Bản án số 74/2026/HS-PT ngày 20/04/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 74/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 74/2026/HS-PT ngày 20/04/2026 của TAND tỉnh Lâm Đồng
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Lâm Đồng
Số hiệu: 74/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/04/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 74/2026/HS-PT
Ngày: 20/4/2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Hà Ngân.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Chương và ông Nguyễn Thế Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh - Thư ký viên Tòa án nhân dân
tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà:
Hồ Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Lâm Đồng
mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số: 19/2026/TLPT-
HS ngày 19 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo Nguyễn Thị H do kháng cáo của
bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 10-12-2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 7 - Lâm Đồng.
Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; tại Tĩnh; nơi trú: Số
nhà F, khu V, phường Ô, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học
vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Nguyễn Văn H1 và bà Trần Thị N (đều đã chết); có chồng là anh Hoàng Hoa T,
sinh năm 1958 (đã ly hôn) và có 02 con, (con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm
1993); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 03/7/2025, hiện đang bị bắt
tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an tỉnh L bị cáo có mặt tại phiên
tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị H:
- Ông Đỗ Mạnh T1 - Luật của Công ty TNHH S1.20 thuộc Đoàn Luật
tỉnh L; địa chỉ: Số nhà B, đường Q, tổ dân phố B N, phường N, tỉnh Lâm Đồng
vắng mặt.
- Ông Nguyễn Trọng H2 ông Hoàng Trọng P - Luật của Công ty Luật
TNHH Chính Pháp Đồng Tâm thuộc Đoàn thành phố H; địa chỉ: Số G, phố K,
phường C, thành phố Hà Nội vắng mặt.
Bị hại: Công ty TNHH MTV C, địa chỉ: K, xã Q, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện theo pháp luật: Ông Hồ Văn V - Chức vụ: Quyền Chủ tịch kiêm Giám
đốc Công ty TNHH MTV C - vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hồ Văn S, sinh năm 1962, địa chỉ: Thôn H, xã E, tỉnh Đắk Lắk - vắng
mặt.
- Ông Nguyễn Tiến L, sinh năm 1964, địa chỉ: Thôn H, E, tỉnh Đắk Lắk -
vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Công ty C (năm 2010 được chuyển đổi thành Công ty TNHH MTV C) doanh
nghiệp nhà nước, được thành lập theo Quyết định số 547/TCT-TCCB/QĐ ngày
19/5/2005 của Hội đồng quản trTổng Công ty C1. Trong thời gian từ năm 2005 đến
năm 2014, Hồ Văn S là Giám đốc và Nguyễn Tiến L là kế toán trưởng Công ty C.
Khoảng cuối năm 2007 đầu năm 2008, thấy giá xăng dầu thường xuyên biến
động tăng, giảm nên Hồ Văn S Nguyễn Tiến L quyết định sử dụng nguồn vốn của
Công ty C để đầu mua xăng dầu, gửi tại kho chờ lên giá rồi bán lại để kiếm
lời. Thông qua quan hệ hội, L quen biết Nguyễn Thị H chủ Doanh nghiệp
nhân H3 (viết tắt H3) đơn vkinh doanh xăng dầu. Hai bên cùng thống nhất
kết hợp đồng.
Ngày 09/01/2008, Hồ Văn S đại diện cho Công ty C và Nguyễn Thị H đại diện
H3 ký hợp đồng số 01/2008-HĐMB-XD với nội dung: Công ty C mua của H3 khối
lượng 155.000 lít xăng A92 297.079 lít dầu Diezen, tổng giá trị là: 4.999.999.999
đồng. Ngày 11/01/2008, S uỷ nhiệm chi số 34 chuyển từ tài khoản số
421101010016 của Công ty C mở tại Ngân hàng A - Đắk Nông đến tài khoản số
4002757001 của H3 mở tại Ngân hàng I - TP Cần Thơ toàn bộ số tiền 4.999.999.999
đồng để thanh toán theo hợp đồng số 01/2008-HĐMB-XD.
Nhận đủ tiền, Nguyễn Thị H xuất 03 hóa đơn GTGT của H3 thể hiện xuất cho
Công ty C khối lượng 158.000 lít xăng A92 và 279.000 lít dầu DieZen với tổng giá
trị 4.856.100.000 đồng, cụ thể: Ngày 13/01/2008: Xuất hóa đơn GTGT số 0065433
để bán 80.000 lít xăng A92 và 200.000 lít dầu DieZen, thành tiền là: 3.052.000.000
đồng; Ngày 19/01/2008: Xuất hóa đơn GTGT số 653656 để bán 79.000 lít dầu
DieZen, thành tiền là: 797.900.000 đồng; Ngày 15/02/2008: Xuất hóa đơn GTGT số
53696 để bán 78.000 lít xăng A92, thành tiền là: 1.006.200.000 đồng. Sau khi nhận
được 03 hóa đơn GTGT, Nguyễn Tiến L soạn thảo các hợp đồng gửi giữ hàng hoá
tại kho số 02.01/2008 HĐGK ngày 13/01/2008, số 02.02/2008 HĐGK ngày
19/01/2008 số 02.03/2008 ngày 15/02/2008 vviệc gửi toàn bộ số lượng xăng
dầu theo 03 hóa đơn GTGT trên tại kho H3, trong đó có quy định “thời gian gửi giữ
từ ngày 13/01/2008 cho đến hết ngày 09/4/2008. Trong thời gian gửi giữ bên A (tức
H3) không được tự ý bán số xăng, dầu bên B (tức Công ty phê Đắk Nông) gửi nếu
như bên B không yêu cầu..Nếu bên B có nhu cầu bán lại số xăng dầu đã gửi thì Bên
B sẽ yêu cầu Bên A xuất bán dùm, n A trách nhiệm thanh toán cho Bên
B…”. Ngày 16/02/2008, SH ký biên bản về việc thanh lý hợp đồng số 01/2008-
HĐMB-XD thể hiện H3 sẽ trả lại số tiền Công ty C đã thanh toán dư 143.899.999
đồng (số tiền chuyển khoản 4.999.999.999 đồng, tổng số tiền trên hoá đơn
4.856.100.000 đồng).
Trong thời gian trên, Nguyễn Thị H làm ăn thua lỗ và thâm hụt tài chính nên đã
tự ý bán dần xăng dầu của Công ty C. Ngày 20/02/2008, Hồ Văn S và Nguyễn Tiến
L đến H3 để kiểm tra lượng xăng dầu mà ng ty C gửi tại kho, nhưng do tin tưởng
H nên S L không tiến hành các biện pháp kiểm tra thực tế, vẫn biên bản
ghi nhận toàn bộ số lượng xăng dầu của Công ty C còn đủ tại kho H3.
Để hợp thức việc Nguyễn Thị H đã bán xăng dầu trước đó, khi không được sự
cho phép của Công ty C, H đề nghị với Hồ Văn S Nguyễn Tiến L để H bán số
xăng dầu này doanh nghiệp tư nhân V1 (viết tắt V1), địa chỉ kinh doanh tại N,
huyện G, tỉnh Kiên Giang do ông Nguyễn Văn H1 (là bố đẻ của H) làm chủ V1
cũng là đại lý bán lẻ xăng dầu của H3, nên H sẽ làm đại diện cho V1 để ký kết hợp
đồng mua bán xăng dầu với Công ty C. Tuy nhiên, V1 là do H đứng ra thành lập và
đã được bán lại cho ông Phạm Ngọc Q (sinh năm 1975, trú tại N, huyện G, tỉnh
Kiên Giang) từ tháng 6/2006. H không nói cho S L biết đã bán DNTN Văn Hiến.
Ngày 20/02/2008, Hồ Văn S Nguyễn Thị H hợp đồng số 01/2008 HĐMB-
XD nội dung thể hiện: Công ty C cho phép H3 bán số lượng 41.721 lít xăng A92
130.486 lít dầu Diezen, với tổng số tiền 1.888.108.180 đồng cho V1. Ngày
23/02/2008, Công ty C xuất hóa đơn GTGT số 22002 bán cho DNTN Văn Hiến số
lượng 41.721 lít xăng A92 130.486 lítdầu Diezen với tổng giá trị 1.888.108.180
đồng theo hợp đồng trên. Ngày 28/02/2008, SH tiếp tục ký hợp đồng số 02/2008
HĐMB-XD nội dung thể hiện ng ty C đồng ý cho H3 bán khối lượng 148.514 lít
dầu Diezen với tổng giá trị 2.004.939.000 đồng cho V1, sau đó Công ty C xuất hóa
đơn GTGT số 022003 để bán số lượng 148.514 lít dầu Diezen với giá trị
2.004.939.000 đồng cho V1. Việc mua bán này chdiễn ra về hình thức, không
việc giao nhận hàng hóa. Lúc này, H đại diện H3 lập bản cam kết số 15/DN/BCK về
việc trên sở hợp đồng kinh tế 01/2008 HĐMB-XD, 02/2008 -XD mối quan
hệ gia đình giữa H3 với V1 thì H3 cam kết chịu trách nhiệm thanh toán số tiền theo
hợp đồng thay cho V1. Đối với 116.279 lít xăng A92 còn lại, S tiếp tục gửi tại
kho của H3 theo hợp đồng số 03/2008 ngày 28/02/2008. Sau khi kết các hợp đồng
nêu trên, H tiếp tục tự ý bán tiếp toàn bộ số lượng xăng dầu còn lại trong kho của
doanh nghiệp, bao gồm cả lượng hàng S L đã gửi kho, để lấy tiền. Ngày
02/3/2008, H trả cho Công ty C được số tiền 37.000.000 đồng.
Ngày 17/3/2008, Hồ Văn SNguyễn Tiến L xuống kiểm tra 116.279 lít xăng
A92 còn lại gửi tại kho H3 thì phát hiện lượng xăng này không còn. Khi này, Nguyễn
Thị H cho biết do thiếu hụt vốn nên đã tự ý bán trước thời điểm tháng 03/2008 (Thực
tế, trong thời gian cuối tháng 02/2008 đầu tháng 3/2008, H đã bán hết lượng
xăng dầu Công ty C gửi kho). Do đó, S, L H cùng lập biên bản với nội dung
H cam kết đến ngày 31/03/2008 sẽ thanh toán đủ số nợ gốc trách nhiệm bồi
thường, hoàn trả số lượng 116.279 lít xăng A92 cho Công ty C chậm nhất là vào
ngày 31/5/2008. Sau khi cam kết, ngày 18/3/2008, H chuyển khoản trả số tiền
500.000.000 đồng, ngày 24/3/2008, chuyển khoản trả số tiền 500.000.000 đồng
ngày 13/6/2008, H trả tiền mặt số tiền 100.000.000 đồng cho Công ty C.
Do không thực hiện đầy đủ theo cam kết, ngày 04/3/2009, Công ty C khởi kiện
H3 ra Tòa án nhân dân quận Ô Môn, TP Cần Thơ. Vụ án đã được Tòa án nhân dân
quận Ô Môn xét xử thẩm (Bản án số 01/2009/KDTM-ST ngày 02/6/2009) Tòa
án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xphúc thẩm (Bản án số 01/2009/KDTM-PT
ngày 18/8/2009), buộc DNTN Hoàng Hương T2 phải trả cho Công ty C tổng cả gốc
lãi số tiền là: 5.334.467.809 đồng. Quá trình thi hành án, quan Thi hành án
dân squận Ô, thành phố Cần Thơ thu hồi cho Công ty C số tiền 1.009.899.882
đồng. Ngày 31/12/2014, quan Thi hành án dân squận Ô, thành phố Cần Thơ
có Quyết định s35/QĐCCTHA về việc trả lại đơn yêu cầu thi hành án cho Công ty
C do Nguyễn Thị H không còn tài sản để thi hành án số tiền gốc chưa thu
hồi được là 2.853.100.117 đồng. Đến ngày 08/11/2019, Nguyễn Thị H và con trai
Hoàng T3 đã trả hết số tiền 2.853.100.117 đồng cho Công ty C.
Đối với hành vi vi phạm pháp luật nêu trên của Hồ Văn S Nguyễn Tiến L,
năm 2014, các quan tiến hành ttụng tỉnh Đắk Nông tiến hành điều tra, truy tố
Tòa án tiến hành xét xử Hồ Văn S Nguyễn Tiến L phạm tội Thiếu trách nhiệm
gây hậu quả nghiêm trọng” quy định tại khoản 2 Điều 285 của Bộ luật Hình sự năm
1999 (Bản án sơ thẩm số 70/2015/HSST ngày 12/11/2015). Cả hai bị cáo kháng o
kêu oan. Ngày 19/4/2016 Tòa án nhân dân cấp cao tại phố C đã xét xử phúc thẩm
(Bản án phúc thẩm số 162/2016/HS-PT) nhận định Trong vụ án này còn có bà
Nguyễn Thị H là chủ DNTN Hoàng Hương T2 là người trực tiếp bán xăng, dầu cho
Công ty nhưng không giao hàng cũng như trả lại tiền và chiếm dụng số tiền cho đến
nay chưa thanh toán cho Công ty. Nhưng cấp sơ thẩm chưa điều tra làm rõ H
hay không hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của Công ty" nên đã quyết định
hủy toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông để điều tra,
xét xử lại.
Quá trình điều tra, truy tố lại, các quan tiến hành tố tụng tỉnh Đắk Nông
nhận thấy hành vi của Nguyễn Thị H dấu hiệu phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản" nhưng thời hạn điều tra không còn nên quan t điều tra
Công an tỉnh Đ đã Kiến nghị gửi Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị kháng
nghị theo thủ tục giám đốc thẩm hủy 02 bản án kinh doanh thương mại nêu trên đ
xử lý Nguyễn Thị H bằng một vụ án khác. Ngày 28/8/2017, Chánh án Toà án nhân
dân tối cao kháng nghị tái thẩm đề nghị Ủy ban phán Tòa án nhân dân cấp cao tại
phố H xét xtái thẩm, hủy án kinh doanh thương mại thẩm phúc thẩm của Tòa
án nhân quận Ô và Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Ngày 20/12/2017, Uỷ ban
phán Tòa án nhân dân cấp cao tại phố H xét xử, hủy án Bản án kinh doanh thương
mại thẩm phúc thẩm nêu trên, giao vụ án lại cho Tòa án nhân dân quận Ô Môn,
thành phố Cần Thơ xét xử lại sơ thẩm theo quy định của pháp luật và vụ án dân sự
về "Tranh chấp hợp đồng mua bán" giữa Công ty C và bà Nguyễn Thị H được đình
chỉ giải quyết ngày 02/6/2020.
Ngày 15/02/2017, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông tiếp tục xét xử Hồ Văn S
Nguyễn Tiến L về tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng", quy định tại
khoản 2 Điều 285 BLHS năm 1999 (Bản án thẩm số 06/2017/HSST). Cả hai bị
cáo tiếp tục kháng cáo kêu oan. Ngày 01/10/2019, Tòa án nhân dân cấp cao tại phố
H xét xử phúc thẩm vụ án này (Bản án phúc thẩm số 583/2019/HS-PT) và nhận định
Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Hồ Văn SNguyễn Tiến L về tội Thiếu
trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọngquy định tại khoản 2 Điều 285 BLHS 1999
căn cứ pháp luật, không oan sai. Đồng thời xác định trong vụ án còn Nguyễn
Thị H hành vi lợi dụng việc thiếu quản lý, giám sát kiểm tra của Công ty C trong
việc mua bán và gửi giữ xăng dầu đã bán số xăng dầu gửi giữ được, sau đó để hợp
thức hoá giấy tờ H đã dùng hình thức bán số xăng dầu cho V1 để hợp thức số
xăng dầu đã bán, đồng thời bán hết số xăng dầu còn lại Công ty C gửi giữ
không được sự đồng ý không trả tiền lại cho Công ty dấu hiệu phạm tội hình
sự”, nên đã tuyên huỷ toàn bộ bản án hình sự thẩm số 06/2017/HSST ngày
15/02/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông để điều tra, xét xử lại.
Quá trình tiếp tục điều tra lại, quan sát điều tra Công an tỉnh Đ xác định
hành vi của Nguyễn Thị H phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" nên
đã ra Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố Nguyễn Thị H
về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", quy định tại điểm a, khoản 4 Điều
140 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Do bị can H không có mặt tại nơi cư trú, không
rõ đang ở đâu nên ra Quyết định truyđối với bị can H. Hết thời hạn điều tra chưa
xác định bcan đang đâu nên quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án hình
sự và Quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra vụ án đối với bị
can Nguyễn Thị H tiếp tục đề nghị truy tố Hồ Văn S và Nguyễn Tiến L vtội
"Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" theo quy định tại khoản 2 Điều 285
của Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 18/3/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông
xét xử sơ thẩm đối với vụ án này (Bản án sơ thẩm số 16/2021/HSST ngày
18/3/2021). Các bị cáo tiếp tục kháng cáo kêu oan. Ngày 21/4/2022, Tòa án nhân
dân cấp cao tại phố H, xét xử phúc thẩm bị cáo Hồ Văn SNguyễn Tiến L phạm
tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" theo quy định tại khoản 2 Điều
285 BLHS năm 1999 (Bản án số 220/2022/HS-PT). Bản án đã hiệu lực pháp luật.
Ngày 03/7/2025, quan sát điều tra Công an tỉnh L, bắt truy đối với
Nguyễn Thị H. Ngày 06/7/2025, quan sát điều tra Công an tỉnh L ban hành
Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự số B737 và Quyết định phục hồi điều tra
bị can số B736 ngày 06/7/2025, đối với bị can Nguyễn Thị H.
Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật: Quá trình điều tra Cơ quan sát điều tra Công an
tỉnh L đã thu giữ 03 điện thoại di động của Nguyễn Thị H, tuy nhiên do không liên
quan đến vụ án nên đã trả lại cho Nguyễn Thị H.
Phần dân sự: Bị cáo Nguyễn Thị H đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Công
ty TNHH MTV C số tiền 4.856.100.000 đồng. Công ty TNHH MTV C yêu cầu
Nguyễn Thị H trả số tiền lãi phát sinh là 405.500.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 03/CT-VKSLĐ – P1 ngày 24/10/2025, Viện Kiểm sát
nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tbị cáo Nguyễn Thị H về tội Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản”, theo quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật sự
Tại Bản án hình sự thẩm 30/2025/HS-ST ngày 10-12-2025 của Toà án
nhân dân khu vực 7 Lâm Đồng quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm
tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, skhoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật
Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 15 (mười lăm) năm tù về tội Lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm
giam ngày 03/07/2025
Ngày 31/12/2025, bị cáo Nguyễn Thị H kháng o bản án hình sự sơ thẩm
theo hướng xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sau khi phân tích các tình
tiết của vụ án, trình bày quan điểm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân xét thấy, căn
cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét hỏi tại phiên tòa, có đủ
sở xác định bị cáo Nguyễn Thị H đã lợi dụng việc nhận tiền, nhận xăng dầu của
Công ty C để gửi giữ, sau đó tự ý bán toàn bộ số xăng dầu, sử dụng tiền vào mục
đích riêng, không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo cam kết. Hành vi của bị cáo đã
xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản”. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh này là có căn cứ, đúng
quy định pháp luật. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã trả toàn bộ nợ gốc cho bị hại; phía
bị hại có đơn xin bãi nại, đề nghị giảm nhẹ hình phạt; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo cũng đã khắc phục một phần tiền lãi, cụ thể
40.000.000 đồng tiền lãi nên căn cứ xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho
bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c
khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo của bị
cáo, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt
Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem
xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nhận định như sau:
[1]. Về tội danh:
Năm 2008, Hồ Văn S Giám đốc Nguyễn Tiến L Kế toán trưởng Công
ty C thống nhất sử dụng vốn của Công ty để đầu mua xăng dầu, gửi chờ giá
tăng nhằm thu lợi nhuận. Theo đó, hai bên đã ký hợp đồng số 01/2008/HĐMB-XD
với Doanh nghiệp nhân H3 do Nguyễn Thị H làm chủ, mua 155.000 lít xăng A92
và 297.079 lít dầu D1 với tổng số tiền gần 5 tỷ đồng. Sau khi nhận đủ tiền, Nguyễn
Thị H xuất 03 hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty, thể hiện khối lượng 158.000 lít
xăng A92 279.000 lít dầu Diezen với tổng giá trị 4.856.100.000 đồng. Tuy nhiên,
số hàng này không được đưa về Công ty mà tiếp tục được gửi tại kho của H3. Ngày
16/02/2008, các bên lập biên bản thanh lý hợp đồng, xác định H phải hoàn trả số tiền
chênh lệch 143.899.999 đồng.
Trong quá trình thực hiện, do kinh doanh thua lỗ thiếu hụt tài chính,
Nguyễn Thị H đã lợi dụng việc Công ty C buông lỏng quản lý, không kiểm tra thực
tế để tự ý bán dần toàn bộ số xăng dầu đã nhận. Để che giấu hành vi, H cùng SL
thỏa thuận hợp thức hóa bằng việc các hợp đồng bán xăng dầu cho V1. Cụ thể,
vào các ngày 20/02/2008 28/02/2008, S L hợp đồng cho phép bán 41.721
lít xăng A92 279.000 lít dầu Diezen với tổng giá trị 3.893.047.180 đồng, đồng
thời tiếp tục gửi giữ 116.279 lít xăng A92 còn lại tại kho. Tuy nhiên, toàn bộ số xăng
còn lại này ng bị Nguyễn Thị H tự ý bán hết không được sự chấp thuận của
Công ty.
Hành vi trên đã dẫn đến việc Nguyễn Thị H chiếm đoạt của Công ty C tổng
số lượng 158.000 lít xăng A92 và 279.000 lít dầu D, tương ứng số tiền 4.856.100.000
đồng.
Do đó, bản án hình sthẩm s30/2025/HS-ST ngày 10-12-2025 của Tòa
án nhân dân khu vực 7 đã kết án Nguyễn Thị H phạm tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp
luật.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm
xét thấy:
Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi
phạm tội của mình, đã chủ động khắc phục hậu quả với các bị hại. Tại giai đoạn phúc
thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới: Đơn xin bãi
nại về việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đồng thời bị cáo đã khắc phục
thêm được 40.000.000 đồng trong tổng số 405.868.000 đồng tiền lãi, là các tình tiết
giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần
đầu, có nhân thân tốt, không tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy
định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX xét thấy mặc dù tính chất ván do
bị cáo gây ra đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, tuy nhiên
mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo 15 năm tù là có phần nghiêm
khắc. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt ca bị cáo, cần
sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt.
[3]. Xét quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng
tại phiên tòa là phù hợp, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: trong giai đoạn phúc thẩm, bị cáo đã trả thêm cho
bị hại số tiền 40.000.000đ, tại phiên toà bị cáo đồng ý sẽ trả số tiền lãi còn lại, nên
cần buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải trả cho Công ty TNHH MTV C số tiền lãi còn
lại là 365.868.000 đồng (ba trăm sáu mươi lăm triệu tám trăm sáu mươi tám nghìn
đồng).
[5]. Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bcáo không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
[6]. Đối với các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo,
kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng
Hình sự,
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, sửa Bản án thẩm số
30/2025/HS-ST ngày 10-12-2025 của Toà án nhân dân khu vực 8, tỉnh Lâm Đồng.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản”.
Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình
sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành án tính
từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 03/7/2025.
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải trả cho Công ty
TNHH MTV C số tiền lãi còn lại là 365.868.000 đồng (ba trăm sáu mươi lăm triệu
tám trăm sáu mươi tám nghìn đồng).
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến
khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nêu trên, người phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền n phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
Điều 357 Điều 468 của Bộ luật sự 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại
thời điểm thanh toán.
4. Việc xử vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 2 Điều 47 của Bộ
luật Hình sự; căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Chấp nhận ngày 27/9/2025, quan quan sát điều tra Công an tỉnh L đã
ban hành quyết định xử lý vật chứng số: E1066/QĐ-CSĐT, trả lại 03 (ba) điện thoại
di động cho Nguyễn Thị H do không liên quan đến hành vi phạm tội.
5. Về án phí hình sự dân sự thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ
luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ
ban vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự thẩm 18.293.000đ (mười tám triệu hai trăm chín mươi ba nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30-12-2016 của y ban vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo
Nguyễn Thị H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã
có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDTC (Vụ I);
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng HSNV Công an tỉnh Lâm Đồng;
- CQTHAHS Công an tỉnh Lâm Đồng;
- TAND khu vực 7, tỉnh Lâm Đồng;
- VKSND khu vực 7, tỉnh Lâm Đồng;
- Phòng THADS khu vực 7 tỉnh Lâm Đồng;
- Bị cáo; NTGTTK;
- Lưu: Tổ HCTP, HS.
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Dương Hà Ngân
Tải về
Bản án số 74/2026/HS-PT Bản án số 74/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 74/2026/HS-PT Bản án số 74/2026/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất