Bản án số 343/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 343/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 343/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 343/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: ông T khởi kiện yêu cầu bà C và ông T1 trả 1.150.000.000 đồng tiền mượn, 1.624.810.000 đồng tiền hụi mua và tiền vốn nguyên đơn thực đóng 926.762.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông T đơn xin rút lại yêu cầu trả số tiền 926.762.000 đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 343/2026/DS-PT
Ngày 06 5 2026
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và tranh chấp hụi
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Cao Khánh
Ông Lê Phan Công Trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà Lê
Thị Màu Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 97/2026/TLPT-DS ngày 11 tháng 3 năm
2026 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp hụi.
Do bản án dân sự thẩm số: 08/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 265/2026/QĐ-PT ngày 26
tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Dương Văn T, sinh năm 1967 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: 096067014612 do Cục Cảnh sát quản hành chính về
Trật tự xã hội cấp ngày 09/8/2021.
2. Bà Châu Thị H, sinh năm 1967 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: 096167002479 do Cục Cảnh sát quản hành chính về
Trật tự xã hội cấp ngày 14/8/2021.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Nay là: Ấp N, xã C,
tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của ông Dương Văn T: Ông Tăng Tấn
L, sinh năm 1990; địa chỉ trú: Số A, đường Q, khóm E, phường T, tỉnh Mau
(Có đơn xin vắng mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Dương Thị C, sinh năm 1975 (Có mặt);
2
Căn cước công dân số: 096175000850 do Cục Cảnh sát quản hành chính về
Trật tự xã hội cấp ngày 20/4/2021.
2. Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm 1964 (Có mặt);
Căn cước số: 096064007609 do Bộ C1 cấp ngày 05/12/2024.
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C Mỹ B, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nay là: Ấp C
Mỹ B, xã N, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
1. Bà Trần Thị L1 (Vắng mặt);
2. Ông Tạ Văn Đ (Vắng mặt);
3. Chị Nguyễn Thu N (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp C Mỹ B, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Nay là: Ấp C
Mỹ B, xã N, tỉnh Cà Mau.
3. Chị Dương Thị D (Vắng mặt);
Địa chỉ trú: Ấp N, T, huyện C, tỉnh Mau. Nay là: Ấp N, C, tỉnh
Cà Mau.
- Người kháng o: Bà Dương Thị C và ông Nguyễn Minh T1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của ông Dương Văn T và bà Châu Thị H trình bày:
Khoảng năm 2020, vợ chồng Dương Thị C ông Nguyễn Minh T1 mở
hụi và làm chủ hụi, ông T có tham gia nhiều dây hụi. Do bà C là em ruột ông T nên
tin tưởng và không đi khui hụi, chỉ điện thoại nhờ bỏ hụi dùm và thấy lợi nhuận cao
nên mua nhiều chưng hụi, tổng cộng ông bà tham gia và mua 11 dây gồm 54 chưng
(trong đó mua 19 chưng và tham gia 35 chưng) cụ thể:
1. Hụi 3.000.000 đồng, gồm 42 chưng, mngày 30/02/2021 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia 06 chưng, hốt 05 chưng, còn 01 chưng hụi sống đã đóng 37
kỳ bằng 63.100.000 đồng.
Ông T mua 03 chưng vào ngày 30/02/2021 âl, số tiền 84.000.000 đồng; ngày
30/3/2021 âl, số tiền 84.180.000 đồng; ngày 30/10/2021 âl, số tiền 83.500.000 đồng.
Tổng cộng 251.680.000 đồng
2. Hụi 3.000.000 đồng, gồm 40 chưng, mở ngày 15/4/2023 âl, 01 tháng khui
02 lần, ông T tham gia 02 chưng, còn 02 chưng hụi sống đã đóng 21 kỳ bằng
81.920.000 đồng.
Ông T mua 03 chưng vào ngày 30/4/2023 âl, số tiền 84.900.000 đồng x 2 =
169.800.000 đồng; ngày 15/5/2023 âl, s tiền 83.140.000 đồng. Tổng cộng
252.940.000 đồng
3. Hụi 2.000.000 đồng, gồm 48 chưng, mngày 15/10/2020 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia 04 chưng, hốt 01 chân kỳ thứ 38, còn 03 chưng hụi sống đóng
42 kỳ bằng 160.020.000 đồng.
3
Ông T mua 01 chưng vào ngày 15/10/2020 âl, số tiền 67.200.000 đồng
4. Hụi 3.000.000 đồng, gồm 52 chưng, mngày 30/01/2022 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia 04 chưng, còn 04 chưng hụi sống đóng 26 kỳ bằng
182.440.000 đồng.
Ông T mua 02 chưng vào ngày 30/5/2022 âl, số tiền 103.200.000 đồng; ngày
30/6/2022 âl, số tiền 104.300.000 đồng. Tổng cộng 207.500.000 đồng
5. Hụi 3.000.000 đồng, gồm 50 chưng, mở ngày 30/11/2022 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia 05 chưng hụi sống đóng 16 kỳ bằng 142.350.000 đồng.
Ông T mua 04 chưng vào ngày 30/11/2022 âl, số tiền 95.000.000 đồng x 3 =
285.000.000 đồng; ngày 30/3/2023 âl, s tiền 90.200.000 đồng. Tổng cộng
375.200.000 đồng
6. Hụi 2.000.000 đồng, gồm 43 chưng, mở ngày 30/7/2022 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia 03 chưng, hốt 01 chưng kỳ thứ 19, còn 02 chưng hụi sống
đóng 20 kỳ bằng 52.900.000 đồng.
Ông T mua 01 chưng vào ngày 30/9/2022 âl, số tiền 55.690.000 đồng
7. Hụi 2.000.000 đồng, gồm 45 chưng, mở ngày 15/6/2022 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia 02 chưng hụi sống đóng 22 kỳ bằng 59.000.000 đồng.
8. Hụi 3.000.000 đồng, gồm 40 chưng, mở ngày 15/3/2023 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia 05 chưng hụi sống đóng 12 kỳ bằng 110.000.000 đồng.
Ông T mua 02 chưng vào ngày 15/3/2023 âl, số tiền 74.900.000 đồng x 2 =
149.800.000 đồng
9. Hụi 3.000.000 đồng, gồm 46 chưng, mở ngày 15/7/2023 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia 02 chưng hụi sống đóng 08 kỳ bằng 29.000.000 đồng.
10. Hụi 5.000.000 đồng, gồm 40 chưng, mở ngày 30/01/2023 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia 01 chưng hụi sống đóng 14 kỳ bằng 45.850.000 đồng.
Ông T mua 01 chưng vào ngày 30/02/2023 âl, số tiền 141.500.000 đồng.
11. Hụi 2.000.000 đồng, gồm 45 chưng, mở ngày 15/9/2022 âl, 01 tháng khui
02 lần, ông T tham gia 01 chưng, hốt kỳ thứ 32.
Ông T mua 02 chưng vào ngày 15/9/2022 âl, số tiền 62.550.000 đồng x 2=
125.100.000 đồng
Tổng 11 dây hụi trên, số tiền mua hụi bằng 1.624.810.000 đồng; tiền vốn thực
đóng 926.762.000 đồng.
Ngoài ra, vợ chồng C có mượn của vợ chồng ông T số tiền 1.150.000.000
đồng.
Đến đầu năm 2024, ông T hốt 04 chưng hụi (trong đó mua 03 chưng và 01
chưng sống) của dây hụi 42 chưng, chết 37 chưng, còn lại 05 chưng nhưng C
không cho hốt. Đến ngày 22/02/2024 âl, C cho rằng đã tự ý hốt 09 chưng hụi của
ông T để trả nợ cá nhân nhưng ông T không đồng ý. Từ đó phát sinh tranh chấp, n
4
thân tộc tổ chức cuộc họp ngày 30/3/2024 nội dung bà C, ông T1 nợ ông T
1.150.000.000 đồng tiền mượn 1.624.810.000 đồng tiền hụi mua thỏa thuận
thanh toán trong thời hạn 03 năm, mỗi năm thanh toán 1.000.000.000 đồng nhưng
đến nay không thực hiện.
Do đó, ông T khởi kiện yêu cầu C ông T1 trả 1.150.000.000 đồng tiền
mượn, 1.624.810.000 đồng tiền hụi mua tiền vốn nguyên đơn thực đóng
926.762.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông T đơn xin rút lại
yêu cầu trả số tiền 926.762.000 đồng.
- Theo bà Dương Thị C trình bày:
mở hụi làm chủ hụi nhiều năm, ông T tham gia nhiều dây hụi thời
gian đã hơn 20 năm, đã mãn nhiều dây. Đến năm 2024, bà khởi kiện vợ chồng ông
Đỗ Thanh N1, Huỳnh Thị Thúy N2 đòi tiền vay, tiền hụi tổng 5.262.000.000 đồng
theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận số 80/2024/QDST-DS ngày 31/5/2024 của
Tòa án nhân dân huyện Năm Căn. Khi ông T nghe tin bà kiện vợ chồng ông N1 thì
ông T xuống bỏ hốt 10 chưng hụi số tiền khoảng trên 1 tđồng, đã giao đủ cho
ông T. Sau đó, ông T bỏ hết các chưng mới tham gia nhưng kết nợ hụi mua
1.650.000.000 đồng và tiền mượn 1.150.000.000 đồng.
Tuy nhiên, số tiền mượn 1.150.000.000 đồng ông T đưa cho bà để cho người
khác vay, i suất ông T quy định 19.000.000 đồng/tháng/500.000.000 đồng. Sau đó,
bà cho ông Đỗ Thanh N1 vay 650.000.000 đồng vào tháng 10/2018, đã đóng lãi 05
tháng bằng 95.000.000 đồng. Số tiền lãi còn lại ông N1 không trả nên đã trả lãi
thay cho ông N1 tổng 59 tháng bằng 1.026.000.000 đồng, số tiền này ông T lấy đóng
hụi chết sống cho các dây hụi ông T đang tham gia. đưa cho Trần Thị L1
và chồng Tạ Văn Đ vay 500.000.000 đồng vào tháng 3/2021, vợ chồng bà L1 trả lãi
02 tháng bằng 38.000.000 đồng; tiền lãi còn lại bà L1 không đóng, nên trả lãi thay
cho bà L1 tổng 33 tháng bằng 627.000.000.000 đồng, số tiền này lấy đóng hụi chết
sống cho các dây hụi ông T đang tham gia. Tổng tiền lãi đã trả cho ông T bằng
1.786.000.000 đồng. Phần lãi này bà trả lãi thay từ năm 2019, ông T tham gia rất
nhiều chưng, các chưng đã mãn và đã kết thúc hợp đồng từ khi lập biên bản họp gia
đình ngày 30/3/2024. Từ đó, danh sách hụi đã thay tên ông T, không còn giữ giấy
hụi nên không thể khai cụ thể đã đóng hụi dùm cho ông T bao nhiêu
chưng, dây hụi nào và bằng bao nhiêu tiền của từng dây, từng chưng.
Nay đồng ý trả phần hụi mua tổng 1.650.000.000 đồng. Đối với số nợ
1.150.000.000 đồng yêu cầu xem xét số lãi suất đã trả và xin trả 500.000.000 đồng.
Đối với số tiền 27 chưng hụi sống tổng 926.762.000 đồng do ông T kiện,
xác định không có nợ ông T số tiền này. Lý do khi lập biên bản họp gia đình là hai
bên đã chốt nợ từ ngày 30/3/2024, lúc này một số chưng hụi sống ông T mới tham
gia góp khoảng 20 chưng bao gồm nhiều dây hụi, ông T đóng hụi từ 6 kỳ trở lại
nhưng sau khi chốt nợ đã hủy bỏ hết các giấy hụi, sổ hụi này nên không nhớ,
không còn chứng cứ để cung cấp cho Tòa án.
Ngoài ra, có chuyển khoản trả cho ông T cụ thể: Dương Thị C chuyển
khoản cho chị Dương Thị D (con ông T) số tiền 27.000.000 đồng; con ch
5
Nguyễn Thu N chuyển khoản cho Dương Thị Diễm H1 lần số tiền 160.000.000 đồng
và 100.000.000 đồng. Như vậy, tổng trả 287.000.000 đồng yêu cầu đối trừ vào tiền
vay.
tràng hụi chết cho ông Tòa tổng 194.000.000 đồng nhưng do hụi mãn
thời gian đã lâu n không còn giấy hụi để cung cấp cho Tòa án. Các dây hụi cụ thể:
Dây hụi 3.000.000 đồng, gồm 42 chưng, mở ngày 30/02/2021 âl, 01 tháng
khui 01 lần, ông T tham gia 06 chưng, hốt 06 chưng. tràng hụi 6 chưng x
3.000.000 đồng x 6 kỳ = 108.000.000 đồng cho đến mãn.
Dây hụi 2.000.000 đồng, gồm 48 chưng, mở ngày 15/10/2020 âl, 01 tháng
khui 01 lần, ông T tham gia mấy chưng không nhớ. tràng hụi 01 chưng x
2.000.000 đồng x 7 kỳ = 14.000.000 đồng đến mãn.
Dây hụi 5.000.000 đồng mở 15/01/2021âl gồm 40 chưng, ông T tham gia 01
chưng, đã hốt; tràng 1 chưng x 5.000.000 đồng x 2 kỳ = 10.000.000 đồng đến
mãn.
Dây hụi 2.000.000 đồng, gồm 43 chưng, mngày 30/7/2022 âl, 01 tháng khui
01 lần, ông T tham gia mấy chưng không nhớ. tràng hụi 01 chưng x 2.000.000
đồng x 23 kỳ = 46.000.000 đồng đến mãn.
Dây hụi 2.000.000 đồng, gồm 45 chưng, mngày 15/9/2022 âl, 01 tháng khui
02 lần, ông T tham gia mấy chưng không nhớ. tràng hụi 01 chưng x 2.000.000
đồng x 8 kỳ = 16.000.000 đồng đến mãn.
Ông T còn nợ 10.000.000 đồng tiền hụi do ông T tham gia dùm người khác,
nhưng không biết rõ hụi gì và tham gia dùm cho ai.
- Theo ông Nguyễn Minh T1 trình bày:
Ông thống nhất lời trình bày trên của bà Dương Thị C đúng. Ngoài ra ông
xác định theo biên bản họp gia đình thỏa thuận cho vợ chồng ông trả 03 năm nhưng
chưa đến 03 năm đi kiện là không đúng, ông đồng ý tính đến thời điểm đi kiện. Số
tiền 1.150.00.000 đồng ông không biết, đến khi họp gia đình ông mới biết số nợ này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 08/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm 2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 5 – Cà Mau quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T và bà Châu Thị H khởi
kiện yêu cầu Dương Thị C, ông Nguyễn Minh T1 giao trả 1.150.000.000 đồng
tiền mượn, 1.624.810.000 đồng tiền mua hụi, tổng phải trả 2.774.810.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T Châu Thị H yêu cầu
Dương Thị C, ông Nguyễn Minh T1 giao trả 926.762.000 đồng tiền nợ hụi.
- Buộc bà Dương Thị C, ông Nguyễn Minh T1 phải có nghĩa vụ hoàn trả cho
ông Dương Văn T và bà Châu Thị H tổng số tiền 2.774.810.000 đồng.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên vlãi suất chậm trả, án phí quyền kháng
cáo của đương sự.
6
Ngày 09/02/2026, Dương Thị C ông Nguyễn Minh T1 đơn kháng
cáo, yêu cầu sửa một phần bản án thẩm: Số tiền 1.150.000.000 đồng xin được
giảm, chỉ trả cho ông T và bà H 500.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Dương Thị C ông Nguyễn Minh T1 giữ
nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông T1 và C giữ nguyên nội dung yêu cầu kháng cáo, không ý kiến
tranh luận thêm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của B
luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Dương Thị C ông Nguyễn
Minh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của Dương Thị C ông Nguyễn Minh T1, Hội đồng xét
xử xét thấy:
[1] Ông Dương Văn T Châu Thị H khởi kiện yêu cầu Dương Thị C
ông Nguyễn Minh T1 trả số tiền hụi 1.624.810.000 đồng số tiền mượn
1.150.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, ông T bà H cung cấp
chứng cứ là Biên bản họp gia đình ngày 30/3/2024. Tại Biên bản họp gia đình ngày
30/3/2024 có nội dung thể hiện:
“Ông Dương Văn TChâu Thị H đã cho Nguyễn Minh T2Dương Thị C
mượn số tiền 1.150.000.000 đồng, tiền hụi mua 1.650.000.000 đồng. Tổng cộng
số tiền đã thiếu là 2.800.000.000 đồng.
Ông Nguyễn Minh T2 Dương Thị C cam kết sẽ trả số tiền trên cho
Dương Văn T Châu Thị H trong thời gian 03 năm (mỗi năm trả 1 tỷ cho đến khi
trả hết). Thời gian tính bắt đầu từ ngày ghi biên bản này…).
Biên bản có ông T, bà H, bà C, ông T1 và những người cùng tham dự ký tên.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, C và ông T1 thừa nhận nội dung Biên bản
họp gia đình ngày 30/3/2024 do ông T H cung cấp đúng, thừa nhận
tên trong biên bản. Đây tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại
khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Đối với khoản nợ tiền hụi 1.624.810.000 đồng, bà C và ông T1 thừa nhận
nợ đồng ý trả cho ông T H. Do đó, Toà án cấp thẩm buộc C và ông
T1 trả cho ông T và bà H số tiền hụi còn nợ 1.624.810.000 đồng là có căn cứ. Bà C
ông T1 cũng không kháng cáo đối với số tiền này nên cấp phúc thẩm không
đặt ra xem xét.
[4] Đối với số tiền mượn 1.150.000.000 đồng, bà C ông T1 thừa nhận
nhận tiền của ông T và H, nhưng cho rằng số tiền này ông T H đưa cho ông
7
để cho người khác vay, đã trả lãi cho ông T và H tổng stiền là 1.786.000.000
đồng, ông đóng hụi thay cho ông T và bà H. Quá trình giải quyết vụ án, phía ông
T H không thừa nhận sự việc như C ông T1 trình bày, C ông T1
không chứng minh nên không sở để chấp nhận. Do C ông T1 đã nhận
của ông T và H số tiền 1.150.000.000 đồng, nên Toà án cấp thẩm buộc C
ông T1 trả cho ông T và H số tiền 1.150.000.000 đồng căn cứ. Đối với
kháng cáo của bà C và ông T1 xin trả số tiền bằng 500.000.000 đồng, do phía ông T
và bà H không đồng ý nên không có cơ sở để chấp nhận.
[5] Xét trình bày của C ông T1 không căn cứ chấp nhận, bởi lẽ:
Theo biên bản họp gia đình ngày 30/3/2024 có thoả thuận mỗi năm bà C và ông T1
trả cho ông T và bà H là 1.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, do C ông T1 vi phạm
nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận, nên ông T và bà H khởi kiện yêu cầu C và
ông T1 nghĩa vụ thanh toán toàn bkhoản nợ theo biên bản họp gia đình ngày
30/3/2024 là có căn cứ.
[6] Từ nhận định trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo bà Dương
Thị C và ông Nguyễn Minh T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Bà C phải chịu 300.000 đồng, đã dự nộp được
đối trừ chuyển thu án phí. Ông T1 người cao tuổi nên được miễn chịu án phí (đã
đưc min d np).
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo bà Dương Thị C và ông Nguyễn Minh T1.
Giữ nguyên bản án dân sự thẩm số: 08/2026/DS-ST ngày 27 tháng 01 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T và bà Châu Thị H.
Buộc bà Dương Thị C và ông Nguyễn Minh T1 trả cho ông Dương Văn T
Châu Thị Hồng K nợ tiền mượn 1.150.000.000 đồng tiền hụi
1.624.810.000 đồng, tổng cộng là 2.774.810.000 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T Châu Thị H yêu cầu
Dương Thị Công Nguyễn Minh T1 trả số tiền 926.762.000 đồng.
Kể từ ngày ông T H đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án
xong khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng bà C và ông T1 còn phải chịu thêm khoản
8
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật dân sự.
- Án phí dân sự thẩm: Dương Thị C phải chịu 43.748.100 đồng. Ông
Nguyễn Minh T1 được miễn chịu án phí. Ông Dương Văn T Châu Thị H không
phải chịu án phí. Ông T H đã dnộp 53.015.720 đồng theo biên lai thu số
0014450 ngày 09/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Năm Căn (nay
Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5 – Cà Mau) được nhận lại.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Minh T1 được miễn chịu án phí.
Dương Thị C phải chịu 300.000 đồng. Ngày 09/02/2026, C đã dự nộp 300.000
đồng theo biên lai thu số 0001573 của Thi hành án dân sự tỉnh Mau được đối trừ
chuyển thu án phí.
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng o, kháng nghị hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 5- Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 5- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Bản án số 343/2026/DS-PT Bản án số 343/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 343/2026/DS-PT Bản án số 343/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất