Bản án số 371/2026/DS-PT ngày 28/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 371/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 371/2026/DS-PT ngày 28/07/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 371/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 28/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 371/2026/DS-PT Bản án số 371/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 371/2026/DS-PT Bản án số 371/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 371/2026/DS-PT
Ngày 28 - 7 - 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Văn Toàn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị My My, ông Phạm Cao Gia
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Nguyễn Kim Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án n sự thụ số: 116/2026/TLPT-DS ngày 05 tháng 5
năm 2026 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sthẩm
số: 33/2026/DS-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 1-
Đắk Lắk bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm số: 307/2026/QĐ-PT ngày
24/6/2026, Quyết định hoãn phiên toà số 351/QĐ-PT ngày 09/7/2026, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn: Trần Thị Q, sinh năm 1958; Địa chỉ: C T, phường B, tỉnh
Đắk Lắk (Có mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền và là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
nguyên đơn: Luật sư Phạm H thuộc Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh Đắk Lắk. Địa
chỉ: L T, phường T, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
2. Bị đơn: Ông Cù Ngọc L, sinh năm 1978; Địa chỉ: 1 Y, phường E, tỉnh Đắk
Lắk (Có mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Bà Trần Thị H1, sinh năm 1990; Địa
chỉ: 1 Y, phường E, tỉnh Đắk Lắk (Có mặt).
* Người kháng cáo: Bị đơn ông Cù Ngọc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Thị Q trình bày:
Bà Q ông L mối quan hệ thông gia với nhau. Trước năm 2024 ông L
vay của một số tiền nhưng cụ thể bao nhiêu tkhông nhớ rõ. Đến ngày
01/01/2024, bà và ông L thống nhất số nợ còn lại và viết giấy vay tiền với nội dung
ông L vay của số tiền 925.000.000 đồng, thời hạn vay 01 năm kể từ ngày
01/01/2024 đến ngày 01/01/2025, lãi suất 1%/tháng. Trong số tiền 925.000.000 đồng
2
này thì có một phần là tiền lãi của khoản vay trước đó cộng với tiền gốc. Khi vay số
tiền trên là do ông L tự đứng ra vay, không cầm cố, thế chấp tài sản gì cho bà. Trong
giấy vay tiền chỉ có bà với ông L nhận, bà Đ không biết và không ký nhận. Đến
hạn trả nợ ông L không trả mặc đã đòi nhiều lần. Vì vậy yêu cầu Tòa án
giải quyết buộc một mình ông L trả cho số tiền 925.000.000 đồng, tiền lãi theo
thoả thuận 1%/ tháng tính từ ngày 01/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm. Đối với
Đ không biết số nợ trên và không ký nhận nên đề nghị Tòa án không đưa bà Đ vào
tham gia tố tụng.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Cù Ngọc L trình bày:
Ông thống nhất với toàn bộ nội dung bày trên của bà Q, ông thừa nhận còn nợ
bà Q số tiền vay gốc là 925.000.000 đồng và tiền lãi theo thoả thuận 1%/ tháng tính
từ ngày 01/01/2024, ông cho rằng thời điểm vay tiền của Q chỉ có một mình ông
đứng ra vay, bà Đ (là vợ đã ly hôn) không ký giấy vay nên không liên quan, vì vậy
ông đề nghị Tòa án không đưa Đ vào tham gia tố tụng.
Đối với yêu cầu của Q buộc ông phải trả số tiền vay gốc 925.000.000 đồng
tiền lãi tính từ ngày 01/01/2024 đến ngày xét xử thẩm thì ông đồng ý trả nhưng
ông xin Q cho ông thời gian trả nợ làm nhiều đợt hoàn cảnh hiện tại của ông
đang gặp khó khăn về kinh tế, vợ chồng ông mới ly hôn, ông đang phải nuôi các con
chăm sóc mgià yếu nên không khả năng trả một lần như yêu cầu của Q
được. Nếu Q đồng ý thì cho ông trả dần làm 04 đợt, cụ thể: Đợt 1: vào ngày
05/6/2026 trả 200.000.000 đồng; Đợt 2: vào ngày 05/12/2026 trả 200.000.000 đồng;
Đợt 3: vào ngày 05/6/2027 trả 200.000.000 đồng; Đợt 4: vào ngày 05/12/2027 trả
hết số tiền còn lại.
Tại Bản án dân sự thẩm số 33/2026/DS-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực 1- Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466 khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Q: Buộc ông
Ngọc L phải trả số tiền 1.159.949.996 đồng; Trong đó: Nợ gốc là: 925.000.000 đồng
và 234.949.996 đồng tiền lãi cho bà Trần Thị Q.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên lãi suất chậm thi hành án, án phí
quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/02/2026, bị đơn ông Cù Ngọc L kháng cáo toàn bộ bản án thẩm, đề
nghị cấp phúc thẩm sửa án theo hướng xác định lại số tiền vay thực tế, xác định nợ
chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Cù Ngọc L và bà Nguyễn Thị Đ; cho ông L
được trả dần khoản nợ thành 04 đợt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xin rút một phần yêu cầu kháng cáo đối với
khoản tiền vay gốc xác định khoản nợ trên trong thời kỳ hôn nhân giữa ông với
Đ. Nay ông chỉ kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm giải quyết cho ông
được trả toàn bộ số nợ gốc lãi như bản án thẩm đã tuyên, khấu trừ số tiền
100.000.000 đồng ông L đã trả vào ngày 25/7/2026. Ngoài ra ông L xin được trả làm
03 đợt.
3
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn bà Trần Thị H1 trình bày: Sau khi xét
xử sơ thẩm ông L đã làm đơn kháng cáo ba nội dung, nhưng tại phiên toà hôm nay
ông L đã xin rút một phần kháng o chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm giải
quyết cho ông được trả toàn bộ số nợ gốc lãi như bản án thẩm đã tuyên
được trả làm 03 đợt. Bởi vì hoàn cảnh của ông lúc này đang gặp khó khăn về kinh
tế, vợ chồng thì ly hôn, một mình ông đang nuôi 03 con, chăm sóc mẹ già ông
đang bị bệnh. Đây là cam kết thực sự của ông L, mong nguyên đơn tạo điều kiện cho
ông L trả nợ theo thu nhập thực tế.
Nguyên đơn, đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Phạm H trình bày:
Tại phiên toà hôm nay bên nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và không
đồng ý thoả thuận cũng như yêu cầu nào khác của ông L. Bởi số nợ trên ông L
vay cố tình kéo dài, khất nợ nhiều lần cho đến khi có bản án thẩm tvào ngày
25/7/2026, ông L mới trả được một phần nợ gốc với số tiền là 100.000.000 đồng. Số
tiền gốc và lãi còn lại nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả mt lần đến thời điểm thi hành
án, không đồng ý trả nhiều lần như bị đơn trình bày. Đề nghị Hội đồng xét xkhông
chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên án sơ thẩm.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan
điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thgiải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét
xử, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật t tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 1
Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn, sửa Bản
án dân sự sơ thẩm số 33/2026/DS-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân
dân khu vực 1- Đắk Lắk về nghĩa vụ trả nợ của bị đơn sau khi trừ số tiền gốc
100.000.000 đồng đã trả vào ngày 25/7/2026.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ vụ án, được thẩm
tra tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý
kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định đã
nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được xem xét theo trình tphúc thẩm là
phù hợp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, bà Q và ông L đều thống nhất
thừa nhận: Trước năm 2024, ông L vay tiền của Q nhiều lần nhưng đều
không xác định được cụ thể số tiền vay từng lần và thời gian vay, đến ngày
01/01/2024 hai bên thống nhất viết giấy chốt số nợ gốc tổng cộng 925.000.000
đồng, thời hạn vay 01 năm, lãi suất 1%/ tháng. Xét giấy vay tiền ngày 01/01/2024
được ông L thừa nhận do ông tự nguyện ký kết, nội dung không trái quy định pháp
luật. Do đó, Toà án cấp thẩm buộc ông L phải trả cho Q số tiền gốc 925.000.000
đồng là có căn cứ.
Về cách tính lãi: Xét mức lãi suất 1%/ tháng các bên đã thoả thuận phù hợp với
quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Tại đơn khởi kiện quá trình giải quyết,
nguyên đơn chỉ yêu cầu tính lãi 1%/ tháng theo thoả thuận từ ngày vay cho đến khi
4
xét xử phù hợp. Bản án thẩm tính toán lãi từ ngày 01/01/2024 đến ngày
12/02/2026 = 925.000.000 đồng x 1%/ tháng x 02 năm 01 tháng 12 ngày =
234.949.996 đồng là đúng quy định.
Tuy nhiên, đối với lãi suất chậm trả tiền trong giai đoạn thi hành án, cấp
thẩm buộc ông L chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật
Dân schưa phù hợp. Theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự thì lãi suất chậm
trả tiền được xác định theo thoả thuận của các bên đương sự không được vượt quá
mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Trong trường
hợp này thoả thuận lãi 1%/ tháng của các đương sự là phù hợp nên cần buộc ông L
tiếp tục chịu mức lãi suất này cho đến khi thi hành án xong. Cấp phúc thẩm cần sửa
lại là phù hợp.
Xét thấy, ngày 25/7/2026 ông L đã trả thêm cho Q số tiền 100.000.000 đồng
tiền gốc, đây là tình tiết mới nên Hội đồng xét xử ghi nhận để khấu trừ vào nghĩa vụ
trả số nợ gốc của ông L. Tổng số tiền ông L phải trả cho Q 1.059.949.996 đồng,
trong đó gốc là 825.000.000 đồng, lãi là 234.949.996 đồng.
[2.2] Xét kháng cáo của bị đơn về việc trả số nợ gc và lãi cho bà Q làm nhiều
đợt và khả năng tài chính thực tế. Hội đồng xét xử nhận thấy: Theo hợp đồng vay tài
sản giữa ông L với Q được kết ngày 01/01/2024 đã thể hiện rõ stiền vay gốc,
lãi suất thời gian trả nợ nhưng sau đó ông L vi phạm nghĩa vụ của bên vay, không
trả nợ khi đến thời hạn theo thoả thuận. Theo quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự
thì ông L phải trả đủ số tiền gốc và lãi cho Q. Đối với đề nghị của ông L về việc
trả số nợ trên làm nhiều đợt nhưng không được bà Q chấp nhận nên không có cơ sở
xem xét.
[2.3] Đối với kháng cáo của bị đơn về việc xác định lại khoản vay thực tế
khoản nợ chung trong thời kỳ hôn nhân giữa ông L và Nguyễn Thị Đ. Hội đồng
xét xử nhận thấy yêu cầu này tại phiên toà phúc thẩm bđơn xin rút căn cứ,
đúng quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[3] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Do sửa án sơ thẩm nên án phí ông L phải chịu được
tính lại là 43.798.500 đồng.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Từ những phân tích nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy các nội
dung kháng o của bị đơn là không căn cứ, tuy nhiên do phát sinh tình tiết
mới nên cần sửa án sơ thẩm về nghĩa vụ trả nợ của bị đơn và án phí sơ thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự:
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Cù Ngọc L. Sửa Bản án dân sự
thẩm s33/2026/DS-ST ngày 12 tháng 02 năm 2026 của Toà án nhân dân khu
vực 1- Đắk Lắk.
Áp dụng Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết
5
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Q:
- Buộc ông Cù Ngọc L phải trả cho bà Trần Thị Q tổng số tiền: 1.059.949.996
đồng (một tỷ không trăm năm mươi chín triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn chín
trăm chín mươi sáu đồng); Trong đó: tiền gốc 825.000.000 đồng (tám trăm hai
mươi lăm triệu), tiền lãi 234.949.996 đồng (hai trăm ba mươi triệu chín trăm
bốn mươi chín nghìn chín trăm chín mươi sáu đồng).
Kể tngày tiếp theo ca ngày xét xsơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất thoả thuận 1%/ tháng quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật
Dân sự 2015.
2. Về án phí sơ thẩm: Bị đơn ông Ngọc L phải chịu 43.798.500 đồng (bốn
mươi ba triệu bảy trăm chín mươi tám nghìn năm trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trần Thị Q được miễn đóng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nên không
xem xét.
3. Về án phí dân s phúc thm: Ông Cù Ngọc L được trả lại 300.000 đồng (ba
trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002144 ngày 05/3/2026
tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lk.
[2]. Các quyết định khác của bản ánthẩm không kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 1;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trịnh Văn Toàn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 371/2026/DS-PT Bản án số 371/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 371/2026/DS-PT Bản án số 371/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất