Bản án số 181/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 181/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 181/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND tỉnh Bắc Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Bắc Ninh
Số hiệu: 181/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông Đ kiện ông Đ1 để đòi quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bố ông Đ1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 181/2026/DS-PT Bản án số 181/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 181/2026/DS-PT Bản án số 181/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC NINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 181/2026/DS-PT
Ngày: 27 tháng 5 m 2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu hủy giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
Các thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú
Ông Nguyễn Việt Hùng
- Tphiên tòa: ông Nguyễn Văn Cường- Thư k Tòa án nhân dân tỉnh
Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: ông
Lương Thất Tùng- Kim sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh mở phiên
tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ l số 31/2026/TLPT- DS ngày 03
tháng 3 năm 2026 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất yêu cầu hủy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất; do Bản án dân sự thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 30
tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa án ra xét xử số 132/2026/QĐ-PT ngày 15 tháng 4 năm
2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Cát Thành Đ, sinh năm 1952; Địa chỉ: thôn N, xã N, tỉnh
Bắc Ninh.
- Bị đơn: Ông Cát Trọng Đ1, sinh năm 1977; Địa chỉ: TB Q, phường T, tỉnh
Sơn La.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Cát Trọng Đ1: Công ty L4
Địa chỉ: Số E N, phường K, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn T- Giám đốc.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Cát Thị H, sinh năm 1969; Địa chỉ: thôn P, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
2
2. Cát Thị H1, sinh năm 1969; Địa chỉ: thôn N, N, tỉnh Bắc Ninh (Đã
bị Toà án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tuyên bố mất tích).
3. Ông Cát Tiến C, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ B, phường T, tỉnh Sơn La.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Cát Tiến C: Cát Thị H, sinh năm
1969; Cùng Địa chỉ: thôn P, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
4. Ông Cát Trọng L, sinh năm 1979; Địa chỉ: Tổ B, phường T, tỉnh Sơn La.
5. Bà Cát Thị B, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ B, phường T, tỉnh Sơn La.
6. Cát Thị Ngọc B1, sinh năm 1987; Địa chỉ: số nhà A, Tổ H, phường T,
tỉnh Sơn La.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Cát Trọng L, Cát Thị B, Cát Thị
Ngọc B1: Cát Thị H, sinh năm 1969; Cùng Địa chỉ: thôn P, N, tỉnh Bắc Ninh.
7. Chủ tịch UBND xã N, tỉnh Bắc Ninh.
8. Ông Cát Thành Đ2, sinh năm 1981 Thị N, sinh năm 1981; Địa
chỉ: thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
9. Bà Bạch Thị D, sinh năm 1954; Địa chỉ: thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
- Người kháng cáo:Cát Thị H, ông Cát Trọng Đ1.
(Ông Cát Trọng Đ1, Cát Thị H, ông Trần Văn T mặt; những người tham
gia tố tụng khác vắng mặt)
NI DUNG V ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tkhai, biên bản ghi li khai tại phiên toà nguyên
đơn, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Thửa đất có diện tích 481m
2
tại thôn N, thị trấn N (nay được th hiện trên bản
đồ địa chính thửa số 69, tờ bản đồ 17, diện tích 505m
2
) nguồn gốc của vợ
chồng ông Bạch Văn D1 Trần Thị T1. Năm 1986, Ông D1 T1 o Đắk Lắk
làm ăn kinh tế, không nhu cầu sử dụng nhà đất, ông D1, T1 đã bán lại thửa
đất, nhà công trình tài sản trên đất cho ông Cát Thành Đ. Việc mua bán nhà
đất nêu trên được th hiện qua hai văn bản đó là: "Văn bản nhượng mảnh đất vườn"
đề ngày 20/11/1986 - Văn bản này th hiện nội dung hai n mua bán, chuyn
nhượng nhà đất cho nhau, có xác nhận của UBND xã N và "Biên bản nhượng mảnh
đất vườn" đề ngày 20/11/1986 - Văn bản này th hiện nội dung hai bên mua bán,
chuyn nhượng nđất cho nhau, th hiện nội dung các bên trả tiền mua bán đất cho
nhau bằng vàng, việc quy vàng ra tiền, thóc, quá trình trả tiền mua bán đất, thời hạn
trả tiền.... có chữ k xác nhận hoặc đim chỉ của nhiều người làm chứng. Việc thanh
toán, tiền vàng mua nhà đất được thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận trong
"Biên bản nhượng mảnh đất vườn" đề ngày 20/11/1986. Ngay sau khi lập giấy tờ
mua bán nhà, đất ngày 20/11/1986 xong, vợ chồng ông D1 đã bàn giao toàn bộ nhà,
đất, công trình tài sản trên đất cho ông Đ quản l, sdụng. Khuôn viên thửa đất,
3
nhà, công trình tài sản trên đất từ thời đim năm 1986 đến nay vẫn giữ nguyên hiện
trạng, không biến động, thay đổi, chỉ sau này khi nhà nước làm đường, mở
rộng đường thì ông Đ có hiến một phần diện tích đất làm đường giao thông.
Năm 2000 khi nhà nước có chủ trương kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, ông Đ cùng lúc đã đi khai đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đối với 3 thửa đất: Thửa đất diện tích 344m
2
, thửa đất diện ch 556m
2
,
thửa đất có diện tích 481m
2
. Do sợ chính sách của địa phương thời đó, nếu như ông
Đ có quá nhiều diện tích đất ở thì sẽ ảnh hưởng đến việc chia diện tích đất canh tác
nông nghiệp của gia đình nên ông Đ nhờ ông Đ3 đứng tên hộ trong giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất và ông Đ3 đồng , ông Đ đã kê khai thửa đất có diện tích 481m
2
mang tên ông Đ3 anh trai mình. Khi được cấp giấy thì giấy tờ đất vẫn do ông Đ
quản l, nghĩ anh em trong nhà không tranh chấp nên ông chưa điều
kiện đi làm sổ đỏ lại.
Về quá trình quản lý, sử dụng đất ông Đ trình bày:
Sau khi mua được nhà, đất, cùng năm 1986, ông đóng gạch đốt trên thửa
đất đ xây nhà, làm thêm khu chăn nuôi, khu bếp nhà vệ sinh. Cũng trên thửa đất
này thì mẹ ông Thị L1 sang ở thửa đất khoảng 01 năm. Sau đó do tuổi
cao, sức yếu cụ L1 lại về ở với gia đình ông.
Năm 2011, ông cho vợ chồng con trai Cát Thành Đ2 Thị N ra riêng,
khi ra riêng, vợ chồng anh Đoàn P ngôi nhà cấp 4 lợp ngói ba gian cùng một số
công trình, tài sản trên đất đxây ngôi nhà cấp 4 hiên tây (khung nhà, kèo làm
bằng gỗ, phía trên nhà lợp ngói, hiên trần), công trình phụ bao gồm nhà tắm, n
bếp, nhà vệ sinh; 01 quán tạp hóa, sân thềm, cổng, tường bao quanh đất. Quá trình
quản l, sử dụng thửa đất, phá dỡ, xây mới công trình tài sản trên đất qua các thời
gian từ năm 1986 đến nay không xảy ra bất cứ tranh chấp gì, gia đình ông Đ3, các
con ông Đ3 đều biết việc này cũng không kiến tranh chấp hay phản đối.
Thửa đất tranh chấp do gia đình ông quản l, sử dụng đất ổn định từ trước đến nay,
vợ các con ông Đ3 không bất cứ tranh chấp gì, kiến về việc quản l, sử
dụng thửa đất của gia đình ông.
Cách đây khoảng 03 năm khi có nhu cầu chuyn đổi từ sổ đỏ sang sổ hồng do
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Đ3 nên không đi làm được, anh
Đ1 là con anh Đ3 biết được thửa đất đang tranh chấp do bố mình đứng tên nên anh
Đ1 muốn lấy lại ½ diện tích đất này, các bên xảy ra tranh chấp từ đó. Ông Đ3 khi
còn sống cũng vẫn xác nhận thửa đất tranh chấp của ông, giữa ông ông Đ3
không có bất cứ thỏa thuận gì liên quan đến việc tặng cho thửa đất.
Việc gia đình anh Đ1, ông N1 trình bày ông Đ3 gửi tiền về đ nhờ ông Đ
mua đất là không có. Ông không hề nhận một đồng tiền nào từ ông Đ3 đ mua đất.
Ông Đ3 gửi tiền về cho cụ L1 vừa gửi về biếu mẹ, vừa đ mẹ nuôi con cho
mình.
Ông nhất trí với lời trình bày của H, ông N1, anh Đ1 về những người vợ
của ông Đ3 là bà L2, T2, bà T3 và các con đẻ của ông Đ3 bà H, H1, anh Đ1,
4
anh L, anh C, chị B, chị B1. Ngoài ra ông Đ3 không có con nuôi hoặc con riêng hợp
pháp nào khác.
Ông Đ khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:
Công nhận quyền sử dụng thửa đất có diện tích 481m
2
tại thôn N, N, tỉnh
Bắc Ninh cho ông Cát Thành Đ.
Huỷ bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện G (cũ) cấp năm
2000 cho hộ ông Cát Văn Đ3.
Về án phí và chi phí tố tụng: Ông đề nghị giải quyết theo quy định của pháp
luật. Ngoài ra ông Đ không có bất cứ yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Cát Trọng Đ1, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn,
Cát Thị H quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà trình bày:
Ông Cát Văn Đ3 (chết năm 2004) lấy người vợ đầu bà Lê Thị L2 (chết năm
1981). Ông Đ3, bà Lục S được 2 người con là Cát Thị H t Thị H1 (đã bị tuyên
bố mất tích). Sau khi L2 chết, năm 1974 ông Đ3 lấy người vợ thứ hai là T2
(chết năm 1981). Ông Đ3 T2 sinh được 3 người con là: Cát Tiến C, t Trọng
Đ1, Cát Trọng L. Sau khi T2 chết, năm 1983, ông Đ3 kết hôn với bà Lương Thị
T3 (chết năm 2023). Ông Đ3 và bà T3 sinh được hai người con là Cát Thị B và Cát
Thị Ngọc B1. Ông Đ3 từ khi lớn lên, đi làm ăn xa, xây dựng gia đình sinh sống
ổn định đến khi qua đời tại Sơn La, không có thời gian nào sinh sống ở quê nhà. Vợ
các con ông Độ sinh S1 cùng ông Đ3. Thỉnh thoảng quê việc ông mới về quê
chơi.
Thửa đất diện tích 481m
2
tại thôn N, N đã được UBND huyện G (cũ)
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cát Văn Đ3. Việc UBND huyện G
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất có diện tích 481m
2
tại thôn
N, N, huyện G nêu trên là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật, không ai có
bất cứ  kiến gì thắc mắc.
Về nguồn gốc thửa 481m
2
tại thôn N: Năm 1982, ông Đ3 đã bán toàn bộ tài
sản của ông Đ3, bà T2 Sơn La được 500.000đ và gửi số tiền 500.000đ này cho mẹ
ruột là Thị L1 vào ngày 28/10/1982 đ nhờ cụ L1 quê mua đất, mua nhà
giúp. Tuy nhiên, khi gửi tiền về cụ L1 vẫn gisố tiền này chưa mua nhà, mua
đất hộ ông Đ3. Cuối năm 1986, khi vợ chồng ông D1, T1, người cùng qthôn
N vào nam làm kinh tế, có nhu cầu bán nhà, đất; ông Đ3 không có nhà, cụ L1 giao
quyền cho ông Đ đứng tên giao dịch và mua bán nhà, đất có diện tích 481m
2
đất nêu
trên. Do vậy, toàn bộ giao dịch mua bán nhà, đất có diện tích 481m
2
tại thôn N nêu
trên hoàn toàn do ông Đ đứng ra giao dịch, mua bán với ông D1, T1. Giá cả mua
bán nhà, đất trên tại thời đim đó là 55.000đ. Phù hợp với số tiền ông Đ3 gửi về năm
1982 đ mua đất (Năm 1982 gửi v500.000đ, nhưng đến năm 1985, nhà nước có
chính sách đổi tiền "10 đồng ăn 1" tức là 500.000đ đổi được 50.000đ).
Sau khi mua được nhà, đất, cụ L1, H, bà H1 ra tại nhà đất mua của vợ
chồng ông D1. Năm 1988, H đi lấy chồng. Năm 1996, Cát Thị H1 bỏ đi biệt
tích khỏi địa phương. Sau năm 1996, ông Đ đón cụ L1 về nhà ông Đ cùng. Đến
5
năm 2000, ông Đ chịu trách nhiệm thay ông Đ3 đứng ra kê khai và làm thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã mua của vợ chồng ông D1 cho ông Đ3. Trong
đơn xin cấp giấy ông Đ th hiện nội dung là cấp giấy cho hộ ông Đ3, nếu sai ông Đ
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Do vậy căn cứ vào hồ sơ khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quan Nhà ớc có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
phần diện tích 481m
2
đất nêu trên cho hộ ông Cát Văn Đ3. Tuy nhiên, do thời đim
này ông Độ sinh S1 ở Sơn La, cụ L1 đã già cả nên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất ông Đ giữ. Năm 2003, mẹ ông Đ3 cụ L1 chết, năm 2004 ông Cát Văn Đ3 chết,
năm 2023 T3 chết. Những người này là người làm chứng cho việc ông Đ3 gửi
tiền về nhờ ông Đ mua đất. Nên k từ sau thời đim những người này chết, ông Đ
mới xảy ra tranh chấp.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Đ, anh Đ1, H quan đim nsau:
Thửa đất có diện tích 481m
2
nêu trên do ông Đ3 gửi tiền về mua, giấy chứng nhn
quyền sử dụng đất đã mang tên ông Đ3, hiện nay ông Đ3 các bà vợ đã chết, bố
mẹ ông Đ3 cũng đã chết trước thời đim ông Đ3 chết, nên thửa đất diện tích
481m
2
tại thôn N, xã N thuộc di sản thừa kế của các con ông Đ3. Đề nghị Tòa án
bác mọi yêu cầu khởi kiện của ông Đ. Đề nghị Tòa án công nhận bà Cát Thị H, Cát
Tiến C, Cát Trọng Đ1, Cát Trọng L, Cát Thị B, Cát Thị Ngọc B1, Cát Thị H1
(Do bà Cát Thị H đại diện) được quyền sử dụng thửa đất có diện tích 481m
2
đất tại
thôn N u cầu ông Đ, ông Đ2 và các thành viên có liên quan tháo dỡ toàn bộ công
trình, tài sản xây dựng trên đất đ trả lại thửa đất nêu trên cho các con của ông Đ3.
Về án phí và chi ptố tụng: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đ2, chị N trình bày: Nhất trí
với yêu cầu khởi kiện của ông Đ không bất cứ yêu cầu gì bổ sung. Đề ngh
Toà án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đ.
Chủ tịch UBND N ý kiến liên quan đến yêu cầu huỷ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của ông Đ:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 440165, được UBND huyện G cấp
cho hộ ông Cát Văn Đ3, ngày 26/10/2000 theo Quyết định s300/QĐ-UB, ngày
26/10/2000;
- Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đảm
bảo đúng quy định pháp luật.
- Trong danh sách kèm theo Quyết định cấp giấy chứng nhận th hiện hộ ông
Cát Văn Đ3 được cấp tổng 481m
2
, trong đó 360m
2
đất ở, 121m
2
đất vườn; nhưng
trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 440165 có viết sai về mục đích, diện
tích trên giấy chứng nhận th hiện mục đích T, diện tích 481m
2
. Còn trong quá trình
giải quyết vụ án nếu Tòa án qua xác minh, thu thập tài liệu chứng cứ phát hiện
những tình tiết, sự kiện mới, đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp
luật đ giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc thửa đất s69, tờ
bản đồ số 17 tại thôn N, xã N. Kết quả như sau:
6
Toàn bộ tài sản, công trình trên đất hiện nay do vợ chồng anh Đ2 chị N là con
ông Đ quản l, sử dụng. Trong đó có 01 ngôi nhà gỗ cấp 4 lợp ngói do anh Đ2, chị
N làm năm 2011; 01 lán lợp tôn chống nóng phía trước nhà ngói cấp 4 làm năm
2022; Khu nhà bếp, nhà vệ sinh lợp tôn chống nóng làm năm 2014; Phần sân trụ
cổng, tường bao quanh đất, phần được làm mới năm 2022 phần được làm từ
năm 2014; Một số cây ăn quả, rau màu và lâm lộc trên đất.
Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ tất cả các đương sự đều thừa nhận khi ông
Đ mua đất của vợ chồng ông D1 thì trên đất 01 ngôi nhà tranh lợp mái dtừ trước.
Năm 1988, ông Đ đóng gạch trên đất và xây thêm 01 ngôi nhà nhỏ giáp với đường.
Hiện nay toàn bộ công trình, tài sản này không còn. Việc ông Đ quản l, sử dụng,
xây mới công trình, tài sản trên đất, sau đó ông Đ cho anh Đ2 chị N quản l, sử dụng,
xây mới công trình tài sản trên đất từ trước đến nay không ai có  kiến gì phản đối.
Về phần diện tích chênh lệch 481m
2
ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất với diện tích 505m
2
theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất, bản đồ chính quy của Cơ quan
Nhà nước thẩm quyền, hiện trạng sử dụng đất: Toà án đã biên bản xác minh
với UBND xã N, nội dung cụ th như sau: Chênh lệch diện tích 481m
2
và 505m
2
sai số giữa đo máy và đo tay giữa các thời kỳ. Hiện trạng thửa đất đã được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất từ trước đến nay vẫn không thay đổi về vị trí, giáp
ranh, tứ cận xung quanh, không tranh chấp về ranh giới với các hộ liền kề.
Tại Bản án dân sự thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 9- Bắc Ninh đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Cát Thành Đ.
- Công nhận ông Cát Thành Đ người được quyền sử dụng hợp pháp đối với
thửa đất có diện tích 481m², địa chỉ tại thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh (Nay là thửa đất
số 69, tờ bản đồ địa chính số 17, diện tích 505m
2
tại thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh).
Đối với phần diện tích đất tăng thêm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất không có tranh chấp, đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận do sai
số đo máy và đo tay qua các thời kỳ. Ông Đ được quyền liên hệ với quan Nhà
nước có thẩm quyền đ làm thủ tục đăng k đất đai theo quy định của pháp luật.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 440165, số vào sổ cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất 02/QSDĐ/300 QĐ- H do UBND huyện G, tỉnh Bắc
Ninh cũ cấp ngày 26/10/2000 cho hộ ông Cát Văn Đ3.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào quyết định của Toà án có trách
nhiệm làm thủ tục thu hồi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cát
Thành Đ cho phù hợp với kết quả giải quyết của Toà án.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng
cáo và hướng dẫn thi hành án theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 14/01/2026, bị đơn bà Cát Thị H, ông Cát Trọng Đ1 đơn kháng cáo
đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
7
Tại phiên tòa phúc thẩm,
+ Bị đơn ông Cát Trọng Đ1 trình bày: Năm 1982, ông Đ3 chuyn cho cụ L1
số tiền 500.000 đồng, mục đích đ cụ L1 mua đất, trong biên lai chỉ th hiện số tiền
gửi không xác định mua đất của ai. Năm 1985, cụ L1 đổi tiền 500.000 đồng được
50.000 đồng, ông không chứng cứ chứng minh việc cụ L1 đổi tiền. Năm 1986,
ông Dung T4 bán nđất diện tích 481m
2
, cụ L1 nhờ ông Đ mua đất hộ
ông Đ3. Việc cụ L1 nhờ ông Đ mua đất không văn bản giấy tờ gì. Ông Đ mua
nhà đất với giá 50.000 đồng, ông Đ là người trả tiền. Năm 2000, ông Đ là người kê
khai đăng k cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ3, lúc này ông Đ3
đang Sơn La, ông Đ người quản l giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm
2003, ông biết ông Đ đứng tên thửa đất, có lần ông yêu cầu ông Đ giao cho ông ½
thửa đất nhưng ông Đ không đồng . Năm 2011, anh Đ2 phá nhà xây nhà
như hiện nay. Tất cả tài sản trên đất là của anh Đ2. Khi anh Đ2 xây dựng tài sản trên
đất thì không tranh chấp gì. Ông ginguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng
xét xử sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
+ Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cát Thị H trình bày: Bà nhất t
với lời trình bày của ông Đ1. giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử
chấp nhận kháng cáo của bà, sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Cát Trọng Đ1 Luật Trần
Văn T trình bày luận cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận kháng cáo của
ông Đ1, sửa bản án thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu quan điểm về việc
giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và Thư k phiên tòa đã thực hiện đúng quy định
của Bộ Luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật
dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng
dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng
án phí và lệ phí tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Cát Trọng Đ1 người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Cát Thị H; sửa một phần Bản án dân ssơ thẩm số
23/2025/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc
Ninh về án phí chi phí tố tụng do thay đổi tư cách tố tụng của các đương sự trong
vụ án.
NHN ĐNH CA TÒA ÁN
8
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện
kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn một số người quyền lợi nghĩa
vụ liên quan không kháng cáo, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng
vắng mặt tại phiên tòa không ldo bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên
căn cứ theo quy định tại điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành
xét xử vắng mặt đối với các đương sự này.
[2] Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết
vụ án là phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về cách người tham gia tố tụng: Tại đơn khởi kiện các tài liệu, chứng
cứ kèm theo nội dung đơn khởi kiện như Biên bản hòa giải về việc tranh chấp đất
đai giữa ông Cát Thành Đông Cát Trọng Đ1 của UBND xã N ngày 18/01/2024
đều th hiện nguyên đơn ông Cát Thành Đ xác định bị đơn, người trực tiếp có tranh
chấp quyền sử dụng đất với ông Đ bị ông Đ khởi kiện trong vụ án này là ông Cát
Trọng Đ1. Tại thông báo về việc thụ l ván số 26/TB-TLVA ngày 04/12/2024 của
Tòa án nhân dân huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9-
Bắc Ninh) cũng đã xác định cách tham gia tố tụng của ông Cát Trọng Đ1 bị
đơn các ông, Cát Thị H, Cát Thị H1, Cát Tiến C, Cát Văn L3, Cát Thị B
Cát Thị B1 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Qua quá trình hòa giải tiền tố tụng tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ thu
thập được trong hồ sơ vụ án th hiện: diện tích đất tranh chấp 481m
2
thuộc thửa đất
số 69, tờ bản đồ số 17 tọa lại tại thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh (diện tích theo đo đạc
thực tế 505m
2
) đã được UBND huyện G (cũ) cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Cát Văn
Đ3 vào năm 2000. Năm 2004, ông Đ3 chết không đ lại di chúc, thửa đất cũng không
do gia đình ông Đ3 quản l, sử dụng nên khi xảy ra tranh chấp với ông Cát Thành
Đ, ông Cát Trọng Đ1 (là con trai ông Đ3), người biết được nội dung sviệc tranh
chấp đã trực tiếp đứng ra ủy quyền cho Cát Thị H (cũng một trong số các
con của ông Đ3, sống gần địa phương có diện tích đất tranh chấp) đ tham gia hòa
giải tại địa phương yêu cầu đòi quyền lợi hợp pháp cho gia đình ông Đ3.
Những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất khác của ông Đ3 đều sinh sống ở xa diện
tích đất tranh chấp, không bị ông Đ khởi kiện, chỉ được thông báo về nội dung
lời trình bày thống nhất với  kiến của ông Đ1 về việc giải quyết vụ án, không đồng
với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng đ phù hợp
với thực tế sự việc, u cầu khởi kiện của nguyên đơn và kiến phản đối của bị đơn,
thay đổi tư cách tố tụng của các đồng thừa kế của ông Đ3 gồm Cát Thị H, bà Cát
Thị H1, ông Cát Tiến C, ông Cát Trọng L, Cát Thị B Cát Thị Bích N2 từ
người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thành đồng bị đơn không đúng. Từ đó buộc
các đồng bị đơn trên phải chịu án phí, chi phí tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi
ích hợp pháp của các đương sự này.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần giữ nguyên tư cách tham gia tố tụng của
bị đơn ông Cát Trọng Đ1; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là t
Thị H, bà Cát Thị H1, ông t Tiến C, ông Cát Trọng L, Cát Thị B Cát Thị
9
Bích N2 như Thông báo thụ l vụ án án có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản
3, khoản 4 Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét kháng cáo của ông Đ1, bà H:
[4.1] Các đương sự đều thừa nhận diện tích đất tranh chấp 481m
2
thuộc thửa
đất số 69, tờ bản đồ số 17, tọa lạc tại thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh (diện tích theo đo
đạc thực tế 505m
2
) nguồn gốc do ông Cát Thành Đ nhận chuyn nhượng từ vợ
chồng ông Bạch Văn D1 Trần Thị T1 vào năm 1986. Việc chuyn nhượng
được các bên lập thành Văn bản nhượng mảnh đất vườn” “Biên bản nhượng
mảnh đất vườn” đề ngày 20/11/1986. Theo nội dung các văn bản chuyn nhượng
đất đều th hiện việc mua bán, chuyn nhượng nhà đất giữa bên bán ông D1,
T1 với bên mua là ông t Thành Đ, phía dưới giấy chuyn nhượng th hiện đầy
đủ chữ k, đim chỉ, tên của người chuyn nhượng và người nhận chuyn nhượng.
Nội dung văn bản ghi nhận việc thanh toán việc chuyển nhượng đất bằng vàng, việc
thanh toán tiền, giao nhận đất tài sản trên đất hoàn tất ngay năm 1986. Việc mua
bán này có sự xác nhận của UBND xã N cùng những người làm chứng.
[4.2] Phía bị đơn cho rằng ông Đ chỉ người đứng ra làm thủ tục mua bán
đất hộ ông Cát Văn Đ3; ông Đ3 đã gửi số tiền 500.000 đồng cho cụ L1 (mẹ ông) đ
cụ L1 giúp ông mua nhà, đất nhưng cL1 lại nhờ ông Đ đứng ra mua giúp do cụ L1
lúc này cùng gia đình ông Đ. Đ chứng minh cho lời trình bày của mình, bị đơn
đã xuất trình biên lai gửi tiền của ông Đ3 cho cụ L1 số tiền 500.000 đồng vào năm
1982 giải thích l do số tiền không khớp do sự thay đổi chính sách tiền tệ
“10 đồng đổi 1” của Nhà nước vào năm 1985. Theo nội dung biên lai gửi tiền không
th hiện được việc ông Đ3 gửi tiền cho cL1 đ nhờ mua đất, cũng không có căn cứ
cho rằng cụ L1 đã đưa cho ông Đ số tiền trên đ ông Đ mua nhà, đất cho ông Đ3.
Ngoài ra, thời gian ông Đ3 gửi tiền cho cụ L1 với thời gian ông Đ nhận chuyn
nhượng diện tích đất tranh chấp cách nhau 04 năm; nếu thay đổi giá trị tiền
theo chính sách “10 đồng đổi 1” của Nhà nước thì số tiền bị đơn trình bày so với với
số tiền ông Đ đã bỏ ra mua đất là không khớp (ông Đ nhận chuyn nhượng nhà đất
với giá 55.000 đồng). Nguyên đơn ông Đ không thừa nhận việc này và những người
chứng kiến việc mua bán đất của ông Đ ng chưa từng nghe sviệc trên.
Việc bị đơn trình bày toàn bộ số tiền ông Đ bỏ ra mua đất vào năm 1986 là do ông
Đ3 gửi mua hộ nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nên không n
cứ đ chấp nhận.
[4.3] Ngoài ra, tại Biên bản nhượng mảnh đất vườn” đề ngày 20/11/1986 có
rất nhiều chữ k, chữ viết thêm vào bằng nhiều nét mực khác nhau. Nguyên đơn ông
Đ trình bày ngoài chữ k, chữ viết của bên bán là ông D1, bà T1, bên mua là ông Đ
còn lại đều chữ k, chữ viết của những người làm chứng. Bị đơn cho rằng văn bản
này không được coi chứng cứ hợp pháp đ làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án
do th hiện bên bán, bên mua là nhiều người khác nhau, hợp đồng có nhiều chữ k,
nhiều nét mực được ghi vào nhiều thời đim khác nhau; Toà án cũng chưa làm rõ ai
là người chuyn nhượng, ai viết, ai k và có cần phải giám định lại văn bản trên đ
làm rõ Hợp đồng có phải là do một người viết ra hay không? Có cùng loại mực viết
hay không, ghi được ghi cùng thời đim hay không? Giám định chk của những
10
người tham gia xác nhận trong văn bản hay căn cứ cho rằng văn bản trên bị
sửa chữa hay không. Tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành xác minh, lấy lời khai của những
người làm chứng còn sống trong văn bản trên họ đều xác nhận đã k làm chứng
cho việc ông Đ đã nhận chuyn nhượng thửa đất 481m
2
của ông D1, T1chính
người bán là bà T1 cũng thừa nhận sự việc trên. Do đó, xét thấy đề nghị giám định
của bị đơn là không cần thiết,  kiến của bị đơn cho rằng chứng cứ trên không hợp
pháp là không có căn cứ.
[4.4] Sau khi nhận chuyn nhượng đất, ông Đ người trực tiếp quản l, sử
dụng diện tích đất tranh chấp. Năm 1988, ông Đ phá nhà cũ đi xây nhà mới. Từ năm
2011 đến nay ông cho vợ chồng con trai anh Đ2, chị N ra riêng trên thửa đất
này. Vợ chồng anh Đ2, chị N đã phá nhà cũ đi và xây dựng nhà mới, công trình, tài
sản trên đất vào các năm 2011, 2014, 2022 và sử dụng ổn định từ đó đến năm 2024.
Bị đơn cho rằng sau khi nhận chuyn nhượng nhà đất trên thì cụ L1, H, H1
cũng có ra ở tại diện tích đất trên; năm 1988 bà H đi lấy chồng; năm 1996 bà H1 bỏ
đi biệt tích khỏi địa phương; sau năm 1996 vài năm thì ông Đ đón cụ L1 về nhà ông
Đ cùng. Như vậy, k từ khi ông Đ xây dựng các công trình vào năm 1988, đến khi
ông Đ cho vợ chồng con trai là anh Đ2, chị N ra ở riêng trên mảnh đất này thì Toàn
bộ quá trình quản l sử dụng, pdỡ, xây mới công trình, tài sản trên đất nêu trên bị
đơn biết nhưng không kiến phản đối gì. Tính từ năm 1986 đến năm 2024,
việc sử dụng đất của ông Đ gia đình diễn ra ngay tình, liên tục, công khai, ổn
định, không tranh chấp trong vòng 36 năm. Mặt khác, năm 2000, ông Đ đi khai
cho ông Đ3 được cấp GCNQSDĐ nhưng gia đình ông Đ3 lại không giữ GCNSDĐ
được cấp; cũng không kiến đòi lại giấy tờ đất do ông Đ đang giữ; không thực
hiện nghĩa vụ thuế cũng như các khoản tài chính với Nhà nước của thửa đất trên t
khi được cấp GCNQSđến nay mà toàn bộ đều do gia đình ông Đ thực hiện. N
vậy th thấy lời trình bày của ông Đ về việc chỉ nhờ ông Đ3 đứng tên trên
GCNSDĐ phù hợp. Từ đó, xét việc cấp GCNSDĐ cho hộ ông Cát Văn Đ3
không đúng đối tượng sử dụng đất. Hơn nữa, việc ông Đ khai cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất cho người khác mà không có văn bản ủy quyền hợp lệ là vi
phạm về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận. Do đó, yêu cầu huỷ giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của nguyên đơn là có cơ sở.
[4.5] Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa án cấp thẩm chấp nhận u
cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đ1, bà H
kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ nào mới nên Hội đồng xét x
không có cơ sở đ chấp nhận kháng cáo của ông Đ1 và bà H. Tuy nhiên, theo nhận
định trên thì cần phải sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định lại cách đương
sự, án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng như đề nghị của đại diện Viện kim sát
tại phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân
sự.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên ông
Cát Trọng Đ1Cát Thị H phải chịu án phí theo quy định tại Điều 148 Bộ luật
tố tụng dân s Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l sử
dụng án phí và lệ phí tòa án.
11
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật k từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự
2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l sử dụng án phí
lệ phí tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Cát Trọng Đ1 người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Cát Thị H; sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm s
23/2025/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9- Bắc
Ninh về án phí chi phí tố tụng do thay đổi tư cách tố tụng của các đương sự trong
vụ án.
Căn cứ khoản 9 Điều 26; Điều 34; Điều 35, Điều 39; Điều 68; Điều 91, Điều
92, Điều 93, Điều 95, Điều 147, Điều 155, Điều 156, Điều 157, Điều 158, Điều 163,
Điều 165, Điều 166 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 17, Điều 26, Điều 31, Điều 141, Điều 152, Điều 236 Luật đất đai
2024;
Căn cứ Điều 8, Điều 11, Điều 14, Điều 15, Điều 158, Điều 160, Điều 163,
Điều 164, Điều 166 Bộ luật dân sự;
Tuyên xử:
1.1 Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cát Thành Đ:
- Công nhận ông Cát Thành Đ người được quyền sử dụng hợp pháp đối với
thửa đất có diện tích 481m², thuộc thửa đất số 69, tờ bản đồ địa chính số 17, (có diện
tích theo đo đạc thực tế là 505m
2
) tọa lạc tại thôn N, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
Đối với phần diện tích đất tăng thêm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất không có tranh chấp, đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận do sai
số đo máy và đo tay qua các thời kỳ. Ông Đ được quyền liên hệ với quan Nhà
nước có thẩm quyền đ làm thủ tục đăng k đất đai theo quy định của pháp luật.
- Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số R 440165, số vào sổ cấp giấy
chứng nhận quyền sdụng đất 02/QSDĐ/300 - H do do UBND huyện G, tỉnh
Bắc Ninh cũ cấp ngày 26/10/2000 cho hộ ông Cát Văn Đ3.
Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào quyết định của Toà án có trách
nhiệm làm thủ tục thu hồi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Cát
Thành Đ cho phù hợp với kết quả giải quyết của Toà án.
1.2 Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng:
Bị đơn anh Cát Trọng Đ1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
12
Bị đơn anh Cát Trọng Đ1 phải chịu 13.800.000 đồng chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ, chi phí đo đạc thửa đất chi phí định giá. Ông Cát Thành Đ được nhận
lại số tiền trên khi ông Đ1 nộp đủ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a 9 Luật Thi hành án n
sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
2. Án phí dân sự phúc thẩm:
Cát Thị H, ông Cát Trọng Đ1 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà H, ông Đ1 đã nộp theo các
biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án lần lượt số 0000436 ngày 14/01/2026 và
0000602 ngày 20/01/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuyên án./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG
Phạm Văn Nguyễn Việt Hùng
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Chuyền
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 181/2026/DS-PT Bản án số 181/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 181/2026/DS-PT Bản án số 181/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất