Bản án số 116/2026/HS-PT ngày 15/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 116/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 116/2026/HS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 116/2026/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 116/2026/HS-PT ngày 15/04/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đồng Nai |
| Số hiệu: | 116/2026/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | P đã 08 lần lén lút đi vào phòng bà V (phòng không khóa cửa), dùng tay đưa vào khe hở của cánh cửa tủ (tủ bằng sắt, cánh cửa đã bị hư cong vênh từ trước) lục trong giỏ xách lấy trộm 39 nhẫn vàng và 01 sợi dây chuyền vàng, tương đương 81 chỉ vàng 24K và 2,01 chỉ vàng 98%; cụ thể |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 116/2026/HS-PT
Ngày 15 - 4 - 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Thanh;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành;
Bà Đinh Thị Kiều Lương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Trìu A Sám - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét
xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 42/2026/TLPT-HS
ngày 11 tháng 02 năm 2026; do có kháng cáo của bị cáo Thòng Văn P, đối với
Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2026/HS-ST ngày 09-01-2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 7 - Đồng Nai;
- Bị cáo có kháng cáo: Thòng Văn P, sinh ngày 02 tháng 5 năm 2005 tại
tỉnh Đồng Nai; Căn cước công dân số: 075205014718; nơi đăng ký thường trú:
Ấp P, xã P, tỉnh Đồng Nai; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn
hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Hoa; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con
ông Thòng A C và bà TSằn A V; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú ngày
07/6/2025, bị tạm giữ, tạm giam cho đến nay; hiện nay, đang bị tạm giam tại Trại
Tạm giam số 1 - Công an tỉnh Đ; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Thòng Văn P:
1. Ông Nguyễn Ngọc P1 và ông Hoàng Văn T, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư
tỉnh Đ; nơi làm việc: Văn phòng Luật sư Nguyễn Ngọc P1; địa chỉ: Số C, đường
N, ấp H, xã Đ, tỉnh Đồng Nai; ông T có mặt tại phiên tòa;

2
2. Ông Lê Việt D và bà Võ Thị H, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố
H; nơi làm việc: Công ty L1; địa chỉ: Tầng trệt, Số H, Đường A, khu N, phường
H, Thành phố Hồ Chí Minh; bà H có mặt tại phiên tòa.
- Ngoài ra, vụ án còn có bị hại và những người tham gia tố tụng khác,
không có kháng cáo, không có kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nội dung chính:
Quá trình sinh sống cùng gia đình, Thòng Văn P biết cha mẹ ruột là bà T1
A V và ông Thòng A C cất vàng (nhẫn, dây chuyền) ở trong 01 cái giỏ, để trong
tủ quần áo ở phòng của vợ chồng bà V. Vào khoảng giữa tháng 5/2025, P tham
gia chơi đánh bạc trực tuyến thắng thua bằng tiền thông qua trang mạng xã hội.
Để có tiền đánh bạc, P nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của bà V và ông C. Từ
ngày 26/5/2025 đến ngày 05/6/2025, lợi dụng những lúc bà V ngủ ở võng ngoài
phòng khách, P đã 08 lần lén lút đi vào phòng bà V (phòng không khóa cửa), dùng
tay đưa vào khe hở của cánh cửa tủ (tủ bằng sắt, cánh cửa đã bị hư cong vênh từ
trước) lục trong giỏ xách lấy trộm 39 nhẫn vàng và 01 sợi dây chuyền vàng, tương
đương 81 chỉ vàng 24K và 2,01 chỉ vàng 98%; cụ thể: Sáng ngày 26/5/2025, P lấy
trộm 05 nhẫn vàng loại 02 chỉ; chiều ngày 27/5/2025, P lấy trộm 10 nhẫn vàng
loại 02 chỉ; chiều ngày 28/5/2025, P lấy trộm 05 nhẫn vàng loại 02 chỉ; chiều ngày
29/5/2025, P lấy trộm 10 nhẫn vàng loại 02 chỉ; chiều ngày 01/6/2025, P lấy trộm
01 nhẫn vàng loại 03 chỉ; chiều ngày 02/6/2025, P lấy trộm 04 nhẫn vàng loại 01
chỉ và 02 nhẫn vàng loại 02 chỉ; chiều ngày 03/6/2025, P lấy trộm 02 nhẫn vàng
loại 03 chỉ; chiều ngày 05/6/2025, P lấy trộm 01 dây chuyền vàng trọng lượng
2,01 chỉ. Sau khi lấy trộm số tài sản nêu trên, P mang đến bán tại tiệm vàng “T”
và tiệm V1”, thuộc xã P, tỉnh Đồng Nai. Ngày 07/6/2025, ông Thòng A C đến
Công an trình báo sự việc gia đình bị trộm cắp tài sản; cùng ngày, Thòng Văn P
đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Căn cứ bảng kê mua bán vàng của các tiệm V1 và T L cùng lời khai nhận
tội của P, xác định số tiền P bán vàng do lấy trộm của vợ chồng bà V là
853.303.000 đồng. Số tiền này P đã tiêu xài hết, gồm:
- P đã dùng 150.000.000 đồng để trả nợ cá nhân cho một người bạn quen
biết xã hội tên thường gọi là Tí nhà ở khu vực xã P, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan điều
tra đã tiến hành xác minh và Thông báo truy tìm nhưng chưa có kết quả.
- Đối với số tiền còn lại khoảng 703.303.000 đồng, P đã nạp tiền vào tài
khoản đánh bạc trực tuyến và thua hết. Để thực hiện hành vi đánh bạc, P sử dụng

3
điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 màu đen (không rõ Imel) để sử
dụng làm công cụ đánh bạc trực tuyến qua mạng xã hội, bằng cách truy cập đường
link trên ứng dụng Google tại trang Web:vn6vip6692.com, sau khi đăng nhập,
ứng dụng gửi cho P số tài khoản để P nạp tiền vào và tạo, đăng ký tài khoản đánh
bạc tên "vanphuc020520025" có ID: 23528863, để tham gia đánh bạc. P đánh bạc
là loại bài Baccarat, mỗi lần đánh bạc P đặt cược từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000
đồng/01 lần, quá trình chơi có ván thắng ván thua. Để tham gia đánh bạc, P phải
nạp tiền vào tài khoản ngân hàng, qua đó người quản lý trò chơi trên ứng dụng
(không rõ lai lịch) gửi cho P số tài khoản ngân hàng trên ứng dụng; sau đó, P đến
cửa hàng V2, để chuyển tiền vào số tài khoản ngân hàng, để quy đổi thành điểm
chơi. Sau mỗi lần chuyển tiền xong, do sợ bị Công an phát hiện, P đã xóa mọi tin
nhắn liên quan việc chuyển tiền, P không nhớ được số tài khoản ngân hàng đã
chuyển tiền; trong điện thoại của P cũng không còn lưu trữ (điện thoại P đã bán
lại cho T2 với số tiền 3.000.000 đồng, chưa thu hồi được). Tài khoản
"vanphuç020520025" của P do hiện tại đã thua hết tiền không tiếp tục nạp tiền
nên hệ thống tự động khóa, không thể đăng nhập được. Tiến hành xác minh giao
dịch tại chi nhánh C1, cho biết: Không xác định được trong thời gian từ ngày
26/5/2025 đến ngày 07/6/2025, Thòng Văn P đến cửa hàng thực hiện giao dịch
chuyển tiền. Quy trình thực hiện chuyển tiền nhanh cửa hàng cũng không yêu cầu
khách hàng cung cấp Căn cước công dân hoặc giấy tờ tùy thân khác, nên không
xác định được giao dịch chuyển tiền cụ thể của khách hàng. Vì lý do bảo mật
thông tin khách hàng và không xác định được thông tin cụ thể khách hàng thực
hiện giao dịch nên của hàng V2 từ chối cung cấp số tài khoản ngân hàng của khách
hàng thực hiện giao dịch.
2. Vật chứng vụ án:
20 nhẫn kim loại màu vàng, có ký hiệu Thanh Bình Long 99.0% loại 02
chỉ; 01 dây chuyền kim loại màu vàng, có ký hiệu riêng của tiệm V1, tên kiểu
thường gọi là "Dây mè", trọng lượng 2.01 chỉ; 03 nhẫn kim loại màu vàng, có ký
hiệu Thanh Bình Long 99.0% loại 01 chỉ; 01 nhẫn kim loại màu vàng, có ký hiệu
Thanh Bình 99.0% loại 01 chỉ; 12 nhẫn kim loại màu vàng, có ký hiệu Thanh Bình
Long 99.0% loại 02 chỉ; 01 nhẫn kim loại màu vàng, có ký hiệu Thanh Bình Long
99.0% loại 03 chỉ; 02 nhẫn kim loại màu vàng, có ký hiệu Thanh Bình L 99.0%
loại 05 chỉ. Tổng số tài sản là 83,01 chỉ, tất cả đều là kim loại màu vàng 24K, 01
dây chuyền là kim loại màu vàng 98%.
3. Kết luận giám định - định giá:

4
3.1. Tại Bản kết luận giám định ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Sở Khoa
học và Công nghệ tỉnh Đồng Nai, xác định:
Đối với mẫu vật trong phong bì ký hiệu A, gồm: 01 dây chuyền kim loại
màu vàng (kiểu thường gọi Dây Mè) có ký hiệu tiệm V1; 20 nhẫn kim loại màu
vàng có ký hiệu Thanh Bình L 99.0% loại 02 chỉ.
Đối với mẫu vật trong phong bì ký hiệu B, gồm: 03 nhẫn kim loại màu
vàng, có ký hiệu Thanh Bình Long 99.0% loại 01 chỉ; 01 nhẫn kim loại màu vàng,
có ký hiệu Thanh Bình 99.0% loại 01 chỉ; 12 nhẫn kim loại màu vàng, có ký hiệu
Thanh Bình Long 99.0% loại 02 chỉ; 01 nhẫn kim loại màu vàng, có ký hiệu Thanh
Bình L 99.0% loại 03 chỉ và 02 nhẫn kim loại màu vàng, có ký hiệu Thanh Bình
L 99.0% loại 05 chỉ.
Hàm lượng vàng của mẫu vật; Khối lượng mẫu vật và S phiếu kết quả thử
nghiệm của từng mẫu vật nêu trên được nêu cụ thể tại nội dung Bản kết luận giám
định.
3.2. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 33/KL-HĐĐGTS ngày 16 tháng
6 năm 2025 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, xác
định: Tổng 39 nhẫn vàng và 01 sợi dây chuyền vàng của bà Tsằn A V và ông T3
A C bị lấy trộm có trị giá là: 852.973.100 đồng.
4. Trách nhiệm dân sự:
Ngày 26/9/2025, nhận thấy chủ 02 cơ sở kinh doanh mua bán vàng không
biết tài sản P trộm cắp của gia đình mà có nên ông C - bà V đã tự nguyện khắc
phục hậu quả cho P bằng cách trao trả lại toàn bộ số lượng vàng trên cho 02 chủ
tiệm vàng. Sau khi nhận lại tài sản, các chủ tiệm vàng có đơn yêu cầu giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự đối với P. Các bị hại là bà Tsằn A V và ông Thòng A C không
yêu cầu bồi thường gì thêm.
5. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2026/HS-ST ngày 09-01-2026 của Tòa
án nhân dân khu vực 7 - Đồng Nai, đã quyết định như sau:
- Tuyên bố bị cáo Thòng Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định
tại điểm a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017).
- Xử phạt bị cáo Thòng Văn P 12 (mười hai) năm tù, thời hạn tù tính từ
ngày 07/6/2025.

5
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí hình sự sơ thẩm và
quyền kháng cáo.
6. Kháng cáo:
Bị cáo Thòng Văn P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
7. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
Kiểm sát viên đã đánh giá, phát biểu quan điểm xử lý vụ án; xác định cấp
sơ thẩm xét xử bị cáo bị cáo Thòng Văn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm
a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và
hình phạt là phù hợp. Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng
cứ mới, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo; do đó, đề nghị Hội đồng xét
xử không chấp nhận và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
8. Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm:
Về tội danh và khung hình phạt thống nhất như bản án sơ thẩm đã xác định.
Về hình phạt: Bị cáo phạm tội khi tuổi đời còn rất trẻ nên suy nghĩ rất bồng bột,
nhận thức còn hạn chế; hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, bị cáo phải nuôi dưỡng
cha mẹ già, 02 cháu nhỏ và em ruột bị bệnh tâm thần. Bị cáo có nhiều tình tiết
giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện để áp dụng Điều 54
Bộ luật Hình sự; do đó, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng
áp dụng dưới khung hình phạt và xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tội danh:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Thòng Văn P đã thừa nhận hành vi phạm
tội như bản án sơ thẩm đã nêu; cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo
phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo điểm a khoản 4 Điều 173 của Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2] Về kháng cáo:
2.1. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên;
áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
2.2. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tại cấp sơ thẩm xác định: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị
cáo là người dân tộc và tự nguyện ra đầu thú; tài sản đã thu hồi cho bị hại; tại
phiên tòa sơ thẩm, bị hại trình bày đã nhận bồi thường từ bị cáo và xin giảm nhẹ

6
hình phạt cho bị cáo; áp dụng điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự
năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại cấp phúc thẩm: Không có tình tiết mới.
2.3. Về hình phạt và biện pháp ngăn chặn:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá toàn diện vụ án, xác định tội danh đúng và
hình phạt phù hợp; do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo. Tiếp tục tạm giam
bị cáo Thòng Văn P, để bảo đảm cho công tác thi hành án.
[3] Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Nghị quyết
số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án; bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên.
[5] Người bào chữa đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, để quyết định
dưới khung hình phạt cho bị cáo là không phù hợp với hướng dẫn tại khoản 1 Điều
5 Nghị quyết số: 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao; do đó, đề nghị này không được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1, 2 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thòng Văn P.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2026/HS-ST ngày 09-01-2026
của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đồng Nai.
1. Tội danh và hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017);
Xử phạt bị cáo Thòng Văn P 12 (mười hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài
sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/6/2025.
2. Về biện pháp ngăn chặn:

7
Căn cứ khoản 3 Điều 347 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tiếp tục tạm giam bị cáo Thòng Văn P theo quyết định tạm giam của Hội
đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.
3. Về án phí: Bị cáo Thòng Văn P phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- Bị hại (địa chỉ theo hồ sơ);
- Trại Tạm giam số 1;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- Tòa án nhân dân khu vực 7;
- Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7;
- Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an
tỉnh Đồng Nai;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh
Đồng Nai (PC02);
- Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7;
- Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh
Đồng Nai;
- Ủy ban nhân dân và Công an xã Phú
Vinh, tỉnh Đồng Nai;
- Lưu: Hồ sơ vụ án và Văn phòng (15).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tuyết Thanh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN
8
Nguyễn Văn Thành - Đinh Thị Kiều Lương
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Tuyết Thanh
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 12/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 11/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 07/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Bản án số 343/2026/DS-PT ngày 06/05/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Ban hành: 06/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 05/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 04/05/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 29/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 28/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 28/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 28/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 28/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm