Bản án số 121/2026/DS-PT ngày 20/04/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 121/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 121/2026/DS-PT ngày 20/04/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 121/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

NHÂN DANH
C CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH HI PHÒNG
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch to phiên tòa:
Bà Vũ Thị Thu Hà
Các Thm phán:
Ông Nguyn Hng Giang
Ông Nguyn Quang Kiên
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyn Hà Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành
ph Hi Phòng.
- Đại din Vin Kim sát nhân dân thành ph Hi Phòng tham gia phiên
tòa:Vũ Thị Trang Nhung - Kim sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2026, ti tr s Toà án nhân dân thành ph Hi Phòng
xét x phúc thm ng khai v án dân s phúc thm th s 284/2025/TLPT-DS
ngày 24 tháng 11 năm 2025 v việc “Yêu cầu công nhn hợp đồng chuyển nhượng
quyn s dụng đất.
Do Bn án n s thm s 15/2025/DS-ST ny 26 tháng 9 m 2025 ca Tòa
án nn n khu vc 13 - Hi Phòng có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa v án ra xét x phúc thm s 26/2026/QĐ-PT ngày 23
tháng 01 năm 2026; Quyết định hoãn phiên toà phúc thm s 102/2026/QĐ-PT ngày
11 tháng 02 năm 2026; Thông báo v việc thay đổi thi gian m phiên toà s 52/TB-
TDS ngày 09 tháng 3 năm 2026 Quyết định hoãn phiên toà phúc thm s
190/2026/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thanh Th, sinh năm 1978, CCCD số
037178001484 và ông Nguyễn Quốc Tr, sinh năm 1972, CCCD số 001072013570;
địa chỉ: Số 62 L, phường Phương Liệt, thành phố Nội; ông Tr vắng mặt, bà Th
có mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Quốc Tr: Nguyễn Thị Thanh
Th, sinh năm 1978; địa chỉ: Số 62 L, phường Phương Liệt, thành phố Nội - đại
diện theo u quyền (Giấy uỷ quyền ngày 12/6/2024); có mặt.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH HI PHÒNG
Bản án số: 121/2026/DS-PT
Ngày 20-04-2026
V/v yêu cu công nhn hợp đồng
chuyển nhượng quyn s dụng đất
CNG HOÀ XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
2
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1961, CCCD số 030061000469 và bà
Hoàng Thị Ng, sinh năm 1964, CCCD số 030164016070; địa chỉ: Thôn Đỗ Xá,
V, thành phố Hải Phòng; đều vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1986,
CCCD số 030086003857; địa chỉ: Thôn Đỗ Xá, xã V, thành phố Hải Phòng - là đại
diện theo uỷ quyền (Giấy uỷ quyền ngày 21/11/2024) Nguyễn Thị Thu H, sinh
năm 1984, CCCD số 030184011526; địa chỉ: Xóm 5, thôn Đỗ Xá, xã V, thành phố
Hải Phòng; đều có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Đỗ Thị Th - Luật sư
Công ty Luật TNHH M và Cộng sự, thuộc đoàn Luật sư thành phố Hà Nội; địa chỉ:
Tầng 3, số 27 đường Tr, phường Yên Hoà, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Uỷ ban nhân dân xã V, thành phố Hải Phòng; địa chỉ trụ sở: Thôn D, xã V,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Ông Văn H, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn Tràng, xã Mao Điền, thành
phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị Ngbị đơn.
Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Hải
Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Th Thanh Th và ông Nguyễn Quốc Tr trình bày:
Ngày 19/9/2011, vợ chồng Nguyễn Thị Thanh Th, ông Nguyễn Quốc Tr
đã ký hợp đồng chuyển nhượng với vợ chồng ông Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị Ng
đối với 02 thửa đất: Thửa đất thứ nhất có diện tích 30.693m², số thửa 193, tờ bản đồ
15 tại địa chỉ xã N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nayV, thành phố Hải
Phòng) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất s AM 096331 cấp ngày 23/5/2008
mang tên ông Nguyễn Văn S. Thửa thứ hai thửa đất diện tích 10.000m² tại Ứng
Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay V, thành phố Hải Phòng) đang
đề nghị UBND huyện Ninh Giang cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Giá
chuyển nhượng 18.500.000.000 đồng, vợ chồng đã thanh toán cho ông S,
Ng số tiền 10.500.000.000 đồng thể hiện tại biên bản giao nhận tiền đặt cọc ngày
19/9/2011 và biên bản giao nhận tiền chuyển nhượng ngày 30/9/2011; theo đó ông
S, Ng đã nhận đủ số tiền 10.500.000.000 đồng. Theo thỏa thuận, ngày 14/01/2012
vợ chồng tiếp tục thanh toán cho ông S, bà Ng stiền 1.000.000.000 đồng tại
Ngân hàng nông nghiệpiệp và phát triển nông thôn Việt Nam để giãn nợ khoản vay
của ông S, Ng tại Ngân hàng. Ngày 22/3/2012, vợ chồng Th tiếp tục thanh
toán cho ông S, Ng số tiền 4.000.000.000 đồng tại Ngân hàng nông nghiệp phát
triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Ninh Giang để ông S, bà Ng trả nợ nốt số tiền
còn lại cho Ngân hàng nhận lại bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AM 906331 từ Ngân ng giao lại cho vợ chồng ông, quản lý. Trước tết nguyên
3
đán năm 2011, con trai của ông S, Ng anh Nguyễn Văn Bắc và em trai là ông
Nguyễn Văn đến nhà vợ chồng ông Th, bà S để nhận trước số tiền chuyển nhượng
300.000.000 đồng. Như vậy, stiền chuyển nhượng vchồng ông S, Ng nhận
từ vợ chồng ông, tổng số tiền 15.800.000.000 đồng; số tiền còn lại 2.700.000.000
đồng, hai bên thỏa thuận với nhau, vợ chồng ông, sẽ trả nốt số tiền còn lại cho
ông S, Ng ngay sau khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên vchồng
ông, bà.
Ngày 22/3/2012, vợ chồng ông, bà đã ký hợp đồng chuyển nhượng qua công
chứng với ông S, Ng tại Văn phòng công chứng Hoàng Long, số 272, quyển số
01.2012 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 22/3/2012, ông S, Ng cam kết mọi thủ tục liên
quan đến việc sangn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thực hiện trong vòng 03
tháng kể từ ngày ký công chứng 22/3/2012. Đến nayTh, ông Tr chưa nhận được
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất nêu trên mang tên ông, bà.
Ông S Ng cũng không thanh toán các khoản tiền gốc lãi, không chịu trả tiền
cũng như không chịu thực hiện thỏa thuận trong hợp đồng; vậy Th, ông Tr khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Yêu cầu vchồng ông Nguyễn Văn S, Hoàng Thị Ng tiếp tục thực hiện
hợp đồng mua bán, những cam kết về chuyển quyền sử dụng đất cùng những tài sản
trên đất theo hợp đồng mua bán vợ chồng ông đã ký kết, công chứng. Đối với
thửa đất đã giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 30.693m² phải thực hiện thủ
tục sang tên, bàn giao đất và tài sản trên đất cho vợ chồng ông, bà. Đối với diện tích
đất 10.000m² phải bàn giao đất, tài sản trên đất cho vợ chồng ông, bà, đồng thời hỗ
trợ vợ chồng ông, bà làm việc với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để sang tên
dự án cho vợ chồng ông, bà.
Đối với các yêu cầu phản tố của bị đơn đề nghị Tòa án: Tuyên hiệu biên
bản giao nhận tiền đặt cọc ngày 19/9/2011 biên bản giao nhận tiền chuyển nhượng
ngày 30/9/2011 giữa ông Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị Thanh Th. Xác định
nguyên đơn chỉ thanh toán stiền chuyển nhượng cho bị đơn 5.300.000.000 đồng
(năm tỷ ba trăm triệu đồng) để làm căn cứ giải quyết hậu quả pháp lý ca hợp đồng
vô hiệu, ông, bà không nhất trí.
Bị đơn ông Nguyễn n S, Hoàng ThNg trìnhy:
Xác định giữa hai bên ông S, Ng kết với ông Nguyễn Quốc Tr;
Nguyễn Thị Thanh Th tổng 05 bản hợp đồng (02 hợp đồng ký vào ngày 19/09/2011
và 03 hợp đồng ký ngày 22/03/2012). Trong đó có 01 hợp đồng ký ngày 22/03/2012
được công chứng tại Văn phòng Công chứng Hoàng Long. Còn lại 02 hợp đồng
ngày 19/09/2011 được đánh máy 02 hợp đồng viết tay ngày 22/03/2012
không được công chứng. Trong 05 bản hợp đồng trên đều không nói bản hợp đồng
nào giá trị cuối cùng, bản hợp đồng nào có giá trị thay thế cho hợp đồng khác. V
chủ thể ký kết trong các hợp đồng sự mâu thuẫn, không thống nhất. Trong 02 bản
hợp đồng ngày 19/09/2011, chủ thể ký kết bên chuyển nhượng chông Nguyễn
Văn S; bên nhận chuyển nhượng chỉ có bà Nguyễn Thị Thanh Th. Trong khi 02 hợp
4
đồng viết tay 01 hợp đồng công chứng ngày 22/03/2012, chủ thể kết bên
chuyển nhượng cả ông S, Ng và bên nhận chuyển nhượng ông Nguyễn
Quốc Tr và bà Nguyễn Thị Thanh Th. Về đối tượng hợp đồng smâu thuẫn,
không thống nhất giữa các hợp đồng và có nội dung vi phạm quy định của pháp luật
như sau: Trong 02 hợp đồng ngày 19/09/2011 giữa ông Nguyễn Văn S với
Nguyễn Thị Thanh Th 02 hợp đồng viết tay ngày 22/03/2012 giữa ông S,
Ng với ông Nguyễn Quốc Tr, bà Nguyễn Thị Thanh Th đối tượng hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tài sản trên đất của 02 thửa đất: thửa đất số 193,
tờ bản đồ số 15, diện tích 30.693m² tại xã N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương và
thửa đất diện tích 10.000m² tại Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Trong khi tại hợp đồng được công chứng ký ngày 22/03/2012 giữa ông S, bà Ng với
ông Nguyễn Quốc Tr, Nguyễn Thị Thanh Th đối tượng hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất cho thuê và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 193,
tờ bản đồ số 15, diện tích 30.693m² tại N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Thửa đất số 193, tờ bản đồ số 15, diện tích 30.693m² tại N, huyện Ninh Giang,
tỉnh Hải Dương có nguồn gốc là đất nhà nước cho thuê trả tiền hàng năm, riêng thửa
đất diện tích 10.000m² tại Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương chưa
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định tại Điều 114 Luật Đất
đai năm 2003; hộ gia đình, nhân chỉ được chuyển nhượng tài sản gắn liền trên
thuộc sở hữu của mình. vậy, tất cả các hợp đồng đã giữa chúng tôi với ông
Nguyễn Quốc Tr, bà Nguyễn Thị Thanh Th nội dung chuyển nhượng quyền s
dụng đất của 02 thửa đất trên là trái với quy định của pháp luật. Đối tượng được phép
chuyển nhượng trong các hợp đồng đã ký giữa ông S, bà Ng với ông Tr, Thtài
sản gắn liền trên đất. Tuy nhiên những tài sản trên thửa đất số 193, tờ bản đồ số 15,
diện tích 30.693m² và thửa đất diện tích 10.000m² đều chưa đăng ký biến động đất
đai nên chưa được công nhận tài sản để chuyển nhượng. Trong hợp đồng công
chứng ngày 22/03/2012 ghi “Biên bản c minh hiện trạng, nguồn gốc nhà đất
tài sản trên đất” nhưng không thấy trong hồ sơ. Tại thời điểm chuyển nhượng
các bên không thỏa thuận là chuyển nhượng cụ thể những tài sản nào trên đất. Do
đó, đối tượng của hợp đồng thuộc trường hợp không thể thực hiện được. Ngoài ra,
thửa đất diện tích 10.000m² tại xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương đến
thời điểm này vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đủ
điều kiện để giao dch theo quy định của pháp luật.
Như vậy, các hợp đồng thỏa thuận ngày 19/09/2011 và ngày 22/03/2012 giữa
ông S, bà Ng với ông Tr, bà Th là giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của pháp luật.
Căn cứ theo Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 về điều khoản chuyển tiếp đáp
dụng Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao dịch dân sự mục đích,
nội dung vi phạm điều cấm, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”.
Các bên không thống nhất về giá chuyển nhượng trong các hợp đồng, có hành
vi giả tạo, che giấu về giá trong giao dịch. Trong hợp đồng công chứng ngày
22/03/2012 giữa ông S, bà Ng ông Tr, bà Th; giá ghi trên hợp đồng là
1.500.000.000 đồng. Nhưng trong các hợp đồng khác giá chuyển nhượng lại ghi
5
18.500.000.000 đồng, cho thấy giá ghi trên hợp đồng được công chứng là giao dịch
giả tạo, có sự che giấu về giá, vi phạm Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao
dịch dân sự vô hiệu do giả tạo. Việc có sự khác nhau về giá trên các hợp đồng là do
phía nguyên đơn yêu cầu, ghi giá thấp trên hợp đồng chuyển nhượng công chứng
để họ nộp thuế ít hơn, còn giá trên các hợp đồng không công chứng là giá trị thật hai
bên đã thỏa thuận.
Về giá trị đã thanh toán: Việc ông Nguyễn Quốc Tr và bà Nguyễn Thị Thanh
Th cho rằng đã thanh toán tiền chuyển nhượng cho ông S, Ng số tiền
15.800.000.0000 đồng không đúng sự thật. Thực tế ông S, Ng chỉ nhận của ông
TrTh số tiền là 5.300.000.000 đồng. Số tiền 10.500.000.000 đồng mà ông Tr
Th cho rằng đã thanh toán theo Biên bản giao nhận tiền đặt cọc ngày
19/09/2011 Biên bản giao nhận tiền chuyển nhượng ngày 30/09/2011 hoàn toàn
không có thật. Phía nguyên đơn sau khi các bên bản nhưng không giao tiền cho
bị đơn. Khi mới xảy ra tranh chấp giữa hai bên thì ông Tr và bà Th chỉ yêu cầu ông
S, Ng phải trả lại 5.300.000.000 đồng. Ông Tr Th cũng đơn gửi các
quan chức năng huyện Ninh Giang về việc đã thanh toán cho ông S, Ng số tiền
5.300.000.000 đồng nhưng chưa được nhận tài sản theo hợp đồng chuyển nhượng
và đề nghị các quan chức năng huyện Ninh Giang dừng việc sang tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, đồng thời đòi lại số tiền 5.300.000.000 đồng từ ông S,
Ng. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về thời
hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự thì vụ án này đã hết thời hiệu
khởi kiện. Do vậy, đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng quy định pháp luật về thời hiệu
khởi hiện vụ án dân sự để đình chỉ vụ án. Quan điểm của bị đơn không chấp nhận
toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Yêu cầu phản tố của bđơn: Đề nghị tuyên vô hiệu các hợp đồng đã và các
biên bản giao nhận tiền giữa hai bên. Xác định nguyên đơn chỉ thanh toán số tiền
chuyển nhượng cho bị đơn là 5.300.000.000 đồng để làm căn cứ giải quyết hậu quả
pháp của hợp đồng hiệu. Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 184 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 về thời hiệu khởi kiện vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã V trình bày:
Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ đối với thửa đất 193, tờ bản đồ số 15 tại
N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay V, thành phố Hải Phòng) theo
GCNQSDĐ mang tên ông Nguyễn Văn S có diện tích 30.693m². Hiện trạng tại buổi
đo vẽ thẩm định là 32.991m² có sự chênh lệch về số liệu là do sai số về đo đạc chưa
trừ diện ch hành lang đường giao thông, hthống bờ lô, bờ thửa và hệ thống Th
lợi. Đề nghị Tòa án căn cứ theo diện tích cấp giấy chứng nhận để giải quyết theo quy
định của pháp luật.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Văn H trình bày: Ông là chủ
hộ kinh doanh thể Văn H chuyên sản xuất linh kiện khí chính xác. Do
nhu cầu thuê nhà xưởng mở rộng sản xuất kinh doanh nên năm 2017, ông ký Hợp
đồng thuê mặt bằng dựng xưởng sản xuất với vợ chồng ông S, Ng khoảng 500m²;
6
thời hạn thuê 01 năm 01 lần. Sau khi Hợp đồng ông đã dựng khung nhà xưởng
để sản xuất. Đến hết ngày 31/12/2025 là hết hạn Hợp đồng thuê, ông sẽ không tiếp
tục ký Hợp đồng thuê tiếp vì đã chuyển toàn bộ thiết bị máy móc sang nhà máy mới
xây dựng gần đó để sản xuất. Ông Hợp đồng thuê với stiền 10 triệu/tháng
đóng sản lượng cho bà Ng. Ông chỉ biết ký Hợp đồng với ông S, Ng chứ không
biết việc ông S, Ng đã chuyển nhượng cho bà Th, ông Tr. Cuối năm 2025, khi hết
Hợp đồng thuê ông sẽ tháo dỡ toàn bộ máy móc, trang thiết bị để trả lại hiện trạng
cho ông S, bà Ng.
Ti bn án dân s thẩm s 15/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 ca
Tòa án nhân dân khu vc 13 - Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ Điều 688, 689, 690, 697, 698, 699, 700, 701, 702 Bộ luật dân sự năm
2005; khoản 2 Điều 129 B luật dân sự năm 2015; khon 3 Điu 26, khoản 3 Điu 35,
điểm a khoản 1 Điu 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều
228, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 82, Điều 106 Luật Đất đai năm 2003;
Luật phí và lệ phí; điểm a Mục 2.3 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ- TP ngày
18/10/2004 của Hội đồng thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh Th ông
Nguyễn Quốc Tr:
- Công nhận hiệu lực của hợp đồng mua bán nhà xưởng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn S, Hoàng Thị Ng Nguyễn Thị
Thanh Th, ông Nguyễn Quốc Tr được lập thành văn bản đề ngày 19/9/2011
ngày 22/3/2012.
- Công nhận Nguyễn Thị Thanh Th ông Nguyễn Quốc Tr được quyền
sử dụng hợp pháp thửa đất có diện tích 30.693m², số thửa 193, tờ bản đồ 15 tại địa
chỉ N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay V, thành phố Hải Phòng)
theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 096331 cấp ngày 23/5/2008 mang
tên ông Nguyễn Văn S và tài sản trên đất.
- Giao cho bà Nguyễn Thị Thanh Th ông Nguyễn Quốc Tr được quản lý,
sử dụng thửa đất diện tích 30.693m², số thửa 193, tờ bản đồ 15 tại địa chỉ N,
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay V, thành phố Hải Phòng) theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 096331 cấp ngày 23/5/2008 mang tên ông
Nguyễn Văn S theo hình A1, B1, B2, A7, A8 đến A1 (có sơ đồ kèm theo).
Tạm giao cho Nguyễn Thị Thanh Th, ông Nguyễn Quốc Tr tiếp tục quản
đối với diện tích 2.298m² đất hành lang đường giao thông, bờ lô, bờ thửa, hệ thống
Th lợi. Giao cho bà Nguyễn Thị Thanh Th, ông Nguyễn Quốc Tr quản lý, sử dụng
toàn bộ tài sản trên đất gồm: 07 ao nuôi trồng Th sản diện tích (1992,7m²; 1958,5m²;
3066,2m²; 6416,8m²; 2923,2m²; 756,4m²; 3487,4m²); bể 3,9m²; kho 19,6m², Nhà
bảo vệ: 71,3m²; lán tôn 7,3m²; Nhà khử trùng 81,9m²; Nhà cấp 4: 99,2m²; mái tôn
79,5m²; Bể 30,8m²; Nhà tắm 8,6m²; Nhà vệ sinh 7,6m²; mái tôn 14,6m²; Nhà mái
7
bằng 79,3m²; Nhà cấp 4 53,7m²; 02 mái tôn mỗi mái là 16,4m²; Chuồng lợn diện
tích (443,2m²; 631m²; 638,3m²; 709,7m²; 427,5m²; 429,3m²; 850,4m²); Nhà kho
19,6m²; Bể 20,6m²; lán tôn 12,3m² (có sơ đồ kèm theo).
Ông Nguyễn Quốc Tr, Nguyễn Thị Thanh Th được kế thừa quyền và nghĩa
vụ đối với thửa đất diện tích 10.000m² (hiện trạng thẩm định còn lại 6.721,5 m² do
Nhà nước đã giải phóng mặt bằng một phần để làm đường quốc lộ 37) xã Ứng Hòe,
huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay V, thành phố Hải Phòng) đang thực
hiện giao khoán theo hợp đồng số 123 ngày 01/01/2025, thời hạn 02 năm từ ngày
01/01/2025 đến 31/12/2026. Giao cho bà Nguyễn Thị Thanh Th, ông Nguyễn Quốc
Tr quản lý, sử dụng toàn bộ tài sản trên đất gồm: nhà cấp 4 (21,9m² và 23,1m²); kho
15,4m²; mái tôn 75m²; Nhà cấp 4 16,3m²; Chuồng lợn (166,5m² 255,4m²); bể
6,1m²; Nhà cấp 4 144, 4m²; Ao 2714,4m² và 1172,2m² (có sơ đồ kèm theo).
Ông Nguyễn Quốc Tr và bà Nguyễn ThThanh Th có trách nhiệm liên hệ với
các cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng quyền sử dụng đất theo quy
định của pháp luật.
2. Nguyễn Thị Thanh Th, ông Nguyễn Quốc Tr phải nghĩa vụ thanh
toán nốt stiền chuyển nhượng 2.700.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn S,
Hoàng Thị Ng hợp đồng mua bán nhà xưởng và chuyển nhượng quyền sử dụng đất
ngày 19/9/2011 và ngày 22/3/2012.
Kể từ ngày Bản án hiệu lực pháp luật, người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án bên nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối
với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do
chậm trả tiền được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về án phí: Ông Nguyễn Văn S, Hoàng Thị Ng thuộc trường hợp được
miễn án phí sơ thẩm.
Trả lại Nguyễn Thị Thanh Th ông Nguyễn Quốc Tr số tiền 300.000 đồng
đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (cũ) nay
Phòng thi hành án dân sự khu vực 13 - Hải Phòng theo biên lai thu số
BLTU/24/0001439 ngày 08/11/2024.
Ngoài ra bn án còn quyết đnh v quyn kháng o ca đương sự.
Sau khi xét x thẩm, ngày 06/10/2025, b đơn ông Nguyễn Văn S
Hoàng Th Ng đơn kháng cáo đề ngày 06/10/2025, yêu cu Toà án cp phúc thm
sa bản án sơ thm, không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn, chấp nhn
toàn b yêu cu phn t ca b đơn, cụ th:
- Tuyên hiu tt c Hợp đồng đã các Biên bn giao nhn tin gia
hai bên.
- Xác định nguyên đơn chỉ thanh toán s tin chuyển nhượng cho b đơn
5.300.000.000 đồng để làm căn cứ gii quyết hu qu pháp ca hợp đng hiu.
8
Ngày 10/10/2025, Vin trưng Vin kim sát nhân dân khu vc 13 - Hi Phòng
ban hành Quyết định kháng ngh phúc thm s 14/QĐKNPT-VKS-DS đối vi Bn án
dân s thẩm s 15/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân n
khu vc 13 - Hi Phòng. Ni dung kháng ngh: Kháng ngh toàn b Bn án dân s
thm s 15/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 ca Toà án nhân dân khu vc 13
- Hi Phòng theo th tc phúc thm. Đề ngh Toà án nhân n thành ph Hi Phòng
xét x phúc thm hu Bn án dân s thẩm s 15/2025/DS-ST ngày 26 tng 9 năm
2025 ca Toà án nhân dân khu vc 13 - Hi Phòng để gii quyết lại theo đúng quy
định ca pháp lut.
Ti giai đoạn chun b xét x phúc thm tại phiên toà, nguyên đơn bị đơn
đã thoả thun được vi nhau v vic gii quyết toàn b ni dung v án đề ngh T
án cp phúc thm sa bản án thẩm theo hướng công nhn s tho thun ca các
đương sự. C th:
- Ông Nguyễn Văn S, Hoàng Th Ng đồng ý chuyển nhưng cho Nguyn
Th Thanh Th, ông Nguyn Quc Tr tài sn gn lin vi đất, quyền thuê đất đối vi
các tha đất:
+ Thửa đất diện tích 30.693m² cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất, số thửa
193, tờ bản đ 15 tại địa chỉ xã N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay là xã V,
thành phố Hải Phòng) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 096331 cấp
ngày 23/5/2008 mang tên ông Nguyễn Văn S.
+ Thửa đất diện tích 10.000m² (hiện trạng thẩm định còn lại 6.721,5 m² do
Nhà nước đã giải phóng mặt bằng một phần để làm đường quốc lộ 37) cùng toàn b
tài sản gắn liền với đất tại xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay là
V, thành phố Hải Phòng) đang thực hiện giao khoán theo hợp đồng số 123 ngày
01/01/2025, thời hạn 02 năm từ ngày 01/01/2025 đến 31/12/2026.
- Bà Nguyễn Th Thanh Th, ông Nguyễn Quốc Tr phải nghĩa vụ thanh toán
nốt số tiền chuyển nhượng các tài sản nêu trên 6.500.000.000 đồng cho ông
Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị Ng. Việc thanh toán được thực hiện theo 03 đợt:
+ Đợt 1: Ngày 20/04/2026, nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn s tiền
4.550.000.000 đồng (Số tiền này đã được các bên thanh toán cho nhau trước thời
điểm mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án).
+ Đợt 2: Ngày 05/5/2026, nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn số tiền
650.000.000 đồng.
+ Đợt 3: Ngay sau khi nguyên đơn Nguyn Th Thanh Th, ông Nguyn
Quc Tr được quan nhà nước thẩm quyền chấp thuận đăng biến động quyền
thuê đất đối với thửa đất diện tích 30.693m², sthửa 193, tờ bản đồ 15 tại địa chỉ xã
N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay V, thành phố Hải Phòng) theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 096331 cấp ngày 23/5/2008 mang tên ông
Nguyễn Văn S, nguyên đơn sẽ thanh toán nốt cho bị đơn số tiền 1.300.000.000 đồng.
9
Bị đơn trách nhiệm phối hợp với nguyên đơn thực hiện các thủ tục sang
tên tài sản gắn liền với đất, quyền thuê đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật t tụng dân sự: Từ khi thụ lý cho đến khi tuyên án,
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã chấp hành
đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân
khu vực 13 - Hải Phòng là có phần có căn cứ tuy nhiên tại phiên toà phúc thẩm, các
đương sự đã thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án. Đề
nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự,
sửa bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Về án
phí đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cu các tài liu trong h vụ án được thm tra ti phiên t
căn cứ vào kết qu tranh lun ti phiên toà, Hội đng xét x nhận định:
- V t tng:
[1] V quan h pháp lut và thm quyn gii quyết: Toà án nhân dân khu vc
13 - Hi Phòng xác định quan h pháp lut tranh chp và thm quyn gii quyết v
án đúng theo quy đnh ti khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khon
1 Điều 39 ca B lut T tng dân s.
[2] V vic vng mt ca những người có quyn li, nghĩa v liên quan: Ti
phiên toà, những người có quyn li, nghĩa v liên quan là U ban nhân dân xã V,
thành ph Hải Phòng và ông Vũ Văn H đã được Toà án triu tp hp l đến ln th
ba nhưng vắng mặt không do. Căn cứ Điu 296 B lut T tng dân s, Hi
đồng xét x tiến hành xét x vng mặt các đương s trên.
- V ni dung:
+ Xét yêu cu kháng cáo ca b đơn:
[3] Sau khi xét x thẩm, b đơn có đơn kháng cáo, nội dung kháng cáo đ
ngh Hội đồng xét x phúc thm sa bản án sơ thẩm theo hướng chp nhn toàn b
yêu cu phn t ca b đơn, không chp nhn yêu cu khi kin của nguyên đơn.
[4] Tuy nhiên, ti giai đoạn chun b xét x phúc thm và ti phiên toà phúc
thẩm, các đương sự đã thống nht vi nhau v vic gii quyết toàn b ni dung v
án đề ngh Hội đồng xét x cp phúc thm ghi nhn s tho thun của các đương
s. C th các bên đương sự tho thuận như sau:
[4.1] Ông Nguyễn Văn S, Hoàng Th Ng đồng ý chuyển nhượng cho
Nguyn Th Thanh Th, ông Nguyn Quc Tr tài sn gn lin vi đất, quyn thuê đất
đối vi các thửa đất:
10
[4.1.1] Thửa đất diện tích 30.693m² cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất, số
thửa 193, tờ bản đồ 15 tại địa chỉ N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay là
V, thành phố Hải Phòng) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 096331
cấp ngày 23/5/2008 mang tên ông Nguyễn Văn S.
[4.1.2] Thửa đất diện tích 10.000m² (hiện trạng thẩm định còn lại 6.721,5 m²
do Nhà nước đã giải phóng mặt bằng một phần để làm đường quốc lộ 37) cùng toàn
bộ tài sản gắn liền với đất tại xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay
V, thành phố Hải Phòng) đang thực hiện giao khoán theo hợp đồng số 123 ngày
01/01/2025, thời hạn 02 năm từ ngày 01/01/2025 đến 31/12/2026.
[4.2] Bà Nguyễn Thị Thanh Th, ông Nguyễn Quốc Tr phải có nghĩa vụ thanh
toán nốt số tiền chuyển nhượng các tài sản nêu trên là 6.500.000.000 đồng cho ông
Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị Ng. Việc thanh toán được thực hiện làm 03 đợt:
[4.2.1] Đợt 1: Ngày 20/04/2026, nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn số tiền
4.550.000.000 đồng (Số tiền này đã được các bên thanh toán cho nhau trước thời
điểm mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án nên các bên đương sự chỉ đề nghị Toà án
ghi nhận sự thoả thuận đối với số tiền còn lại chưa thanh toán của đợt 2, 3)
[4.2.2] Đợt 2: Ngày 05/5/2026, nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn số tiền
650.000.000 đồng.
[4.2.3] Đợt 3: Ngay sau khi nguyên đơn Nguyn Th Thanh Th, ông Nguyn
Quc Tr được quan nhà nước thẩm quyền chấp thuận đăng biến động quyền
thuê đất đối với thửa đất diện tích 30.693m², sthửa 193, tờ bản đồ 15 tại địa chỉ xã
N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay V, thành phố Hải Phòng) theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 096331 cấp ngày 23/5/2008 mang tên ông
Nguyễn Văn S, nguyên đơn sẽ thanh toán nốt cho bị đơn số tiền 1.300.000.000 đồng.
[4.3] Bị đơn trách nhiệm phối hợp với nguyên đơn thực hiện các thủ tục
sang tên tài sản gắn liền với đất, quyền thuê đất 02 thửa đất nêu trên tại cơ quan nhà
nước có thẩm quyền.
+ Xét kháng ngh ca Vin kim sát nhân dân khu vc 13 - Hi Phòng:
[5] Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Hải Phòng kháng nghị cho rằng việc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên không đúng quy định của pháp luật
đất đai; việc xác định số tiền đã thanh toán chưa đầy đủ căn cứ và cấp sơ thẩm chưa
giải quyết hết yêu cầu phản tố của bị đơn, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp
của đương sự.
[6] Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, các đương
sự đã tự nguyện thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn b nội dung vụ án
cùng đề nghị Toà án ghi nhận. Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
thành phố phát biểu quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300, khoản 2
Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án thẩm theo hướng công
nhận sự thoả thuận của các đương sự.
11
[7] Hội đồng xét xử xét thấy ông S Ng người s dng diện tích đất
sn xut nông nghip do Nhà nước cho thuê đối vi 02 thửa đất nêu trên theo hình
thc tr tiền thuê đất hằng năm. Theo quy định ca pháp luật đất đai hiện hành, đối
với trường hp thuê đất tr tin hằng năm, người s dụng đt không quyn chuyn
nhưng quyn s dụng đất, nhưng được thc hin quyn bán tài sn gn lin với đất
chuyn giao quyn thuê trong hợp đồng thuê đất nếu đáp ứng đủ điu kin lut
định.
[8] Về điều kiện thực hiện quyền: Căn cứ Điều 46 Luật Đất đai năm 2024,
người sử dụng đất thuê trả tiền hằng năm được bán tài sản gắn liền với đất và quyền
thuê trong hợp đồng thuê đất khi đủ các điều kiện: (i) tài sản gắn liền với đất được
tạo lập hợp pháp đã được đăng theo quy định; (ii) việc xây dựng, đầu phù
hợp với quy hoạch, dự án được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (nếu thuộc trường
hợp phải lập dán); (iii) đã ứng trước tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định mà chưa
được khấu trừ hết vào tiền thuê đất phải nộp. Đối chiếu với các điều kiện nêu trên,
Hội đồng xét xử xét thấy: Các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ thhiện tài sản gắn liền
với đất của ông S Ng được hình thành trong quá trình sử dụng đất hợp pháp,
phù hợp với mục đích sử dụng đất nông nghiệp đã được Nhà nước cho thuê; việc
đầu tư, xây dựng tài sản gắn liền với đất không trái với quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất tại địa phương; không có tài liệu nào thể hiện việc vi phạm quy hoạch hoặc xây
dựng trái phép. Về nghĩa vụ tài chính liên quan đến thực hiện việc ứng trước tiền bồi
thường, hỗ trợ (nếu phát sinh), do hiện nay 02 thửa đất không nằm trong quy
hoạch, vẫn còn trong thời hạn thuê nên không phát sinh việc ứng trước tiền bồi
thường, hỗ trợ theo điểm b khoản 2 Điều 46 Luật Đất đai năm 2024.
[9] Về tính hợp pháp của giao dịch: Ông S và bà Ng đáp ứng đầy đủ các điều
kiện để bán tài sản gắn liền với đất và chuyển giao quyền thuê trong hợp đồng thuê
đất theo quy định pháp luật. Giao dịch giữa các bên, xét vbản chất, giao dịch
chuyển giao tài sản gắn liền với đất kèm theo quyền thuê đất, không phải là chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; do đó không thuộc trường hợp bị pháp luật cấm.
[10] V án phí dân s sơ thẩm: Các đương s tho thun nguyên đơn, bị đơn
mi bên chu ½ nghĩa v án phí dân s thẩm. Căn c khoản 3 Điều 147 B lut
T tng dân s; khoản 5 Điều 29 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 ca Ủy ban Thường v Quc hi quy định v mc thu, min, gim, thu,
np, qun và s dng án p và l pTòa án thì tng s tin án phí dân s sơ thẩm
các bên phi np 70.500.000 đồng. Theo đó, ông Tr Th phi chu 35.250.000
đồng; ông S Ng phi chịu 35.250.000 đồng nhưng ông S Ng thuộc trường
hợp được min án phí dân s sơ thẩm theo quy đnh ca pháp lut.
[11] Ti phiên toà phúc thm, mt s ngưi có quyn li, nghĩa v liên quan
vng mt. Tuy nhiên, xét thấy các đương smt tại phiên toà đã t nguyn tho
thuận được vi nhau v vic gii quyết toàn b ni dung v án không làm phát
sinh quyn, nghĩa v mới đối vi những người vng mặt. Căn cứ Điều 296 và Điu
300 B lut T tng dân s năm 2015, Hội đồng xét x xét thy vic vng mt ca
12
những người quyn li, nghĩa v liên quan không làm ảnh hưởng đến vic gii
quyết v án và vic ghi nhn s tho thun ca các đương sự.
[12] T các căn cứ và phân tích nêu trên, Hội đồng xét x phúc thm xét thy
tho thun gia các đương sự v vic gii quyết v án là t nguyn, không vi phm
điu cm ca pháp luật và không trái đạo đức hi nên cn chp nhận. Do đó, cần
sa bn án dân s sơ thm s 15/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 ca Toà án
nhân dân khu vc 13 - Hi Phòng theo ng công nhn s tho thun của các đương
s.
[13] V án phí dân s phúc thm: Căn cứ khoản 5 Điều 29 và điểm đ khon 1
Điu 12 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường
v Quc hi, b đơn phải chu án phí dân s phúc thẩm theo quy định ca pháp lut;
tuy nhiên, do b đơn thuộc trường hợp người cao tuổi đưc miễn án phí và đã đơn
xin miễn án phí nên đưc min án phí dân s phúc thm.
[14] Các phn khác trong quyết định ca bản án sơ thẩm không kháng cáo,
kháng ngh nên Hội đồng xét x phúc thm không gii quyết.
các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, Điều 147, Điều 148, Điu 300, khon 2 Điều 308, Điều 313 ca B lut T tng
dân s;
n cứ o điểm đ khoản 1 Điu 12, khon 5 Điu 29 ca Ngh quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Tng v Quc hội quy định v
mc thu, min, gim, thu, np, qun lý s dng án phí và l pTòa án,
X:
1. Sa Bn án dân s thẩm s 15/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
ca Toà án nhân dân khu vc 13 - Hải Phòng theo hướng công nhn s tho thun ca
các đương sự.
2. Tho thun của các đương sự c th như sau:
- Ông Nguyễn Văn S, Hoàng Th Ng đồng ý chuyển nhưng cho Nguyn
Th Thanh Th, ông Nguyn Quc Tr tài sn gn lin vi đất, quyền thuê đất đối vi
các tha đất:
+ Thửa đất diện tích 30.693m² cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất, số thửa
193, tờ bản đồ 15 tại địa chỉ xã N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay là xã V,
thành phố Hải Phòng) theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 096331 cấp
ngày 23/5/2008 mang tên ông Nguyễn Văn S theo các mốc A1 - B1 - B2 - A7 - A8
- A1 (có sơ đồ kèm theo).
13
+ Thửa đất diện tích 10.000m² (hiện trạng thẩm định còn lại 6.721,5 m² do
Nhà nước đã giải phóng mt bằng một phần để làm đường quốc l37) cùng toàn b
tài sản gắn liền với đất tại xã Ứng Hòe, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay là
V, thành phố Hải Phòng) đang thực hiện giao khoán theo hợp đồng số 123 ngày
01/01/2025, thời hạn 02 năm từ ngày 01/01/2025 đến 31/12/2026 theo các mốc A1
- A2 - A3 - A4 - A5 - A6 - A7 - A8 - A9 - A1 (có sơ đồ kèm theo).
- Bà Nguyễn Th Thanh Th, ông Nguyễn Quốc Tr phải nghĩa vụ thanh toán
nốt số tiền chuyển nhượng các tài sản nêu trên là 1.950.000.000 đồng cho ông
Nguyễn Văn S, bà Hoàng Thị Ng. Việc thanh toán được thực hiện làm 02 đợt:
+ Đợt 1: Ngày 05/5/2026, nguyên đơn sẽ thanh toán cho bị đơn số tiền
650.000.000 (u trăm năm mươi triệu) đồng.
+ Đợt 2: Ngay sau khi nguyên đơn Nguyn Th Thanh Th, ông Nguyn
Quc Tr được quan nhà nước thẩm quyền chấp thuận đăng biến động quyền
thuê đất đối với thửa đất diện tích 30.693m², sthửa 193, tờ bản đồ 15 tại địa chỉ xã
N, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (nay V, thành phố Hải Phòng) theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số AM 096331 cấp ngày 23/5/2008 mang tên ông
Nguyễn Văn S, nguyên đơn sẽ thanh toán nốt cho bị đơn số tiền 1.300.000.000 (một
tỷ, ba trăm triệu) đồng.
- Ông Nguyễn Văn S, Hoàng Th Ng trách nhiệm phối hợp với Nguyn
Th Thanh Th, ông Nguyn Quc Tr thực hiện các thủ tục đăng ký biến động tài sản
gắn liền với đất, quyền thuê đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Kể từ ngày ông S, Ngđơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án
xong, Th, ông Tr còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ
trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. V án phí dân s phúc thm: B đơn được min án phí dân s phúc thm
theo quy định ca pháp lut.
3. V án phí dân s sơ thẩm: Nguyn Th Thanh Th, ông Nguyn Quc Tr
phi nộp 35.250.000 đồng án phí dân s thẩm nhưng được tr vào s tin 300.000
đồng án phí dân s thẩm đã nộp theo Biên lai thu tm ng án phí, l phí Toà án s
0001439 ngày 08/11/2024 ti Chi cc Thi nh án dân s huyn Ninh Giang, tnh Hi
ơng (nay Phòng Thi hành án dân s khu vc 13 - Hi Phòng); Nguyn Th
Thanh Th, ông Nguyn Quc Tr còn phi np s tin 34.950.000 (Ba mươi tư triệu,
chín trămm mươi nghìn) đồng.
Trường hp bản án được thc hin theo quy định tại Điều 2 Lut Thi hành án
dân s đưc sửa đổi b sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phi
thi hành án dân s quyn tha thun thi hành án, quyn yêu cu thi hành án, t
nguyn thi hành án hoc b ng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điu 7,
14
Điều 7a Điu 9 ca Lut Thi hành án dân s đưc sửa đổi b sung năm 2014.
Thi hiu thi hành án dân s đưc thc hiện theo quy định tại Điều 30 Lut Thi hành
án dân s đưc sửa đổi b sung năm 2014.
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
Vũ Thị Thu Hà
Tải về
Bản án số 121/2026/DS-PT Bản án số 121/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 121/2026/DS-PT Bản án số 121/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất