Bản án số 329/2026/DS-PT ngày 22/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 329/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 329/2026/DS-PT ngày 22/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 329/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án phúc thẩm 329
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 329/2026/DS-PT
Ngày 22 4 2026
V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phan Công Trí.
Các Thẩm phán:
1. Bà Tiêu Hồng Phượng.
2. Bà Tăng Trần Quỳnh Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Công Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm t nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông
Bùi Trung Biển – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sTòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 724/2025/TLPT-DS ngày 18 tháng 12
năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sthẩm số: 228/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1- Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 194/2026/QĐ-PT ngày
23 tháng 02 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đăng Châu P, sinh năm 1988 (có mặt).
Căn cước công dân số 096088015206 cấp ngày 24/11/2022.
Địa chỉ: Số G, đường N, phường L, tỉnh Cà Mau
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Quách Trọng
P1 Luật Chi nhánh Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật Thành phố H. Địa chỉ
liên hệ: Ấp B, xã C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
2. Bị đơn:
2.1. Ông Dương Thanh H, sinh năm 1975.
Căn cước công dân số 033075009842 cấp ngày 02/5/2021.
Địa chỉ: Số E, tập thể N, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
2
2.2. Bà Đỗ Thị Quỳnh H1, sinh năm 1974.
Căn cước công dân số 033174007806 cấp ngày 29/4/2021.
Địa chỉ: Số E, tập thể N, phường Đ, Thành phố Hà Nội.
2.3. Bà Lý Thị L, sinh năm 1986.
Căn cước công dân số 096186000350 cấp ngày 16/3/2021.
Địa chỉ: Nhà không số, đường N, Khóm A, phường T, tỉnh Cà Mau.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông H, H1, L: Ông Trần
Hoàng T, sinh năm 1983. n cước công dân số 096083003751 cấp ngày
15/01/2023. Địa chỉ: Ấp C, Đ, tỉnh Mau. Chỗ hiện nay: Số B, đường N,
phường T, tỉnh Cà Mau (văn bản ủy quyền này 20/01/2025 và ngày 06/9/2025) (có
mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Trần Hoàng T, sinh năm 1983 (có mặt).
Căn cước công dân số 096083003751 cấp ngày 15/01/2023.
Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, tỉnh Mau. Chỗ ở hiện nay: Số B, đường N, phường
T, tỉnh Cà Mau
3.2. Ông Dương Quốc T1, sinh năm 1973 (vắng mặt).
Căn cước công dân số 096073005676 cấp ngày 28/6/2021.
Địa chỉ: Ấp T, phường H, tỉnh Cà Mau.
3.3. Ông Trần Thanh Q, sinh năm 1974.
Căn cước công dân số 079074021015 cấp ngày 10/11/2022.
Địa chỉ: Số A, Lô B cư xá C, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.4. Ông Trần Thanh Khánh Đ, sinh năm 2004.
Căn cước công dân số 079304011905 cấp ngày 01/9/2021.
Địa chỉ: Chung cư W, 7 đường N, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Q, ông Đ: Ông Trần Hoàng T, sinh
năm 1983. Căn cước công dân số 096083003751 cấp ngày 15/01/2023. Địa chỉ: Ấp
C, Đ, tỉnh Cà Mau. Chỗ hiện nay: Số B, đường N, phường T, tỉnh Mau (Văn
bản ủy quyền ngày 23-24/9/2025 (có mặt).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Đăng Châu P là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Châu P trình bày: Ông P có 01 phần đất
nuôi trồng thuỷ sản tại thửa số: 203 tờ bản đồ số 01 với diện tích 8.377m
2
, do Sở Tài
nguyên Môi trường tỉnh C cấp ngày 14/11/2016, đất toạ lạc tại H, thành phố
C, tỉnh Cà Mau.
3
Vào khoảng tháng 09 năm 2021, thông qua sự giới thiệu của ông Trần Hoàng
T được biết các ông Dương Thanh H, Đỗ Thị Quỳnh H1, bà Lý Thị L có nhu cầu
mua đất nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn các thuộc thành phố C, tỉnh Mau.
Qua trao đổi với ông T, ông P đồng ý chuyển nhượng hết phần đất tại thửa số 203
tờ bản đồ số 01 với diện tích 8.377m
2
, đất toạ lạc tại H, thành phố C, tỉnh Mau
với số tiền 5.000.000.000 đồng, phương thức thanh toán tiền mặt một lần khi ông P
sang tên xong QSDĐ cho bên mua.
Đến ngày 02 tháng 10 năm 2021, hai bên tiến hành ra Phòng C hợp đồng
chuyển nhượng QSDĐ. Tại Phòng Công chứng mặt L, ông H bà H1 uỷ
quyền cho ông T hợp đồng nhận chuyển nhượng QSDĐ, hợp đồng uỷ quyền số
4493 do Phòng C1 ngày 28/09/2021 hợp đồng số 5996 do Phòng Công chứng
tỉnh C ngày 01/10/2021, hai bên thống nhất đgiảm chi phí công chứng các
chi phí khác nên giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ với
số tiền 370.000.000 đồng. Nhưng từ khi lập thủ tục chuyển nhượng QSD Đất đến
nay, ông H, bà H1 chưa thanh toán cho ông P khoản tiền nào.
Sau khi hai bên ký công chứng xong ông P bàn giao Giấy chứng nhận QSDĐ
cho ông T để đi nộp hồ sơ sang tên tại Văn phòng Đ1. Tuy nhiên, việc cập nhật sang
tên QSDĐ không được giải quyết theo quy định, do phần đất chuyển nhượng một
phần diện tích nằm trong dự án nâng cấp mở rộng tuyến đường Mau - Đ (đã
thông báo thu hồi đất số 2043/TB-UBND ngày 15/09/2021 của U) được gửi cho chủ
đất ông Ngô Hữu H2. vậy, cả hai bên không hay biết về việc U thông báo
thu hồi đất nói trên.
Không được Văn phòng Đ1 cập nhật sang tên cho bên mua theo quy định, hai
bên thống nhất tạm hoãn lại việc sang tên đến khi nào quan chức năng thu hồi,
điều chỉnh xong phần diện tích giải toả đền bù thì hai bên sẽ tiếp tục thực hiện cập
nhật sang tên QSDĐ theo quy định.
Theo thoả thuận giữa hai bên chưa sang tên QSDĐ được cho bên mua thì bên
mua chưa thanh toán tiền cho bên bán. Vì vậy, ông P tiếp tục quản lý sử dụng phần
đất chuyển nhượng nói trên đến khi nào bên mua chuyển tên xong và thanh toán đủ
tiền cho ông P thì ông P mới giao đất.
Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giấy chứng nhận QSDĐ bản chính ông
P đã giao cho bên mua giữ để theo dõi việc thu hồi và nộp hồ sơ chuyển tên.
Được biết Nhà nước đã thu hồi diện tích đất 2.662,8m
2
, diện tích còn lại
5.714,2m
2
và đã được chuyển tên QSDĐ cho bên mua xong theo thoả thuận. Nhưng
từ đó đến nay, bên mua ông H, H1, L người được uỷ quyền ông T vẫn
chưa thanh toán tiền nhận chuyển nhượng QSDĐ cho ông P. Do đó, ông P khởi kiện
yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 6007, quyển số 10/2021/TP/CC-
SCC/HĐGD do Phòng C chứng thực ngày 02/10/2021 giữa ông Nguyễn Đăng Châu
P với Dương Thanh H, Đỗ Thị Quỳnh H1, Thị L do n mua vi phạm nghĩa
vụ thanh toán.
Theo bị đơn ông Dương Thanh H, Đỗ Thị Quỳnh H1, Thị L bị đơn
trình bày: Vào ngày 02/10/2021, ông Dương Thanh H, Đỗ Thị Quỳnh H1, bà
Thị L do ông Trần Hoàng T đại diện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
4
đất thửa số 203, tờ bản đồ số 01, với diện tích 8.377m
2
với ông Nguyễn Đăng Châu
P tại Phòng Công chứng; giá chuyển nhượng 4.980.000.000 đồng, nhưng ghi trong
hợp đồng số tiền 370.000.000 đồng. Sau khi hợp đồng, bên mua ông H, bà H1,
L chuyn tin cho ông Trần Văn T2 (người cùng hùn vi ông P) s tin
22.000.000.000 đồng (do bên mua nhn chuyển nhượng 05 phần đất, trong đó
tha 203). Khi ký hợp đồng xong, ông H, bà H1 và bà L đã nhận đất qun lý và lp
th tc cp giy chng nhn quyn s dụng đất theo quy định. Hin nay, phần đất
này ông H, bà H1 và bà L đã bán cho nhiều người và đã lập th tc tách giy chng
nhn quyn s dụng đất cho những người mua. Nay, theo yêu cu ca ông P yêu cu
hy hp đồng, ông không đồng ý vì tiền đã trả cho ông P xong phần đất hin ông
H, bà H1, bà L đang sử dng và chuyển nhượng cho người khác.
Theo người quyền lợi, nghĩa vliên quan ông Trần Hoàng T, ông Trần
Thanh Q và ông Trần Thanh Khánh Đ trình bày: Thống nhất theo lời trình bày của
bị đơn.
Theo người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Dương Quốc T1 trình bày:
Ông là người thuê đất của ông T, hiện nay giữa ông T với ông P có tranh chấp phần
đất ông đang thuê của ông T, ông tự thỏa thuận với ông T.
Tại Bản án dân sự thẩm số: 228/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 1 – Cà Mau quyết định:
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Đăng Châu
P về hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đăng Châu
P với ông Dương Thanh H, Đỗ Thị Quỳnh H1, Thị L được công chứng
ngày 02/10/2021 tại Phòng C tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra, án thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền thoả thuận
thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 14/10/2025, nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Châu P kháng cáo huỷ bản
án sơ thẩm, xét xử phúc thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Đăng Châu P thay đổi một phần yêu
cầu kháng cáo: Yêu cầu sửa án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn byêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn. Không yêu cầu huỷ án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu chấp nhận toàn
bộ lời trình bày và yêu cầu của nguyên đơn.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ đến khi xét xử phúc thẩm,
Thẩm phán và Hội đồng xét xử; Thư các đương sự thực hiện đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không
chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Châu P; Áp dụng khoản 1
Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số
5
228/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh
Cà Mau. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến tranh luận của đương sự và ý kiến phát biểu
của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau, sau khi thảo luận, nghị án, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Châu P hợp lệ.
Tòa án nhân dân tỉnh Mau thụ giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm, quy
định tại Điều 272, Điều 273, Điều 276, Điều 278, Điều 280 và Điều 285 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Xét việc thay đổi một phần kháng cáo của nguyên đơn không vượt quá
phạm vi kháng cáo ban đầu, nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét, theo quy định
tại khoản 2 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án: Nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Châu P yêu cầu huỷ
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ số 6007, quyển số 10/2021/TP/CC-SCC/HĐGD
do Phòng C chứng thực ngày 02/10/2021, giữa ông Nguyễn Đăng Châu P với ông
Dương Thanh H, bà ĐThị Quỳnh H1, Thị L do bên mua vi phạm nghĩa vụ
thanh toán.
[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Châu P:
[3.1] Các đương sự trong vụ án thống nhất kết hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 02/10/2021 đối với thửa đất 203, tờ bản đồ số 01, đất toạ
lạc tại H, thành phố C, tỉnh Mau, được công chứng tại Phòng C2 thuộc tình
tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật
Tố tụng n sự năm 2015. Như vậy, giữa các bên tồn tại hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp.
[3.2] Nguyên đơn ông P cho rằng do bên mua không trả đủ tiền, nên ông P
yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên kết. Bị đơn trình bày đã
chuyển trả đủ tiền cho ông Trần Văn T2 là người trung gian. Tại biên bản làm việc
của Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố C, tỉnh Mau ngày 16/01/2024, ông
Châu P xác định ông chỉ bán thửa đất 203 cho ông T2, chưa từng liên hệ với ông T
(đại diện bị đơn) (bút lục 79). Lời khai của ông P tại biên bản làm việc của Trung
tâm Phát triển quỹ đất thành phố C ngày 16/01/2024 hoàn toàn mâu thuẫn với lời
trình bày của ông P trong đơn khởi kiện ngày 03/12/2024 (bút lục 20-21). Tuy nhiên,
phù hợp với lời thừa nhận của ông T2 tại biên bản làm việc ngày 07/10/2022 của
Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố C (bút lục 71), phù hợp với lời trình bày của
bị đơn trong vụ án và phù hợp với chứng cứ của nguyên đơn giao nộp là Giấy cam
kết trả nợ của ông T2 cho ông P ngày 05/5/2022 tại phiên toà phúc thẩm hôm
nay, ông P thừa nhận sau khi hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông
T2 là người trung gian trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chuyển
cho ông 2.500.000.000 đồng và cam kết sẽ thanh toán số tiền còn lại. Do đó, có thể
6
khẳng định: Nguyên đơn đồng ý việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đồng ý
việc ông T2 nhận tiền chuyển nhượng để giao lại cho ông P, nhưng sau khi nhận tiền
từ người mua, ông T2 đã không chuyển trả đủ cho ông P, nên mới lập giấy cam kết
trả nợ ghi ngày 05/5/2022 như nguyên đơn đã giao nộp (bút lục 467).
[3.3] Từ sự phân tích trên, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn nguyên đơn ông P cho rằng chưa nhận đủ tiền chuyển nhượng không
căn cứ.
[4] Bên cạnh, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và ông P
yêu cầu tạm ngừng phiên toà để giám định chữ ký, chữ viết họ tên của ông P trong
hồ đăng biến động hnộp thuế chuyển quyền sử dụng đất. Như phân
tích tại mục [3], ông P thừa nhận việc hợp đồng chuyển nhượng tại đơn
khởi kiện ông P cũng thừa nhận đưa các thủ tục cho bên nhận chuyển nhượng đi nộp
hồ sơ sang tên (bút lục 20). Cho nên, việc yêu cầu giám định chữ ký của nguyên đơn
trong các văn bản này là không cần thiết.
[5] Từ phân tích tại mục [3], [4], Toà án cấp thẩm không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không
cơ sở chấp nhận, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[6] Các phần khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm:
Nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Châu P không được chấp nhận kháng cáo, nên
phải chịu 300.000 đồng, theo quy định tại khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015, điểm c khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Các quan điểm đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa căn cứ, nên được
chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1
Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 227, Điều 272, Điều
273, Điều 276, Điều 278, Điều 280 Điều 285 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015; Điều 500, 501, 502 và Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm a khoản
3 Điều 167, khoản 3 Điều 188 của Luật Đất đai năm 2013; điểm a, c khoản 1 Điều
24, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 3 Điều 27, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng Châu P.
7
Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 228/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm
2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Đăng
Châu P về hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Đăng
Châu P với ông Dương Thanh H, Đỗ Thị Quỳnh H1, bà Thị L được công
chứng ngày 02/10/2021 tại Phòng C tỉnh Cà Mau.
2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Đăng Châu P phải chịu 24.083.000 đồng
(Hai mươi bốn triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng) (Ông P đã nộp và đã chi
xong).
3. Về án phí dân sự
3.1. Án phí thẩm: Ông Nguyễn Đăng Châu P phải chịu 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông P
đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0008507 ngày
31/12/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
3.2 Án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Đăng Châu P phải chịu là 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng). Ông P dự nộp 300.000 đồng theo các biên lai thu số
0001909 ngày 14/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu án
phí.
4. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi
hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án
dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 1- Cà Mau;
- Phòng THADS khu vực 1- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT (TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Phan Công Trí
Tải về
Bản án số 329/2026/DS-PT Bản án số 329/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 329/2026/DS-PT Bản án số 329/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất