Bản án số 222/2026/DS-PT ngày 22/04/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 222/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 222/2026/DS-PT ngày 22/04/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 222/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Công nhân thỏa thuận sửa một phần bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
Bản án số: 222/2026/DS-PT
Ngày 22-4-2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất,
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Nguyễn Thế Hạnh
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh, là Thư viên của Tòa án nhân
dân tỉnh Lâm Đồng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa:
Vương Thị Bắc – Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 04 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 142/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 03
năm 2026, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2025/DS-ST ngày 19-12-2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 8, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo,
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 253/2026/QĐ-PT ngày 03
tháng 04 năm 2026, gia các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị L, sinh năm: 1975 ông Phùng Ngọc T, sinh năm:
1976, địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phùng Ngọc T: Thị L, địa chỉ:
Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bị đơn: Nguyễn Mộng H, sinh năm: 1976; địa chỉ: Thôn Đ, Đ, tỉnh
Lâm Đồng. Có mặt
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Mộng H: Ông Đồng Văn N, địa
chỉ: A T, dân phố E, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Phạm Đức T1, sinh năm: 1978 Hồ ThH1, sinh năm: 1981; địa chỉ:
Thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Lê Thị L và ông Phùng Ngọc T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết, nguyên đơn Thị L ông
Phùng Ngọc T2 trình bày:
Năm 2006, ông T và bà L nhận chuyển nhượng của ông Phạm Đức T1 và bà
Hồ Thị H1 02 thửa đất tại khu vực Đồi M tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
(cũ), nay là thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng gồm: Thửa số 25, tờ bản đồ 44, diện tích
17.270m
2
, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), cấp đứng tên ông
Phạm Đức T1 và bà Hồ Thị H1, trên đất trồng cây cao su; thửa số 25a, tờ bản đồ 44,
diện tích khoảng 3.000m
2
, đất chưa GCNQSDĐ, trên đất sẵn ao tưới nước
(diện tích khoảng 04m rộng x 15m dài).
Đầu năm 2014, ông Phùng Ngọc T thoả thuận bán cho bà Nguyễn Mộng H ao
tưới nước (diện tích khoảng 04m rộng x 15m dài) với số tiền 24.000.000đ, bà H đã
trả 14.000.000đ, còn lại 10.000.000 đồng, hẹn cuối năm 2015 sẽ trả.
Sau khi nhận ao, H đào vét, múc rộng ao tự ý trồng cây trên một phần
của thửa số 25a tờ bản đồ 44. Cuối năm 2015 H đến trả số tiền 10.000.000 đồng,
nhưng vợ chồng ông T, bà L không nhận. Do bà H đã đầu tư tiền đào vét, múc rộng
ao, nên vợ chồng ông T, L cho H sử dụng ao để tưới nước trong khoảng 05
năm thì lấy lại, vợ chồng ông T, bà L sẽ nhổ bỏ cây trồng trên đất, khi nào bà H trả
ao thì vợ chồng ông T, L sẽ trả lại số tiền 14.000.000đ. Tháng 6/2016, ông T nhổ
bỏ cây bơ doH trồng, năm 2020 ông T đòi lại ao nhưng bà H không trả. Vì vậy,
ông T L khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Huỷ hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất xác lập bằng miệng năm 2014 gia ông Phùng Ngọc T
Nguyễn Mộng H (diện tích ao nước tưới khoảng 04m rộng x15m dài); yêu cầu bà H
hoàn trả lại ao, đồng ý hoàn trả cho H số tiền đã nhận 14.000.000 đồng; yêu
cầu bà H phải trả lại diện tích đất lấn chiếm (ngoài diện tích đất ao), địa chỉ tại thôn
Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), nay là thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
2. Quá trình giải quyết, bị đơn bà Nguyễn Mộng H trình bày:
Đầu năm 2014, ông Phùng Ngọc T bán cho thửa đất diện tích khoảng 03
sào (3.000m
2
), tại khu V, thôn Đ, Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), đất chưa
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có sẵn ao tưới nước (diện tích khoảng
04m rộng x 15m dài) với số tiền 24.000.000 đồng, đã trả 14.000.000 đồng, còn
lại 10.000.000 đồng hẹn trả vào cuối năm 2015. Việc mua bán được thực hiện bằng
miệng, hai bên đã thực hiện việc giao nhận đất. Đầu năm 2015, bà đầu tư công sức
đào bỏ gốc tre, phát dọn cây rừng, làm sạch đất và thuê người đào vét, múc rộng ao.
Cuối năm 2015 bà đến trả số tiền còn lại nhưng vợ chồng ông T, L không
nhận đòi lại đất nhưng không đồng ý. Tháng 4/2016 trồng cây bơ, tháng
6/2016 ông T nhổ bỏ cây bơ nên bà làm đơn tố cáo yêu cầu Công an xã Đ, huyện Đ
(cũ) giải quyết. Tháng 7/2016 làm đơn khởi kiện ông T về việc tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Quá trình làm việc tại Công an xã Đ tại
Toà án nhân dân huyện Đắk Mil, ông T đã thừa nhận bán cho phần đuôi của
miếng rẫy, diện tích đất bán khoảng 03 sào (bao gồm đất ao đất màu). Nay bà yêu
cầu vợ chồng ông T, L tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất theo mảnh trích đo địa chính số 70-2024 do Chi nhánh Văn phòng Đ duyệt ngày
02/4/2024 là 2931,6m
2
(trong đó 388,5m
2
đất ao), đồng ý thanh toán cho vợ
chồng bà L số tiền còn lại là 10.000.000 đồng.
3. Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan ông Phạm Đức T1 trình bày:
Trước đây, ông có mảnh đất rẫy diện tích khoảng 2,3 hecta thuộc thửa đất s
25 và thửa số 25a tại khu V, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ). Ông trồng
cao su xen kẽ tiêu trên diện tích đất thuộc thửa 25, diện tích đất còn lại thuộc thửa
25a đất màu và ao. Ao do ông đào năm 2004, diện tích ao khoảng 04m rộng x
15m dài, vị trí ao nằm mép suối và giáp đất ông Nguyễn Thanh H2. Năm 2006 ông
chuyển nhượng đất rẫy này cho ông Phùng Ngọc T Thị Lệ . Hai bên đã
thực hiện xong việc mua bán, thanh toán đủ tiền giao đất đủ, đúng vị trí. Năm
2014 ông Phùng Ngọc T có bán đất, bán ao cho H hay không và bán như thế nào thì
ông không biết. Trong vụ án này ông không liên quan và không yêu cầu gì.
4. Người làm chứng trình bày:
4.1. Trương Thị M trình bày: có đất rẫy sát rẫy của H gần rẫy của
vợ chồng ông T. lần đi làm rẫy gặp vợ chồng ông T hỏi chuyện, ông T xác
nhận bán phần đất rẫy phía dưới suối cho H với giá 24.000.000 đồng, còn
L thì nói ông T đã nhận 14.000.000 đồng của H, sau đó H vào trả nốt tiền
nhưng L không bán na nên không nhận. thấy H múc rộng ao, làm sạch
đất, sử dụng ao và trồng cây trên đất từ năm 2014 đến nay.
4.2. Bà Nguyễn Thị C trình bày: Bà có rẫy cạnh rẫy của ông T, có lần ông T
nói muốn bán phần rẫy ao tưới nhưng gia đình không nhu cầu mua. Sau
một thời gian, gặp lại ông T nghe ông T kể là đã bán phần đất rẫy đó cho
H. Ông T còn nói là may mắn bán được vì đất toàn đá, sỏi. Bà không tham gia hoặc
chứng kiến việc mua bán mà chỉ nghe ông T kể cho nghe. Bà thấy H sử dụng phần
đất rẫy giáp suối và ao tưới nước từ năm 2014.
4.3. Nguyễn Thị Thùy T3 trình bày: đất rẫy giáp đất rẫy của vợ
chồng ông T và đất rẫy của bà H. Bà có nghe ông T kể là đã bán phần đất rẫy có ao
cho H. Bà thấyH cải tạo đất, múc ao rộng hơn và trồng cây trên đất, khi H
múc ao thì bà có đến xem, bà thấy ông T cũng đến xem.
Tại Bản án sơ thẩm số: 50/2025/DS-ST Ngày 19/12/2025 của Tòa án nhân
dân khu vực 8 đã căn cứ các quy định của pháp luật tuyên xử:
1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Lông
Phùng Ngọc T.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập bằng miệng
năm 2014 giữa ông Phùng Ngọc T Nguyễn Mộng H để chuyển nhượng thửa
đất diện tích 2931,6m
2
(trong đó có 388,5m
2
đất ao), tại khu V, thôn Đ, xã Đ, huyện
Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), nay là thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng vô hiệu.
Lê Thị L và ông Phùng Ngọc T phải hoàn trả cho bà Nguyễn Mộng H số
tiền 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Buộc bà Nguyễn Mộng H phải hoàn trả cho bà Thị L và ông Phùng Ngọc
T diện tích đất 2931,6m
2
(trong đó 388,5m
2
đất ao), địa chtại khu V, thôn Đ, xã
Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), nay thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, có tứ cận như
sau:
Phía Bắc giáp suối cạnh dài 58m.
Phía Nam giáp đất ông Phùng Ngọc T và bà Lê Thị Lệ D 69m.
Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Thanh H2 cạnh dài 56m.
Phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn D1 cạnh dài 28m.
(Kèm theo bản án mảnh trích đo địa chính số 70-2024 do Chi nhánh Văn
phòng Đ duyệt ngày 02/4/2024).
Giao toàn bộ cây trồng và ao tưới nước gắn liền trên diện tích đất 2.931,6m
2
,
địa chỉ tại khu V, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), nay là thôn Đ, xã Đ,
tỉnh Lâm Đồng cho bà Lê Thị L và ông Phùng Ngọc Thanh quản L1, sử dụng.
Buộc Thị L và ông Phùng Ngọc T phải thanh toán cho Nguyễn
Mộng H gtrị cây trồng chi phí đào vét, múc ao với số tiền 299.028.000 đồng
(Hai trăm chín mươi chín triệu không trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nêu trên, người phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357 Điều 468 của Bộ luật sự 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại
thời điểm thanh toán.
Không chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị L và ông Phùng Ngọc T về việc yêu
cầu Nguyễn Mộng H phải trả lại đất do lấn chiếm (sau khi trừ diện tích đất ao
2931,6m
2
- 388,5m
2
) là 2.543,1m
2
tại khu V, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông
(cũ), nay là thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Ngoài ra cấp sơ thẩmn quyết định về nghĩa vchậm thi hành án, chi phí tố
tụng, án phí và thông báo quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31-12-2025, nguyên đơn bà Lê Thị LPhùng Ngọc T4 cáo đề nghị
cấp phúc thẩm sửa bán án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện.
Ngày 08/1/2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 có quyết định
kháng nghị đề nghị sửa bản án dân sự thẩm theo hướng Buộc nguyên đơn phải
bồi thường tiền chênh lệch giá đất với số tiền 59.819.298 đồng và thanh toán giá trị
cây trồng trên đất 171.262.800 đồng. Buộc các đương sự chịu án phí theo quy định
của pháp luật.
Tại phiên tòa, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án nhưng bị đơn đồng ý giảm 20.000.000 đồng, chỉ yêu cầu nguyên đơn trả
279.028.000 đồng tiền cây cối, tôn tạo và giá trị đất. Các bên không cung cấp thêm
tài liệu chứng cứ mới.
Đại diện Viện kiểm sát bổ sung kháng nghị: Tại Bản án thẩm, Tòa án đã
tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả toàn bộ diện tích
đất cho nguyên đơn nhưng sau đó lại tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn về việc trả lại diện tích đất 2.543,1m
2
là không đúng quy định pháp luật,
đồng thời buộc bị đơn trả 300.000 đồng án phí cho yêu cầu không được chấp nhận
là không chính xác đề nghị cấp phúc thẩm tuyên lại cho phù hợp.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng:
- Về tố tụng: Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán tham gia, Thư
Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình
giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ trong hồ sơ, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309
Bộ luật Tố tụng Dân sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, một phần
kháng nghị của Viện kiểm sát. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 50/2025/DS-ST ngày
19/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Lâm Đồng theo hướng: Buộc
nguyên đơn phải bồi thường cho bị đơn tiền cây cối, tôn tạo ao gtrị đất
279.028.000 đồng. Các đương sự chịu án phí thẩm theo quy định. Do Bản án
thẩm bị sửa mt phần, nên nguyên đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ ván được thẩm tra ng
khai tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của các đương sự và ý kiến của đại diện Viện
kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Đơn kháng cáo của nguyên đơn nộp trong thời hạn luật định, đã nộp
tạm ứng án phí nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại các Điều
271, khoản 2 Điều 272, Điều 273 của Bộ luật T tụng dân sự.
[1.2]. Quyết định kháng nghị phúc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân
dân khu vực 8 - Lâm Đồng được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng hình thức
trong thời hạn luật định theo quy định tại các Điều 278, 279 và 280 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[1.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm
Đồng bổ sung kháng nghị nội dung: Tại Bản án sơ thẩm, Tòa án đã tuyên chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả toàn bộ diện tích đất cho nguyên
đơn nhưng sau đó lại tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
việc trả lại diện tích đất 2.543,1m
2
không đúng quy định pháp luật, đồng thời buộc
bị đơn trả 300.000 đồng án pcho yêu cầu không được chấp nhận không chính
xác, đề nghị cấp phúc thẩm tuyên lại cho phù hợp. Hội đồng xét xử xét thấy việc bổ
sung kháng nghị không vượt quá phạm vi kháng nghị ban đầu nên chấp nhận.
[2]. Xét nội dung giải quyết vụ án yêu cầu kháng cáo, kháng nghị:
[2.1]. Đầu năm 2014, ông Phùng Ngọc T thỏa thuận bằng lời nói về việc
chuyển nhượng quyền sử dụng diện ch đất tại khu V, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh
Đắk Nông (cũ), nay là thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng, với giá 24.000.000 đồng; bà H
đã giao trước 14.000.000 đồng, số tiền còn lại 10.000.000 đồng các bên thống nhất
sẽ thanh toán vào cuối năm 2015; đến ngày 15/12/2015, khi H thực hiện việc
thanh toán số tiền còn lại thì vchồng L, ông T không nhận tiền yêu cầu trả
lại đất, H không chấp nhận tiếp tục quản lý, sử dụng đất trồng thêm y
bơ; ngày 17/6/2016, ông T nhổ bỏ số cây bơ này, sau đó H đơn gửi quan
Công an yêu cầu giải quyết; tháng 7/2016 H khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng đến tháng 9/2017 đã rút
đơn khởi kiện tiếp tục quản lý, sử dụng, đầu tư trên đất; toàn bộ các tình tiết, sự
kiện nêu trên đều được các đương sự thừa nhận nên thuộc trường hợp không phải
chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
[2.2]. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất gia ông Phùng Ngọc T Nguyễn Mộng H được xác lập bằng miệng
vào năm 2014, tại thời điểm giao kết, thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, đồng thời các bên không thực hiện việc lập hợp đồng bằng văn bản,
không ng chứng, chứng thực theo quy định. Như vậy, giao dịch này đã vi phạm
cả về điều kiện hiệu lực đối với quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 188
Luật Đất đai năm 2013 và vi phạm về hình thức theo quy định tại Điều 167 Luật Đất
đai năm 2013, Điều 401 Bộ luật Dân sự năm 2005. Mặt khác, việc các bên thừa nhận
giao kết hợp đồng, đã thực hiện một phần nghĩa vụ (bị đơn đã giao 14.000.000
đồng, nhận đất sử dụng ổn định trong một thời gian) không làm phát sinh hiệu
lực của hợp đồng khi giao dịch vi phạm điều kiện hiệu lực theo quy định của pháp
luật. Do đó, đủ căn cứ xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất gia
các bên vô hiệu toàn bộ theo quy định tại Điều 127 Điều 128 Bộ luật Dân s
năm 2005. Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng vô hiệu là phù hợp với quy
định của pháp luật. Lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu thuộc về cả hai bên.
[2.3]. Đối với nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát vviệc buộc bồi
thường chênh lệch giá trị đất và xác định lỗi ca nguyên đơn cao hơn bị đơn buộc
nguyên đơn phải thanh toán 60% giá trị tài sản trên đất, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, bà H thừa nhận, năm 2017 bà H khởi
kiện L, ông T ra Tòa án đề nghị giải quyết tranh chấp liên quan đến bồi thường
các tài sản trên đất tranh chấp, sau đó H rút khởi kiện nên vụ án được đình chỉ.
Khi bà L, ông T khởi kiện năm 2020, bà H vẫn tiếp tục trồng thêm 285 cây cà phê,
50 trụ tiêu, 09 cây bơ, 02 cây mít, 12 cây sầu riêng trên diện tích đất đang bị tranh
chấp, nhưng không bị L, ông T ngăn chặn. L, ông T thừa nhận khi hai bên
tranh chấp năm 2016 thì bà có đồng ý cho H được mượn đất từ 1 đến 5 năm, nên
đến 2020 mới khởi kiện đòi lại đất. H cũng xác định mặc Tòa thẩm dành
quyền khởi kiện bồi thường chênh lệch giá trị đất ở vụ án khác nhưng bà không yêu
cầu bồi thường về chênh lệch giá đất, phán quyết của cấp thẩm về việc nguyên
đơn phải trả lại giá trị cây trồng cho bà là phù hợp.
Tài sản trên diện tích đất 2.931,6m
2
theo các kết quả xem xét thẩm định tại
chỗ bao gồm: 01 cây dừa, 26 cây bơ, 24 cây mít, 285 cây cà phê, 14 cây mắc ca, 50
cây tiêu, 09 cây bơ, 02 cây mít, 13 cây sầu riêng, 07 cây mãng cầu giá trị
285.438.000 đồng 01 ao tưới nước (diện tích 388,5m
2
) được đào vét rộng năm
2015 với chi phí đào vét, múc ao 13.590.000 đồng. Toàn btài sản trên đất đều
do bị đơn đầu tư, hình thành từ công sức và chi phí hợp lý của bị đơn, đồng thời tại
thời điểm giải quyết, các tài sản này là cây lâu năm, không thể di dời, việc giao lại
cho nguyên đơn quản lý, sử dụng và buộc hoàn trả giá trị là phù hợp. Tòa án cấp sơ
thẩm đã xem xét toàn diện các yếu tố về nguồn gốc tài sản, quá trình sử dụng đất,
công sức đầu đặc điểm tài sản đbuộc nguyên đơn thanh toán toàn bộ giá trị
tài sản trên đất cho bị đơn là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 131 Bộ luật Dân
sự các hướng dẫn liên quan. vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp
nhận nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát về việc buộc bồi thường chênh lệch giá
trị đất xác định lỗi của nguyên đơn cao hơn bị đơn buộc nguyên đơn phải thanh
toán 60% giá trị tài sản trên đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát cũng đnghị Hội đồng xét
xử chấp nhận quan điểm của bị đơn về việc không yêu cầu bồi thường chênh lệch
giá đất tự nguyện giảm stiền bồi thường cây trồng 20.000.000 đồng, chỉ yêu cầu
nguyên đơn bồi thường 279.028.000 đồng.
[2.4]. Đối với nội dung kháng cáo của nguyên đơn về việc không chấp nhận
thanh toán giá trị tài sản trên đất cho bị đơn:
Quá trình giao kết thực hiện hợp đồng cho thấy, bị đơn đã giao một phần
tiền cho nguyên đơn, nhận đất và trực tiếp quản lý, sử dụng đất trong thời gian dài,
đồng thời đầu tư cải tạo đất, trồng cây lâu năm và đào vét, mở rộng ao làm tăng giá
trị quyền sử dụng đất. Mặc dù gia các bên đã phát sinh tranh chấp từ năm 2016, bị
đơn vẫn tiếp tục đầu tư thêm cây trồng trên đất; nguyên đơn cũng thừa nhận đã biết
việc bị đơn sử dụng, đầu tư trên đất, thậm chí có thời gian đồng ý cho bị đơn tiếp tục
sử dụng đất nhưng không biện pháp ngăn chặn kịp thời. Xét thấy toàn bộ cây
trồng và chi phí cải tạo ao đều do bị đơn đầu tư, tạo lập trong quá trình quản lý, sử
dụng đất, làm gia tăng giá trị quyền sử dụng đất và là tài sản gắn liền với đất, không
thể di dời. vậy, khi giao lại đất cho nguyên đơn quản lý, sử dụng thì cần buộc
nguyên đơn hoàn trả giá trị tài sản này cho bị đơn nhằm bảo đảm công bằng, phù
hợp với quy định của pháp luật. Theo kết quả định giá, tổng giá trị cây trồng và chi
phí đào vét, cải tạo ao 299.028.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn xác
định không yêu cầu bồi thường thêm về chênh lệch giá đất tự nguyện giảm một
phần yêu cầu, đồng ý rút số tiền 20.000.000 đồng, chỉ yêu cầu nguyên đơn thanh
toán số tiền 279.028.000 đồng. Xét thấy việc giảm số tiền bồi thường giá trị tài sản
trên đất của bị đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật lợi
cho việc giải quyết vụ án nên cần chấp nhận.
[2.5]. Đối với kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại
do hợp đồng hiệu gây ra, bao gồm thiệt hại về kinh tế do không thể canh tác t
năm 2015 và thiệt hại về danh dự, uy tín:
Đối với kháng cáo của nguyên đơn liên quan đến buộc bđơn phải bồi thường
thiệt hại do nguyên đơn không được canh tác từ năm 2015 đến nay. Buộc bị đơn phải
bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do xúc phạm danh dự, nhân phẩm của nguyên
đơn là các nội dung yêu cầu ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, nên theo nguyên tắc hai
cấp xét xử, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
[2.6]. Vnội dung kháng nghị bổ sung của đại diện Viện kiểm sát tại phiên
toà: Bản án sơ thẩm nội dung tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn,
buộc bị đơn trả toàn bộ diện tích đất; tuy nhiên lại tuyên không chấp nhận yêu cầu
đối với phần diện tích 2.543,1m² là mâu thuẫn, không bảo đảm tính thống nhất của
phán quyết, chưa phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự. Ngoài ra, việc buộc
nguyên đơn chịu 300.000 đồng án phí đối với phần yêu cầu không được chấp nhận
không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Do vậy, chấp nhận một
phần kháng nghị bổ sung của Viện kiểm sát tại phiên toà để sửa bản án thẩm,
tuyên lại cho đúng quy định pháp luật.
[3]. Từ nhng phân tích trên, xét thấy căn cứ bác toàn bộ kháng cáo của
nguyên đơn; chấp nhận một phần kháng nghị của kiểm sát đối với nội dung bổ sung
tại phiên tòa, chấp nhận sự tự nguyện giảm số tiền bồi thường cây trồng 20.000.000
đồng của bị đơn. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 50 ngày 19-12-2025 của TAND vực
8 - Lâm Đồng.
[4]. Về chi phí tố tụng: Bao gồm chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí
định giá tài sản với số tiền 17.020.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp 10.020.000 đồng,
bị đơn đã nộp 7.000.000 đồng. Do yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng của nguyên
đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng, buộc bị đơn phải
hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 10.020.000 đồng.
[5]. Về án phí dân sự thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không
được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án pkhông giá ngạch với số tiền
300.000 đồng đối với Hợp đồng chuyển nhượng bị tuyên bố hiệu; Nguyên đơn là
người phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với số tiền 279.028.000 đồng và số tiền
chuyển nhượng đất ban đầu 14.000.000 đồng nên phải chịu án phí giá ngạch
với số tiền 14.651.000 đồng. Tổng cộng nguyên đơn phải chịu án phí dân sự thẩm
là 14.951.000 đồng
[6]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự:
Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của Thị L ông Phùng Ngọc T;
chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8
- Lâm Đồng bổ sung tại phiên tòa. Sửa mt phần bản án dân sự thẩm số:
50/2025/DS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lâm
Đồng.
Áp dụngĐiều117, Điều 122, Điều 127, Điều 128, Điều 137, Điều 401luật2005;
Điều 167 Điều 188 của Luật đai 2013; Điều 147, Điều 148 của Bluật tố tụng
dân sự 2015; Nghịquyếtsố 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng
án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị L ông
Phùng Ngọc T.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập bằng miệng
năm 2014 gia ông Phùng Ngọc T Nguyễn Mộng H để chuyển nhượng diện
tích 2.931,6m
2
(trong đó có 388,5m
2
đất ao), tại khu V, thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh
Đắk Nông (cũ), naythôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng vô hiệu.
Thị L ông Phùng Ngọc T phải hoàn trả cho bà Nguyễn Mộng H số
tiền 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng).
Buộc bà Nguyễn Mộng H phải hoàn trả cho bà Lê Thị L và ông Phùng Ngọc
T diện tích đất 2.931,6m
2
(trong đó 388,5m
2
đất ao), địa chỉ tại khu V, thôn Đ,
xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), nay là thôn Đ, xã Đ, tỉnh Lâm Đồng; có tứ cận
như sau:
Phía Bắc giáp suối, cạnh dài 58m;
Phía Nam giáp đất ông Phùng Ngọc T và bà Lê Thị L, cạnh dài 69m;
Phía Đông giáp đất ông Nguyễn Thanh H2, cạnh dài 56m;
Phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn D1, cạnh dài 28m.
( hiện tại mảnh trích đo địa chính số 70-2024 do Chi nhánh Văn phòng Đ
duyệt ngày 02/4/2024).
Tạm giao cho bà Lê Thị L và ông Phùng Ngọc Thanh quản L1, sử dụng toàn
bộ cây trồng ao tưới nước gắn liền trên đất diện tích đất 2.931,6m
2
theo quy
định pháp luật đất đai.
(Thể hiện tại các biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15 tháng 12 năm
2023 và biên bản xem xét thẩm định tại chỗ bổ sung ngày 01 tháng 8 năm 2025)
Buộc Thị L ông Phùng Ngọc T phải thanh toán cho Nguyễn Mộng
H giá trị cây trồng chi phí đào vét, múc ao với số tiền 279.028.000 đồng (Hai
trăm bảy mươi chín triệu không trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nêu trên, người phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357 Điều 468 của Bộ luật sự 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại
thời điểm thanh toán.
1. Về chi phí tố tụng: Buộc Nguyễn Mộng H phải hoàn trả cho Thị L
ông Phùng Ngọc T chi phí tố tụng với số tiền 10.020.000 đồng (Mười triệu
không trăm hai mươi nghìn đồng).
2. Về án phí dân sự thẩm: Thị L ông Phùng Ngọc T phải chịu
14.951.000 đồng (Mười bốn triệu chín trăm năm mươi mốt nghìn đồng), được
khấu trừ số tiền tạm ứng án p300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp
theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002065 ngày 01/6/2020
của Chi cục hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (cũ), nay là Thi hành án
dân sự tỉnh Lâm Đồng. Thị L ông Phùng Ngọc T còn phải chịu
14.651.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Hoàn trả cho Thị L ông Phùng Ngọc T
300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp tạm ứng theo biên lai số 0000975
ngày 14/01/2026 tại Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng.
Đối với những quyết định khác của bản ánthẩm không bị kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật hành án dân sự
thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 79 Luật hành án dân sự, thời hiệu
thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật hành án dân sự
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký tên, đóng dấu)
Dương Hà Ngân
Tải về
Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 222/2026/DS-PT Bản án số 222/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất