà bị cáo Q tại
số E, khóm A, phường L, tỉnh Vĩnh Long thì các bị cáo lấy túi xách ra kiểm tra
tài sản lấy trộm được chia nhau, bị cáo T lấy 05 cái điện thoại di động nhãn hiệu
Iphone, 02 cái máy tính bảng kèm theo ốp lưng, 01 đồng hồ đeo tay, tiền
Campuchia 570.500 riel, tiền Việt nam 1.100.000 đồng về nhà tại khóm Đ,
phường H, tỉnh Vĩnh Long cất giấu. Còn bị cáo Q lấy tiền đô la Mỹ 150 USD, tiền
Việt nam 1.100.000 đồng, tiền Campuchia 544.800 riel, 01 cái máy ảnh nhãn hiệu
Canon, 01 cái mắt kính, 01 cái túi xách có dòng chữa FJALLRAVEN KANKEN
4
bên trong có đnhiều đồ vật cá nhân giấy tờ tùy thân của chị Nguyễn Huỳnh
Mai L1.
Đến khoảng 09 giờ 00 phút, ngày 16/9/2025 bị cáo T đến Cửa hàng Đ1
trên đường V thuộc khóm A, phường N, tỉnh Vĩnh Long bán cho ông Huỳnh Tấn
Đ nhân viên cửa hàng 02 điện thoại Iphone 15 Promax 01 điện thoại Iphone
13 Promax với giá 15.000.000 đồng, được stiền này bị cáo T gặp bị cáo Q
chia số tiền 3.500.000 đồng Q đưa thêm 01 cái máy ảnh C2 cho bị cáo T đi
bán, sau đó bị cáo T đem máy ảnh C2 về nhà cất. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày,
bị cáo T tiếp tục đến cửa hàng Đ2 trên đường N thuộc khóm H, phường N, tỉnh
Vĩnh Long bán cho ông Nguyễn Văn L2 chủ cửa hàng 01 điện thoại Iphone XS
Max, 01 điện thoại Iphone 7 Plush, 02 cái máy tính bảng Ipad với giá 5.000.000
đồng bị cáo T tiêu xài một mình. Với số tiền được chia tbị cáo T sử dụng vào
mục đích chơi game và đã thua hết còn bị cáo Q mới tiêu xài được 600.000 đồng,
còn lại 4.000.000 đồng cất giấu tại nhà cùng các tài sản khác.
Các bị hại sau khi phát hiện bị mất tài sản, qua trích xuất camera phát
hiện 02 người đàn ông đột nhập vào nhà đlấy trộm tài sản nên trình báo Công
an. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã xác định và bắt giữ được bị cáo Võ Văn T để
đưa về làm việc, bị cáo T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối
với bị cáo Q biết được mình đang bị Công an truy tìm không thể che giấu hành vi
nên đã đến cơ quan Công an đầu thú giao nộp lại những tài sản đã trộm được
mà bị cáo đang cất giấu.
Tại Bản kết luận giám định số 251/KL-KTHS-KV3 ngày 31/10/2025
của Phòng K1 Công an tỉnh V kết luận: Tất cả tiền Campuchia và tiền Đô la M2
được niêm phong gửi giám định đều là tiền thật.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 19/11/2025
của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xã S, tỉnh Vĩnh Long kết luận:
Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại 105.254.555 đồng. Ngoài ra, bị hại còn bị mất
số tiền Việt Nam 4.500.000 đồng, nên tổng giá trị tài sản các bị cáo đã chiếm
đoạt có giá trị là 109.754.555 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 29/CT-VKAKV10 ngày 30/12/2025 Viện kiểm
sát nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đã truy tố Văn T và Phạm Hồng Q về
tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự thẩm số: 22/2026/HS-ST, ngày 10/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long đã quyết định:
1/ Tuyên bố bị cáo Văn T bị cáo Phạm Hồng Q phạm tội “Trộm cắp
tài sản”.
1.1/ Căn cứ điểm c, điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51;
Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Văn T 06 (sáu) năm , thời hạn tính từ ngày
16/9/2025.
5
1.2/ Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q 04 (bốn) năm tù, thời hạn tính từ ngày
18/9/2025.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định v trách nhim dân s, án phí và
quyền kháng cáo theo quy định ca pháp lut.
Ngày 24/3/2026, b cáo Văn T, b cáo Phm Hng Q đơn kháng
cáo vi cùng ni dung kháng cáo: Yêu cu Tòa án cp phúc thm xem xét gim
nh hình pht cho các b cáo.
Ti phiên tòa phúc thm:
B cáo Võ Văn T rút đơn kháng cáo.
B cáo Phm Hng Q vn gi nguyên yêu cầu kháng cáo. Căn cứ b cáo
xin gim nhnh pht do b hi không yêu cu b cáo bồi thường thit hi.
Đại din Vin kim sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm gii
quyết v án: Ti phiên tòa, b cáo Võ Văn T rút đơn kháng cáo đ ngh Hội đng
xét x phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 348 ca B lut T tng Hình s đình chỉ
xét x phúc thẩm đối vi yêu cu kháng cáo ca bo Võ Văn T. Đi vi b cáo
Phm Hng Q b cáo khai nhn hành vi phm tội đúng nội dung v án, cấp
thm xét x là đúng người, đúng tội, Tòa án cấp thẩm đã xem xét đầy đủ các
tình tiết gim nh cho b cáo quyết định mc hình phạt tương xng vi hành
vi phm ti ca b cáo. Do đó, đ ngh Hội đồng xét x không chp nhn yêu cu
kháng cáo ca b cáo Phm Hng Q gi nguyên Bn án hình s thẩm s:
22/2026/HS-ST, ngày 10/3/2026 ca Tòa án nhân dân khu vc 10 - Vĩnh Long
v hình phạt tù đối vi b cáo Phm Hng Q.
B cáo Phm Hng Q phi np án phí hình s phúc thẩm theo quy đnh
ca pháp lut.
B cáo Phm Hng Q nói li sau cùng: Xin xem xét gim nh hình pht
cho b cáo.
NHẬN ĐNH CA TÒA ÁN:
Trên cơ sở ni dung v án, căn cứ vào các tài liu trong h sơ vụ án đã
đưc tranh tng ti phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
[1] V th tc t tng: Tòa án cấp thẩm xét x v án ngày 10/3/2026,
ngày 24/3/2026 các b cáo kháng cáo, kháng cáo ca các b cáo còn trong thi
hạn kháng cáo theo quy đnh tại Điu 332, Điều 333 ca B lut T tng Hình s
nên được xem xét gii quyết theo trình t, th tc phúc thm.
[2] Ti phiên tòa các b cáo thừa nhận: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày
16/9/2025, bị cáo Văn T điều khiển xe nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius,
gắn biển số 84B1-349.70 chở bị cáo Phạm Hồng Q đến căn nhà tại ấp T, S,
tỉnh Vĩnh Long đột nhập vào bên trong nhà lấy trộm tài sản của các bị hại Nguyễn
6
Thị Thùy H2, Nguyễn Huỳnh Mai L1, Thạch Thị M1 Thạch So K Ha bao gồm:
05 điện thoại di động hiệu Iphone; 02 cái máy tính bảng; 01 cái máy chụp ảnh
nhãn hiệu Canon; 01 đồng hồ đeo tay nhãn hiệu OH BRAND RED BOX; 01 cái
mắt kính nhãn hiệu Gentle Monster; 01 cái túi xách; tiền Việt Nam 4.500.000
đồng; tiền Đô la Mỹ 555 USD và tiền Campuchia 1.535.800 Riel với tổng giá trị
tài sản là 109.754.555 đồng.
Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài
liệu, cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong quá trình điều tra.
Do đó, Tòa án cấp thẩm xét xử các bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy
định tại điểm c, điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa
đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Văn T, theo điểm c khoản 2 Điều 173
của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo
Phạm Hồng Q là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền
sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, các bcáo thực hiện với lỗi cố ý khi thực
hiện hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại, các bị cáo nhận thức được việc làm
đó vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả đồng thời mong muốn chiếm đoạt
được tài sản của các bị hại để bán lấy tiền tiêu xài. Hành vi của các bị cáo thể
hiện sự xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác,
gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần có mức hình phạt nghiêm đối với
các bị cáo để giáo dục, cải tạo đồng thời cũng răn đe những trường hợp tương tự
thể xảy ra, góp phần tích cực đấu tranh phòng chống tội phạm xảy ra địa
phương.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Văn T rút đơn kháng cáo, căn cứ khoản
1 Điều 348 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định
đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Võ Văn T.
Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Hồng Q: Khi quyết định hình phạt Tòa án
cấp sơ thẩm đã xem xét tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Q: Thành khẩn khai báo,
ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị
cáo Q đã đến cơ quan Công an để đầu thú theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của
Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, vnhân thân
của bị cáo thì bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt hình phạt tù về hành vi Trộm cắp
tài sản tại Bản án hình sự số: 03/2008/HSST ngày 04/01/2008 của Tòa án nhân
dân TX Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh; Bản án hình sự số: 71/2010/HSST ngày
30/9/2010 của Tòa án nhân dân TP Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh; Bản án hình sự số:
23/2013/HSST ngày 24/5/2013 của Tòa án nhân n huyện Cầu Ngang, tỉnh Trà
Vinh. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại cấp phúc thẩm bị cáo
không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử phúc
thẩm quyết định không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Hồng Q.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long là có
căn cứ theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
7
[6] Về án phình sự phúc thẩm: Bị cáo Văn T không phải nộp án phí
hình sự phúc thẩm. Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm
Hồng Q nên bị cáo Phạm Hồng Q phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy
định của pháp luật.
[7] Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, không
kháng nghị hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 342 Điều 348 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1/ Đình chỉ xét xphúc thẩm vụ án hình sự thụ số 65/2026/TLPT-HS
ngày 20/4/2026 đối với bị cáo Võ Văn T. Bản án hình sự thẩm số 22/2026/HS-
ST, ngày 10/3/2026 của Tòa án nhân khu vực 10 - Vĩnh Long về hình phạt tù đối
với bị cáo Võ Văn T có hiệu lực pháp luật kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.
2/ Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phạm Hồng Q.
Giữ nguyên Bản án hình sự thẩm số 22/2026/HS-ST, ngày 10/3/2026
của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Vĩnh Long vhình phạt đối với bị cáo Phạm
Hồng Q.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm Hồng Q 04 (bốn) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản".
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày 18/9/2025.
3/ Về án phí hình sự phúc thẩm:
Buộc bị cáo Phạm Hồng Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)
án phí.
4/ Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có
kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét hiệu lực pháp luật kể từ
ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5/ Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
- TANDTC; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Vụ Giám đốc kiểm tra I;
- VKSND.TVL;
- TAND khu vực 10 - Vĩnh Long;
- VKSND khu vực 10 - Vĩnh Long;
- CQTHAHS;
- PhòngTHADS khu vc 10 Vĩnh Long;
8
- B cáo;
- Phòng h sơ CATVL;
- STP. TVL;
- UBND xã nơi các bị cáo cư trú;
- Lưu: hồ sơ, P.GĐKT,TTr&THA;
Đặng Duy M Ngc
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 61/2026/HS-PT Bản án số 61/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 61/2026/HS-PT Bản án số 61/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất