Bản án số 108/2026/HS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Gia Lai

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 108/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 108/2026/HS-PT ngày 12/08/2026 của TAND tỉnh Gia Lai
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Gia Lai
Số hiệu: 108/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/08/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Luong Ngoc T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 108/2026/HS-PT Bản án số 108/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 108/2026/HS-PT Bản án số 108/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
Bản án số: 108/2026/HS-PT
Ngày 12 - 8 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Giáp Bá Dự
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Duy
Bà Cao Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh
Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan
Hòa Hiệp Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 8 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 156/2026/TLPT-HS ngày 08 tháng 7 năm
2026 đối với bị cáo Lương Ngọc T do kháng cáo của bị cáo người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đối với Bản án hình sự thẩm số: 36/2026/HS-
ST ngày 05 tháng 6 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Gia Lai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lương Ngọc T, sinh ngày 25/12/1973 tại tỉnh Đắk Lắk; số căn cước công dân:
************; nơi cư trú: Thôn P, I, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Sửa chữa xe
máy; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa
giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Ngọc T1, sinh năm: 1943 và bà Nguyễn
Thị T2 (chết); vợ: Đinh Thị T3, sinh năm: 1976; con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm
1996 và nhỏ nhất sinh năm 2003; tiền án, tiền sự: Không; btạm giữ, tạm giam t
ngày 16/10/2025 cho đến nay và hiện nay đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2
Công an tỉnh G. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng có kháng cáo:
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Lương Quốc H, sinh
năm 2003; số căn cước công dân: ************; nơi thường trú: Thôn P, xã I, tỉnh
Gia Lai; nơi tạm trú và chỗ ở hiện nay: Căn hộ P.6 bên trái tầng 3 nhà chung (3
tầng) số 86 N, khu phố E, phường N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)
Ngoài ra, còn có bị cáo Lê Hữu Q không có kháng cáo và không bị kháng cáo,
kháng nghị.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Thực hiện Kế hoạch tuần tra, kiểm soát số 136/KH-Đ3 ngày 10/10/2025 của
Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số C1 - Phòng C2 Công an tỉnh G về việc tổ chức
tuần tra, kiểm soát, xử vi phạm trật tự an toàn giao thông giải quyết tai nạn
giao thông trên các tuyến đường thuộc địa bàn phường A, phường A C, thời
gian từ 14 giờ đến 22 giờ ngày 15/10/2025, Tổ công tác gồm Trung ĐVăn N
(Phó Đội trưởng làm Tổ trưởng) cùng các Tổ viên Thiếu Phạm Thanh H1
Thượng úy Nguyễn Sỹ K được phân công thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch.
Cũng vào sáng ngày 15/10/2025, Lương Ngọc T rủ Lê Hữu Q hàng xóm với
nhau đi khảo sát đnhận công trình làm lan can cổng bằng nhôm tại khu vực
phường A, tỉnh Gia Lai. T điều khiển xe ô bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, biển
kiểm soát 93C-169.74 chở Q đi từ xã I đến phường A, tỉnh Gia Lai. Khi điều khiển
xe ô đi đến vị trí cầu S thuộc Quốc lộ A (đoạn đường tránh phía Đông) ở Tổ A A,
phường A theo hướng phường A đi phường A thì T thấy xe ô biển kiểm soát 81A-
003.43 (là xe đặc chủng trang bị cho lực lượng Cảnh sát giao thông) đang dừng bên
phải đường, cùng chiều di chuyển do Thượng úy Nguyễn Sỹ K điu khiển. Thời
điểm này, Thượng úy K đang dừng xe để nghe điện thoại của Trung tá Đỗ Văn N -
Tổ trưởng tổ tuần tra, kiểm soát, phân công nhiệm vụ cho Thượng úy Nguyễn Sỹ K
đến Trung tâm Y tế A để xác minh tình trạng thương tích nhân thân lai lịch của
người bị tai nạn giao thông xảy ra c 14 gi 15 phút ngày 15/10/2025 tại đoạn đường
Q, phường A, tỉnh Gia Lai.
Khi thấy xe ô 81A-003.43 do Thượng úy Nguyễn Sỹ K điều khiển đi một
mình, T lấy do nghi ông K là Công an giả, vi phạm quy trình ăn mảnh” nên
bước xuống xe dùng điện thoại di động để quay phim ông K. Sau khi nghe điện
thoại nhận nhiệm vụ xong, ông K điều khiển xe ô tô công vụ đi đến Trung tâm Y tế
A để thực hiện nhiệm vụ thì T điều khiển xe ô tô 93C-169.74 chở Q đuổi theo sau.
Lúc này, T nói với Q “Cảnh sát giao thông đi một mình là sai quy trình, phải mời về
Công an phường để làm việc”. Q không i gì và đồng ý đi cùng. Khi ông K điều
khiển xe ô đi đến Km01+200 Tỉnh l669 thuộc phường A, cách vị trí cầu S
khoảng 01 km, T điều khiển xe ô tô vượt lên và cúp chặn trước đầu xe ô tô của ông
K không cho di chuyển, buộc ông K phải dừng xe. Sau đó, ông K xuống xe đhỏi
sự việc thì T đi đến, một tay cầm điện thoại bật chế độ quay, tay còn lại chỉ vào
mặt ông K chửi “Mày đi làm đi một mình, mày đi ăn mảnh à, tao yêu cầu mày
về Công an phường làm việc”. Ông K hỏi Thch là ai? do chặn xegiải thích
đang làm nhiệm vụ thì T nói “Tao không là ai cả, tao dân tao cũng quyền bắt
mày vphường”. Lúc này, Q cầm điện thoại bật chế độ quay phim. Mặc ông K
giải thích và yêu cu T, Q không được cn tr để đi thực hiện nhiệm vụ nhưng T
cùng Q vẫn tiếp tục chửi ông K trong khoảng 05 đến 07 phút và không cho ông K
điều khiển xe đi làm nhiệm vụ. Sau đó, ông K tiếp tc điều khiển xe ô đi đến
Trung tâm Y tế A. Khi xe ô tô do ông K điu khiển đến đoạn đường H, phường A,
3
cách vị trí bị chặn lần đầu khoảng 1,4 km thì T tiếp tục điều khiển xe ô tô chở Q đi
theo, vượt lên chặn trước đầu xe ô của ông K, buộc ông K phải dừng xe lại
khoảng 03 đến 05 phút. T xuống xe đến chỗ xe ô của ông K, tiếp tục dùng điện
thoại di động quay phim và nói ông K đi về Công an phường để làm việc.
Sau đó, ông K quay đầu xe tiếp tục lưu thông đến đường C để đi đến Trung tâm
Y tế A. Thấy vậy, T và Q cũng quay đầu xe và tiếp tục điều khiển xe ô tô đuổi theo.
Khi ông K điều khiển xe rẽ vào đường N rồi rẽ trái vào Quốc lộ A theo hướng từ
phường A đi phường Q được khoảng 02 km thì xe ô tô do T điều khiển tiếp tục đuổi
theo, bất ngờ tăng ga, ép sát đầu xe chặn xe ô tô của ông K buộc ông K phải dừng
xe lại. T dùng tay giật mở cửa xe ô tô của ông K và hỏi “Sao đi về Công an phường
mà đi đường này”, ông K hạ cửa kính xuống và giải thích đang thực hiện nhiệm vụ
nên không đi cùng với Q và T đến Công an phường được. Trong lúc T có hành vi
chống đối cn tr thì Q vẫn dùng điện thoại di động đưa lên để quay phim. Sau đó,
ông K đánh lái xe tránh xe ô tô bán tải tiếp tục lưu thông trên Quốc lộ A. Khi đến
giao lộ đường tránh Đông G, ông K rẽ vào đường tránh đi đến giao lộ giữa đường N
và đường T rồi rẽ vào đường N Khi đến giao lộ N - Q, thuộc Tổ C A, phường A, T
tiếp tục điều khiển xe ô chở Q đuổi theo. Lúc này, ông K thấy đèn tín hiệu giao
thông báo hiệu màu đỏ nên dừng xe lại thì T điều khiển xe vượt lên chặn ngang
trước đầu xe ô của ông K, cách khoảng 01 mét. Ông K lùi xe thì Thạch lùi theo,
khi ông K điều khiển xe tiến về phía trước để tránh sang phải thì T tiếp tục điều
khiển xe ô tô bán tải áp sát và chặn đầu xe ô tô ông K làm cho ông K không thể tiếp
tục điều khiển xe đi làm nhiệm vụ.
Lúc này, ông K xuống xe (xe ô tô vẫn đang nổ máy); T Q cũng xuống xe và
tiếp tục sdụng điện thoại di động để quay. Sau đó ông K ngồi lên xe ô để tiếp
tục điều khiển xe thì T gicửa xe không cho đóng. Sau đó T tự ý mcửa xe, tắt máy
rút chìa khóa xe ô biển kiểm soát 81A-003.43, đồng thời la ó dùng điện
thoại di động nhãn hiệu OPPO Reno6 5G, kiểu máy CPH2251, màu đen, phát trực
tiếp lên mạng xã hội Facebook mang tên “Ngọc Thạch” và đưa cho Q quay. Q cũng
sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 12 Pro Max để quay video. Do bị T, Q
tiếp tc chặn xe, không đến được Trung tâm y tế A để xác minh v tai nạn nên ông
K gọi điện thoi báo cáo T trưởng T công tác là anh Đỗ Văn N biết v vic b T,
Q chặn xe gây cản tr đồng thời gọi trực ban Công an phường A đhỗ trợ. Sau đó
ông K yêu cầu T đưa lại chìa khóa xe nhưng T và Q vẫn không chấp hành mà tiếp
tục những lời nói lăng mạ lực lượng đang làm nhiệm vụ như “Đi làm một mình
đi ăn mảnh hả”, “Sao tôi cúp đầu xe mà bỏ chạy, anh đừng để tôi xử luật rừng, Công
an thích làm thì làm à, bộ quần áo này ông xác định là cất đi…”. Sau khi nhn
được thông tin, lực lượng Công an phường A đến làm việc, T còn yêu cầu Công an
phường lập biên bản xác định hiện trường rồi mới trả chìa khóa xe và cùng về Công
an phường A để làm việc.
Tại Bản kết luận giám định số 667/KL-KTHS ngày 29/11/2025, Phòng K2
Công an tỉnh G kết luận: Không tìm thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình
ảnh trong 05 tệp video và 02 tệp hình ảnh lưu trữ trong USB gửi đến giám định.
4
Tại Bản kết luận giám định số 668/KL-KTHS ngày 26/11/2025, Phòng K2
Công an tỉnh G kết luận: Không tìm thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình
ảnh trong các tệp tin video lưu trữ trong USB gửi đến giám định. Kết quả kiểm tra
các video, hình ảnh: Ngoài những video, hình ảnh mà quan Cảnh sát điều tra
Công an tỉnh G đã kiểm tra, thu giữ trước đó thì không phát hiện thêm video, hình
ảnh liên quan đến vụ án.
Tại Công n s 915/PA05-Đ2 ngày 21/1/2025, Phòng An ninh mạng
phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao - Công an tỉnh G (PA05) xác định:
- Kiểm tra trên trang nhân tài khoản Facebook “Ngọc Tchưa phát hin
video phát trực tiếp vào ngày 15/10/2025 do đó PA05 không cung cấp được các
thông tin liên quan video nói trên.
- Tài khoản Facebook “Ngọc T” tạo lập ngày 02/8/2019, chưa phát hiện sđiện
thoại, email đăng ký tài khoản.
- Tài khoản Facebook “Ngọc T” tham gia 71 nhóm công khai (chủ yếu liên
quan đến xây dựng, thiết kế, bất động sản, kênh tin tức, giải trí...), chưa phát hiện
tham gia các hội, nhóm phức tạp về an ninh trật tự.
- Dựa trên dữ liệu quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G cung cấp không
xác định được thông tin về IP, IMEI và các thông tin về thiết bị diện thoại sử dụng
tài khoản Facebook “Ngọc T”.
Tại Bản án hình sự thẩm số 36/2026/HS-ST ngày 05/6/2026, Tòa án nhân
dân khu vực 13 Gia Lai đã căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều
58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bcáo Lương Ngọc T 15 tháng về tội
“Chống người thi hành công vụ”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần
hình phạt đối với bị cáo Lê Hữu Q, xử vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo
luật định.
Ngày 10/6/2026, bị cáo Lương Ngọc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
xin trả lại cho bị cáo xe ô tô biển kiểm soát 93C-169.74.
Ngày 16/6/2026, anh Lương Quốc H kháng cáo đề nghị sửa một phần bản án
về phần xử lý vật chứng, trả lại xe ô tô biển kiểm soát 93C-169.74 cho anh theo quy
định.
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lương Ngọc T anh L Quốc Huy giữ nguyên
kháng cáo nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị
Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Điều 356 của Bộ
luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc T và anh
Lương Quốc H, giữ nguyên bản án thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo T
phần xử lý vật chứng đối với xe ô tô biển kiểm soát 93C-169.74.
5
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào c tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phợp với lời khai của bị cáo trong hồ
sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Sáng ngày 15/10/2025, Lương Ngọc T điều khiển xe ô bán tải biển kiểm soát
93C-169.74 chở Lê Hữu Q đi từ xã I đến phường A, tỉnh Gia Lai để khảo sát, nhận
công trình làm lan can và cổng bằng nhôm tại khu vực phường A. Khi đi đến vị trí
cầu S thuộc Quốc lộ A (đoạn đường tránh phía Đông) Tổ A A, phường A theo
hướng phường A đi phường A thì T thấy xe ô biển kiểm soát 81A-003.43 (là xe
đặc chủng trang bị cho lực lượng Cảnh t giao thông) đang dừng bên phải đường,
cùng chiều di chuyển do Thượng úy Nguyễn Sỹ K ang mặc cảnh phục Cảnh sát
giao thông) điều khiển. Thời điểm này, Thượng úy K đang dừng xe để nghe điện
thoại của Trung Đỗ Văn N - Tổ trưởng tổ tuần tra, kiểm soát, phân công nhiệm
vụ cho Thượng úy Nguyễn Sỹ K đến Trung tâm Y tế A đxác minh tình trạng thương
tích nhân thân lai lịch của người bị tai nạn giao thông xảy ra lúc 14 gi 15 phút
ngày 15/10/2025 tại đoạn đường Q, phường A, tỉnh Gia Lai.
Lúc này, T lấy do việc ông K đi một mình vi phạm “ăn mảnh”, cho rằng
ông K Công an giả nên T đã hành vi 05 lần điều khiển xe ô của T ép chặn
đầu xe của ông K trên nhiều cung đường khác nhau, la mắng tự ý mở cửa rút chìa
khóa xe ô biển kiểm soát 81A-003.43 do ông K điều khiển đồng thời Q hành
vi sử dụng điện thoại của mình để quay lại lưu trữ trên các thư mục ảnh dùng điện
thoại của T quay phát trực tiếp lên mạng hội Facebook nhằm “bắt” ông K về Công
an phường làm việc. Hành vi của 02 bị cáo đã vượt quá và không đúng thẩm quyền
giám sát của người dân đối với lực lượng Cảnh sát giao thông, dẫn đến việc ông K
phải dừng xe ô tô lại, không thực hiện được nhiệm vụ được giao.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 13 Gia Lai đã xét xử các bị cáo Lương Ngọc
T Hữu Q về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 của
Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lương Ngọc T, Hội đồng
xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động đúng đắn của nhà
nước vquản hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vng trật tự, an toàn
hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tđịa phương, gây bất bình trong
quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm.
Trong vụ án này, hành vi của bị cáo T4 tích cực nhất, vai trò của bị cáo Thạch
C hơn bị cáo Q. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị
cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
Hình sự. Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ
nào khác chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.
6
n cứ tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và
tình tiết giảm nhẹ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T 15 tháng
phù hợp, đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét
xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo T, giữ
nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Xét kháng cáo xin nhận lại xe ô tô biển kiểm soát 93C-169.74 của bị cáo T
và anh Lương Quốc H, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Xe ô bán tải biển kiểm soát 93C-169.74 tải sản thuộc sở hữu của ông
Nguyễn Toàn P (ông P mua vào tháng 7/2023). Đến khoảng cuối tháng 7/2025, ông
P đã gửi xe tại cửa hàng xe do ông Mai Văn T5 làm chủ, nhờ ông T5 bán hộ với số
tiền gốc thu v520.000.000 đồng, còn tiền chênh lệnh ông T5 bán được bao nhiêu
thì ông T5 được hưởng, ông P đã giao cho ông T5 toàn bộ giấy tờ gốc có liên quan
đến xe ô trên (việc thỏa thuận trên không giấy tờ, hai bên chỉ thỏa thuận miệng).
Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/4/2026, ông T5 khai: “Tôi xác nhận vào ngày
30/9/2025, nhân viên K1 (hiện nay đã nghỉ việc) lập hợp đồng mua bán
với ông Lương Ngọc T một xe ô biển kiểm soát 93C-169.74... với số tiền
600.000.000 đồng... Khi mua bán thì anh T đã trả trước số tiền 400.000.000 đồng,
số tiền còn lại 200.000.000 đồng sẽ thanh toán khi sang tên. Tuy nhiên, sau khi
thực hiện hợp đồng mua bán thì anh T vi phạm pháp luật nên stiền 200.000.000
đồng vẫn chưa thanh toán cho tôi... Sau khi T xảy ra sự việc thì con trai của T (tên
H) đã gọi điện thoại cho K1 nói ông T bị ốm nên sẽ làm thủ tục sang tên đổi ch
sau thanh toán thêm cho salon số tiền 30.000.000 đồng. Hiện nay, việc mua
bán ông T còn nợ salon số tiền 170.000.000 đồng”.
Lời khai nêu trên của ông T5 phù hợp với lời khai của bị cáo T tại bản khai
ngày 15/10/2025: “Xe ô bán tải biển kiểm soát 93C-169.74 của tôi mua vào
khoảng ngày 05/10/2025 tại một của hàng bán xe ô tỉnh Đắk Lắk, hiện tại tôi
chưa làm thủ tục sang tên”; bản khai ngày 17/12/2025: “Chiếc xe ô tô bán tải biển
kiểm soát 93C-169.74 của tôi mua vào khoảng tháng 9/2025 tại một cửa hàng
salon ô trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Đây xe đã qua sử dụng, khi tôi mua cửa
hàng có làm một giấy mua bán và các các giấy tờ liên quan đến xe (bản photo). Số
tiền tôi có để mua xe tiền tích góp của vợ chồng tôi số tiền 300.000.000 đồng và
mượn của em gái Lương Thị Cẩm T6 số tiền 100.000.000 đồng. Do chưa trả hết tiền
mua xe (200.000.000 đồng còn lại) nên chưa m thủ tục sang tên, đổi chủ”; bản
khai ngày 04/5/2026: “Vào khoảng cuối tháng 9/2025, đầu tháng 10/2025, khi đi
xem xe, mua xe thì tôi đi một mình... Tôi là người trực tiếp thỏa thuận giá cả
kết hợp đồng mua bán đứng tên của tôi”.
Căn cứ các nội dung trình bày nêu trên giữa bên bán xe (ông T5) bên mua
xe (bị cáo T) thì đủ sở để xác định trước ngày xảy ra sự việc (ngày 15/10/2025),
việc giao nhận tiền mua bán xe và xe chỉ diễn ra giữa bị cáo T nơi bán xe; đồng
thời bị cáo T cũng người trực tiếp sử dụng xe cho đến ngày thực hiện hành vi
phạm tội.
7
Tại phiên tòa thẩm phúc thẩm, bị cáo T thay đổi lời khai, cho rằng xe ô
trên thuộc sở hữu của con bị cáo là anh H, bị cáo đã sử dụng tiền của vợ chồng tr
trước để mua xe (bao gồm 300.000.000 đồng tiền của vợ chồng bcáo ợn
của em gái ruột Lương Thị Cẩm T6 stiền 100.000.000 đồng), sau này con sẽ trả
lại số tiền mua xe lại cho vợ chồng bị cáo. Vợ bị cáo T là bà Đinh Thị T3 và anh H
cũng thống nhất với nội dung trình bày trên của bị cáo và đồng thời anh H cho rằng
sau khi chiếc xe bị quan điều tra thu giữ thì anh cũng đã trả thêm cho cửa hàng
30.000.000 đồng, còn nợ 170.000.000 đồng, chủ xe đã giao xe cho anh nên anh H
được toàn quyền định đoạt, anh H cho bcáo T mượn xe đi nhưng không toàn
không biết bị cáo sử dụng xe vào mục đích gì nên anh H không có lỗi trong trường
hợp này, xe ô tô bán tải biển kiểm soát 93C-169.74 là tài sản thuộc sở hữu riêng của
anh H nên đề nghị trả lại xe cho anh H. Xét thấy, nội dung trình bày trên của bị cáo
mâu thuẫn với lời khai ban đầu của bị cáo đồng thời không ai không đưa ra
được chứng cứ chứng minh cho nội dung trình bày này; mặt khác, bị cáo người
đứng tên trên hợp đồng mua bán xe, stiền bị cáo trực tiếp trả cho bên bán xe chiếm
2/3 giá trị hợp đồng, còn số tiền anh H đã trả phát sinh sau khi bị cáo thực hiện hành
phạm tội và chỉ chiếm 5% giá trị hợp đồng. Do đó, không có căn cứ để chấp nhận
nội dung trình bày trên của bị cáo T, bà T3 và anh H.
Từ những phân tích trên, Tòa án cấp thẩm đã xác định xe ô bán tải biển
kiểm soát 93C-169.74 công cụ, phương tiện phạm tội do bị cáo T đã hành vi
sử dụng xe ô trên làm công cụ, phương tiện ép chặn đầu xe của ông K nên đã
tuyên xử tịch thu, nộp ngân sách nhà nước xe ô tô trên cùng các giấy tờ liên quan là
phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của B
luật Tố tụng hình sự.
Trong trường hợp có phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu hoặc tranh chấp về
hợp đồng mua bán xe ô bán tải biển kiểm soát 93C-169.74 thì các bên quyền
khởi kiện một vụ án khác tại Toà án theo quy định.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận, Tòa án cấp phúc thẩm giữ ngun
bản án sơ thẩm nên bị cáo T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 330, điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ
luật Hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều
23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và
lệ phí Tòa án.
8
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lương Ngọc T người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Lương Quốc H. Giữ nguyên Bản án hình sự
thẩm số 36/2026/HS-ST ngày 05/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 13 Gia
Lai.
2. Xử phạt bị cáo Lương Ngọc T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Chống người
thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/10/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) xe ô tô
bán tải nhãn hiệu Ford Ranger, màu trắng, biển kiểm soát 93C-169.74, kèm theo các
giấy tờ gồm: 01 (một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật bảo vệ môi
trường xe giới số VA 2580602; 02 (hai) Giấy chứng nhận đăng xe ô số
93001256 biển kiểm soát 930- 169.74 (bản phô tô công chứng); 01 (một) hợp đồng
mua bán xe đề ngày 30/9/2025.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/02/2026 giữa Cơ
quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh G Phòng thi hành án dân sự khu vực 13 - Gia
Lai).
4. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lương Ngọc T phải chịu 200.000 đồng
(hai trăm nghìn đồng).
6. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Gia Lai;
- Trại tạm giam số 2 Công an tỉnh Gia Lai;
- TAND khu vực 13 – Gia Lai;
- VKSND khu vực 13, tỉnh Gia Lai;
- Phòng THADS khu vực 13, tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan THAHS Công an tỉnh Gia Lai;
- Cơ quan HSNV Công an tỉnh Gia Lai;
- Các đương sự;
- Lưu: HCTP; Tòa Hình sự; Phòng GĐ, KT, TT
THA; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Giáp Bá Dự
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 108/2026/HS-PT Bản án số 108/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 108/2026/HS-PT Bản án số 108/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất