Bản án số 20/2026/DS-PT ngày 20/04/2026 của TAND tỉnh Quảng Ninh về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 20/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 20/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 20/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 20/2026/DS-PT ngày 20/04/2026 của TAND tỉnh Quảng Ninh về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Quảng Ninh |
| Số hiệu: | 20/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 20/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khoẻ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG NINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 20/2026/DS-PT
Ngày 20-4-2026
“Tranh chấp về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂNTỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Bình Vân và Ông Dương Mạnh Chiến;
- Thư ký phiên tòa:Bà Bùi Phương Dung- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninhtham gia phiên
tòa:BàVũ Ngọc Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 20 tháng 4 năm 2026 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử
phúc thẩmcông khai vụ án dân sự thụ lý số 34/2026/TLPT-DS ngày 10/3/2026về
việc “Tranh chấpvề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Do bản án dân sự sơ
thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 23/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 1 -
Quảng Ninh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số
16/2026/QĐPT-DS ngày24/03/2026và Quyết định hoãn phiên tòa số
20/2026/QĐ-PTngày 06/4/2026của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, giữa các
đương sự:
1. Nguyên đơn:Anh Đỗ Duy T, sinh năm 1987; Nơi cư trú: tổ F, khu G,
phường H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền:anh Nguyễn Quang H, sinh năm 1989; Nơi
cư trú: tổ E, khu F, phường H, tỉnh Quảng Ninh.(Theo Hợp đồng uỷ quyền ngày
22/8/2025). Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bịđơn: Anh Phạm Hữu N, sinh năm 1982;Nơi cư trú: tổ F, khu A,
phường H, tỉnh Quảng Ninh.Có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:ChịHồ Thị V, sinh năm
1991;Nơi cư trú: tổ G, khu E, phường H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
4.Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Đỗ Duy T.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Đỗ
Duy T trình bày:
Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại địa chỉ: tổ C, khu C,
phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn trong quá trình tham
gia giao thông, anh Phạm Hữu N đã có hành vi dùng tay, chân đấm đá gây
thương tích cho anh Đỗ Duy T.
Anh T đã làm đơn tố giác ti phạm đến Công an phường C. Sau đó, vụ việc
của anh T đã đưc chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q để
thụ lý giải quyết. Ngày 03/6/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Q
ban hành Quyết định không khi tố vụ án hnh sự số 4816/QĐ-VPCQCSĐT đối
vi vụ việc của anh T.
Hậu quả là anh T bị chuẩn đoán chấn thương sọ não, gãy xương mũi, gãy
vách ngăn mũi, chấn thương phần mềm nhiều nơi, gây tổn hại về sức khỏe vi tỷ
lệ thương tích là 09% (chín phần trăm). Sau khi sự việc xảy ra, anh T đã phải
đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Q để điều trị vết thương trong thời gian 15 (mười
lăm) ngày; trong đó điều trị ni trú là 09 (chín) ngày, điều trị ngoại trú phục hồi
chức năng là 06 (sáu) ngày, kể từ 00 giờ 13 phút ngày 12 tháng 4 năm 2025 cho
đến ngày 27 tháng 4 năm 2025 và phải nhờ đến sự chăm sóc của chị Hồ Thị V1.
Các tổn thất về vật chất cụ thể như sau:i) Chi phí hp lý cho việc cứu chữa, điều
trị, khám chữa bệnh vi số tiền là 31.518.671đồng, chi tiết như bảng kê chi tiết
(đính kèm);ii) Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho tôi đưc xác định là 01 ngày
lương tối thiểu vùng cho 01 ngày khám, chữa bệnh (09 ngày) là: 4.960.000đ/26
x 09 = 1.716.923 đồng; iii)Thu nhập thực tế bị mất trong những ngày phải điều
trị cả ni trú và ngoại trú là 15 ngày x 2.000.000 đồng/ ngày = 30.000.000 đồng;
iv) Chi phí hp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc anh T cụ
thể như sau: Thu nhập thực tế bị mất cho người chăm sóc người bị thiệt hại đưc
xác định bằng 01 ngày lương cho 01 ngày chăm sóc tôi trong thời gian điều trị
ni trú là 09 ngày x 625.000 đồng/ngày = 5.625.000 đồng. Anh T đã tạm ứng
của Công ty số tiền này để chi trả cho chị V1 trong thời gian chị V1 nghỉ làm để
chăm sóc anh T, nay đề nghị Tòa án tuyên buc bị đơn ông Phạm Hữu N phải có
nghĩa vụ thanh toán số tiền này để anh T hoàn ứng cho Công ty của anh T; v)
Tổn thất về mặt tinh thần vi số tiền là 40.000.000đồng.Tổng thiệt hại là: (i) +
(ii) + (iii) + (iv) + (v) = 108.860.594đồng.Nguyên đơn anh T đề nghị Tòa án giải
quyết:
- Buc anh Phạm Hữu N phải xin lỗi công khai đối vi hành vi trái pháp
luật gây tổn hại đến sức khỏe, danh dự, tinh thần của anh T trong vụ việc nêu
trên.
3
- Buc anh Phạm Hữu N phải thanh toán các chi phí hp lý cho việc cứu
chữa, điều trị, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị giảm sút; thu nhập
thực tế bị mất trong những ngày phải nằm viện điều trị; chi phí hp lý và phần
thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại vi tổng số tiền là
108.860.594đồng, bao gồm cả số tiền 5.625.000 đồng là thu nhập thực tế bị mất
của người chăm sóc.
- Yêu cầu Toà án buc anh N phải trả lãi đối vi số tiền anh N phải thanh
toán cho anh T kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật đến khi anh N thanh toán
hết các khoản chi phí trên.
*/ Ngày 16/12/2025 anh T có đơn xin rút mt phần đơn khi kiện đối vi
số tiền yêu cầu anh N phải bồi thường cho anh, cụ thể anh chỉ yêu cầu anh N
phải bồi thường cho anh vi số tiền là 63.281.044đồng, gồm:i) Chi phí hp lý
cho việc cứu chữa, điều trị, khám chữa bệnh vi số tiền là 32.875.671đồng, chi
tiết như bảng kê chi tiết (đính kèm);ii) Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho anh T
đưc xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng cho 01 ngày khám, chữa bệnh (09
ngày) là: 4.960.000đ/26 ngày x 09 ngày = 1.716.923đồng;iii) Thu nhập thực tế
bị mất trong những ngày phải điều trị cả ni trú và ngoại trú là 15 ngày x
204.230 đồng/ngày = 3.063.450đồng;iv) Chi phí hp lý và phần thu nhập thực tế
bị mất của người chăm sóc cụ thể như sau: 09 ngày x 625.000 đồng/ngày =
5.625.000 đồng; v) Tổn thất về mặt tinh thần vi số tiền là 20.000.000
đồng.Tổng thiệt hại yêu cầu bồi thường là: (i) + (ii) + (iii) + (iv) + (v) =
63.281.044đồng.
*/ Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin
rút mt phần yêu cầu khi kiện đối vi phần bồi thường mục (iii) Thu nhập thực
tế bị mất trong những ngày phải điều trị cả ni trú và ngoại trú (15 ngày), ni
dung: trưc nguyên đơn yêu cầu bồi thường số tiền 204.230 đồng/ngày x 15
ngày = 3.063.450đồng, nay chỉ yêu cầu số tiền là 190.769 đồng/ngày x 15 ngày
= 2.861.535đồng.Tổng thiệt hại anh N phải có trách nhiệm thanh toán cho anh T
là: (i) + (ii) + (iii) + (iv) + (v) = 63.079.129đồng.
Bị đơn anh Phạm Hữu N trình bày:
Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 11/4/2025 anh có chạy xe ngõ G C thì
bị 01 xe ô tô màu trắng chặn lại không cho đi, anh có nháy đèn xe xin đường mà
xe trắng vẫn không cho đi. Anh có xuống nói chuyện vi người lái xe là “Đêm
hôm rồi chặn xe nhau làm g để cho nhau về” (người lái xe này sau này anh biết
tên là T). Anh T có lời qua tiếng lại vi anh, anh cố nói chuyện vi anh T nhưng
không đưc. Anh N đi về xe của anh N, anh T cũng về xe anh T nhưng không
hiểu sao anh T lại quay lại xe anh và nói những lời xúc phạm vi anh. Anh
xuống xe thì anh T chạy, anh nghĩ mọi chuyện vậy là thôi, anh lên xe thì anh T
lại quay lại xe chụp ảnh anh và nhổ nưc bọt vào mặt anh, anh có bức xúc đuổi
4
anh T nhưng bạn anh kéo lại nên anh lại lên xe. Anh đã không chấp người say
và lên xe để đi th anh T lại quay lại nhổ nưc bọt vào anh và đấm vào mặt anh.
Vì quá nhiều lần xúc phạm anh và đánh anh nên anh có xuống đánh lại anh T.
Sau này anh mi biết anh T đã tố cáo ra Công an và anh cũng đã lên Công an
làm việc nhưng v anh T sai ngay từ đầu và anh cũng đã bị Công an xử phạt vi
phạm hành chính. Anh nghĩ mọi chuyện đã kết thúc Công an. Nay anh T bắt
anh đền bù vi số tiền lên đến hơn 63.000.000 đồng, anh không chấp nhận bồi
thường cho anh T; đối vi yêu cầu của anh T buc anh phải xin lỗi công khai
anh cũng không chấp nhận, nếu anh T có mặt tại phiên toà thì anh sẽ xin lỗi anh
T tại phiên toà, nhưng anh T vắng mặt nên anh không xin lỗi.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên chị Hồ Thị V1 trình bày:Chị là kế toán
của công ty cổ phần T4 nơi anh Đỗ Duy T đang công tác. Ngày 12/4/2025 chị
nhận đưc thông tin anh Đỗ Duy T bị anh Phạm Hữu N gây thương tích nằm
viện tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q. Đưc sự cho phép của Ban giám đốc công
ty, chị đã dành thời gian chăm sóc anh T kể từ ngày 12/4/2025 đến ngày
21/4/2025 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q. Hiện nay, chị có thu nhập thực tế cụ
thể là 15.000.000 đồng/tháng. Anh Đỗ Duy T đã cung cấp các chứng từ thu nhập
của chị cho Tòa án. Đối vi các yêu cầu của nguyên đơn Đỗ Duy T, chị có quan
điểm là: không có ý kiến g đối vi các yêu cầu khi kiện và cũng không yêu
cầu anh Phạm Hữu N phải bồi thường thu nhập thực tế đã mất trong thời gian
chăm sóc anh Đỗ Duy T tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Q bi anh T đã tạm ứng tiền
công ty để chi trả cho chị trong thời gian nêu trên. Chị đề nghị Tòa án không
đưa chị vào là người có quyền li nghĩa vụ liên quan trong vụ án này và giải
quyết vụ án, xét xử vắng mặt chị. Đề nghị Tòa án xem xét và giải quyết theo quy
định của pháp luật.
* Tại Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm ngày 03/6/2025
của Công an có nội dung: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q nhận đưc
đơn tố giác về ti phạm của anh T do Công an phường C chuyển đến, Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã tiến hành giải quyết tố giác về ti phạm nêu
trên. Kết quả giải quyết đối vi tố giác về ti phạm trên như sau:
Khoảng 23 giờ 15 phút ngày 11/4/2025, tại tổ C, khu C, phường C, thành
phố H, tỉnh Quảng Ninh, do mâu thuẫn trong sinh hoạt, Phạm Hữu N dùng tay,
chân đánh gây thương tích cho anh Đỗ Duy T bị tổn hại 09% (chín phần trăm)
cơ thể. Tuy nhiên, hành vi của Phạm Hữu N không có tính chất côn đồ. Do vậy,
hành vi không cấu thành ti phạm nhưng đã vi phạm điểm a khoản 5 Điều 7
Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hi.
Đối vi anh Đỗ Duy T là người tạo tình huống gây mâu thuẫn trưc và có
hành vi dùng tay đánh anh N trưc, sau đó khi bị anh Phạm Hữu N dùng chân
đạp vào đùi th cũng đạp lại trúng chân anh N, nhưng không để lại thương tích
gì, anh N không đề nghị xử lý anh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q
chuyển tài liệu, hồ sơ đến Công an tỉnh Q để xử phạt hành chính theo quy định
5
của pháp luật. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã ra Quyết định không
khi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 157 của B luật tố tụng
hình sự.
* Tại Thông báo kết luận giám định ngày 25/4/2025 của Công an tỉnh Q có
nội dung: Kết quả khám giám định:
1. Chấn thương tháp mũi, gãy xương mũi và vách ngăn mũi đã đưc phẫu
thuật ni soi chỉnh hnh vách ngăn và nang xương chính mũi, hiện tại chức năng
th của mũi bnh thường: 09%; Chấn thương phần mềm vùng đỉnh chẩm và
cẳng bàn tay hai bên hiện đã khỏi, không để lại dấu vết bên ngoài, không để lại
di chứng: 0%.
2. Kết quả khám chuyên khoa Tai mũi họng: Chức năng th mũi bnh
thường.
3. Kết quả cận lâm sàng:
- CT- Scanner hàm mặt: Hình ảnh gãy xương mũi, gãy vách ngăn mũi.
- X- Q: Không thấy bất thường trên phim bàn tay hai bên.
- Điện não đồ: Hiện tại không thấy sóng điện não bệnh lý.
4. Kết quả khác: Không
Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019 của B Y
quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y,
giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Đỗ
Duy T tại thời điểm giám định là: 09% (chín phần trăm), áp dụng phương pháp
cng tại Thông tư số 22/2019/TT – BYT.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 23/01/2026 của Tòa
án nhân dânkhu vực 1 – Quảng Ninh đã quyết định:
- Chấp nhận mt phần yêu cầu khi kiện của nguyên đơn anh Đỗ Duy T.
Buc bị đơn anh Phạm Hữu N phải bồi thường cho anh Đỗ Duy T số tiền
32.085.502 đồng (Ba mươi hai triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn,năm trăm
linh hai đồng).
Kể từ ngày anh Đỗ Duy T có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành
án xong, anh Phạm Hữu N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của B luật Dân sự
năm 2015, trừ trường hp pháp luật có quy định khác.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buc bị đơn xin lỗi
công khai.
- Đnh chỉ xét xử đối vi phần yêu cầu khi kiện đã đưc nguyên đơn rút.
6
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phívà quyền kháng cáo của
các đương sự.
Ngày 04/02/2026,nguyên đơn anh Đỗ Duy T kháng cáo bản án sơ thẩm, đề
nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa mt phần bản án dân sự sơ thẩm theo hưng
buc anh Phạm Hữu N phải xin lỗi công khai do đã có hành vi trái pháp luật
xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của anh T.
Tại phiên toà phúc thẩm:Nguyên đơn anh Đỗ Duy T1 người đại diện theo
ủy quyền của nguyên đơn anh Nguyễn Quang H đều vắng mặt, có đơn đề nghị
xét xử vắng mặt và có quan điểm giữ nguyên ni dung kháng cáo. Bị đơn anh
Phạm Hữu N có quan điểm không đồng ý đối vi yêu cầu của anh T về việc
buc anh phải xin lỗi công khai.
Đại diện Viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng: Hi đồng xét xử phúc
thẩm, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định củaB luật Tố tụng
dân sự về việc xét xử phúc thẩm vụ việc; Các đương sự đã thực hiện đúng, đầy
đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Kháng cáo của
nguyên đơnanh Đỗ Duy T, thực hiện trong thời hạn luật định và hp lệ nên đưc
xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Về ni dung: căn cứ khoản 1 Điều
308 của B luật Tố tụng dân sự; đề nghị Hi đồng xét xử khôngchấp nhận kháng
cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơnanhĐỗ Duy T2 thực hiện trong
thời hạn luật định và hp lệ nên đưc xem xét, giải quyết theo trình tự phúc
thẩm. Căn cứ Điều 293 và Điều 308 của B luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa
án cấp phúc thẩm xem xét đối vi phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo. Trong vụ
án này, nguyên đơn anhĐỗ Duy T2 kháng cáo đối vi mt phần quyết định của
bản án sơ thẩm buc anh Phạm Hữu N phải xin lỗi công khai do đã có hành vi
trái pháp luật xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của anh
T2.Do đó, Hi đồng xét xử phúc thẩm xem xét tính có căn cứ, hp pháp của ni
dung kháng cáo nêu trên.
[2]. Về ni dung kháng cáo: anh T2 không đồng ý vi bản án sơ thẩm
không buc anh N phải xin lỗi công khai, anh yêu cầu anh Phạm Hữu N phải xin
lỗi công khai v đã có hành vi xâm phạm sức khỏe, gây thương tích cho anh.
7
Hi đồng xét xử thấy, tại Thông báo số 8917/TB-VPCQCSĐT, ngày
03/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q về kết quả giải quyết
nguồn tin về ti phạm, có ni dung: “…anh Đỗ Duy T là người tạo ra tình
huống gây mâu thuẫn trước, sau đó bị anh Phạm Hữu N dùng chân đạp vào đùi
thì cũng đạp lại trúng chân anh N, nhưng không để lại thương tích gì, anh N
không đề nghị xử lý anh T...”.
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 23/01/2026, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn anh Nguyễn Quang H có lời khai xác nhận: nguyên nhân xảy ra
mâu thuẫn là do anh T đã có hành vi dừng xe ô tô cản tr việc tham gia giao
thông của anh N, nên hai bên xảy ra lời qua tiếng lại. Anh T có hành vi dùng tay
đấm anh N trưc.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 34 B luật Dân sự năm 2015, cá nhân có
quyền yêu cầu Tòa án buc người vi phạm xin lỗi công khai khi danh dự, nhân
phẩm, uy tín của mình bị xâm phạm trái pháp luật. Biện pháp này gắn liền vi
việc bảo vệ các giá trị nhân thân phi vật chất, không phải là hậu quả pháp lý tự
đng phát sinh từ mọi hành vi gây thiệt hại về thể chất.
Trong vụ việc này, hành vi của anh Phạm Hữu N là dùng tay, chân đánh
anh Đỗ Duy T trong bối cảnh xô xát phát sinh tại chỗ, xuất phát từ mâu thuẫn
giao thông trực tiếp giữa hai bên. Hành vi này xâm phạm sức khỏe của anh T,
đưc xác định theo quy định tại Điều 590 B luật Dân sự năm 2015, và đã đưc
Tòa án buc anh N bồi thường thiệt hại tương ứng.
Xét về bản chất, hành vi của anh N không mang tính chất bôi nhọ, vu
khống, phát tán thông tin sai sự thật hay hạ thấp uy tín, danh dự, nhân phẩm của
anh T trưc cng đồng hoặc trên không gian công cng. Vụ xô xát xảy ra tức
thời, không có yếu tố lan truyền thông tin bất li hay tổn hại đến hình ảnh xã hi
của anh T. Do đó, không có cơ s để xác định danh dự, nhân phẩm, uy tín của
anh T bị xâm phạm theo Điều 34 B luật Dân sự năm 2015.
Mặt khác, theo khoản 4Điều 585 B luật Dân sự năm 2015, khi người bị
thiệt hại có lỗi trong việc gây ra thiệt hại th không đưc bồi thường phần thiệt
hại do lỗi của mình gây ra. Trong vụ án này, theo xác định tại Thông báo kết quả
giải quyết nguồn tin về ti phạm ngày 03/6/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an tỉnh Q và lời khai của người đại diện nguyên đơn tại phiên tòa sơ thẩm,
chính anh T là người tạo ra tình huống phát sinh mâu thuẫn, có hành vi dùng tay
đánh anh N trưc. Đây là yếu tố lỗi của chính người bị thiệt hại, càng không có
cơ s để áp dụng biện pháp xin lỗi công khai- vốn chỉ phù hp trong trường hp
người vi phạm đơn phương, chủ đng xâm phạm nhân phẩm, danh dự của nạn
nhân.
8
Từ các phân tích trên, yêu cầu buc anh Phạm Hữu N xin lỗi công khai của
nguyên đơn anh Đỗ Duy T không có căn cứ pháp lý theo quy định tại khoản 3
Điều 34 B luật Dân sự năm 2015. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu
này là có căn cứ và đúng pháp luật. Kháng cáo của nguyên đơn về ni dung này
không đưc chấp nhận.
[3] Thiếu sót của Toà án cấp sơ thẩm:
Hi đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài
hp đồng đây là bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, tại đơn khi
kiện anh Đỗ Duy T yêu cầu anh Phạm Hữu N phải bồi thường thiệt hại về sức
khỏe vi tổng số tiền 108.860.594 đồng. Quá trình giải quyết vụ án ngày
16/12/2025, nguyên đơn anh T có đơn xin rút mt phần yêu cầu, chỉ yêu cầu bồi
thường thiệt hại về sức khỏe vi tổng số tiền 63.281.044 đồng. Tại phiên tòa sơ
thẩm ngày 23/01/2026, người đại diện nguyên đơn xin rút mt phần yêu cầu, chỉ
yêu cầu thường thiệt hại về sức khỏe vi tổng số tiền 63.079.129 đồng. Trong vụ
án, việc yêu cầu bồi thường về sức khỏe là mt yêu cầu của nguyên đơn, việc
nguyên đơn có quan điểm rút mt phần về tổng số tiền bồi thường thiệt hại về
sức khỏe yêu cầu bị đơn phải thanh toán. Đây chính là thay đổi về mức bồi
thường thiệt hại, không phải là rút mt phần yêu cầu khi kiện.
Tuy nhiên, trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên: “3. Đnh chỉ
xét xử đối vi phần yêu cầu khi kiện đã đưc nguyên đơn rút” việc tuyên nàylà
không chính xác, nhưng không làm thay đổi bản chất trách nhiệm của bị đơn,
không làm ảnh hưng đến quyền, li ích hp pháp của nguyên đơn và không
làm thay đổi ni dung giải quyết vụ án. Do đó, để bảo đảm tính chặt chẽ trong
việc tuyên án và thuận li cho công tác thi hành án, Tòa án cấp sơ thẩm cần rút
kinh nghiệm trong việc đánh giá, làm rõ yêu cầu của đương sự là thay đổi, hay
rút mt phần yêu cầu khi kiện trong các vụ án tương tự.
[4]. Về án phí:
[4.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:Do yêu cầu khi kiện của nguyên đơn đưc
chấp nhận mt phần nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối vi phần
yêu cầu nguyên đơn đưc chấp nhận trong trường hp có giá ngạch;trả lại số
tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà nguyên đơn đã np.
[4 .2] Về án phí dân sự phúc thẩm: nguyên đơnanh Đỗ Duy T yêu cầu bồi
thường thiệt hại do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tínlà trường hp đưc
miễn án phí theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số
9
326/2016/UBTVQH14. Tuy nhiên, anh T không có đơn đề nghị miễn án phí,
nên anh Đỗ Duy T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308của B luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn anhĐỗ Duy T.
Giữ nguyênbản án dân sự sơ thẩm số 06/2026/DS-ST ngày 23/01/2026 của
Toà án nhân dân khu vực 1 – Quảng Ninh.
Căn cứ khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản
1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 244, Điều 482 của B luật Tố tụng
dân sự năm 2015; Điều 34, Điều 357, Điều 468, khoản 1 Điều 584, khoản 4
Điều 585, Điều 586, Điều 590 của năm 2015; khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều
29của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hi quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, np, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận mt phần yêu cầu khi kiện của nguyên đơn anh Đỗ Duy T.
Buc bị đơn anh Phạm Hữu N phải bồi thường cho anh Đỗ Duy T số tiền
32.085.502 đồng (Ba mươi hai triệu, không trăm tám mươi lăm nghìn, năm trăm
linh hai đồng).
Quyết định của Bản án sơ thẩm về bồi thường thiệt hại sức khỏe đưc thi
hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị, theo
quy định tại điểm a khoản 2 Điều 482 của B luật Tố tụng dân sự. Kể từ ngày
anh Đỗ Duy T có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, anh
Phạm Hữu N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của B luật Dân sự năm 2015, trừ
trường hp pháp luật có quy định khác.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buc bị đơn xin lỗi
công khai.
Về án phí:
- Về án phí dân sự sơ thẩm: anh Phạm Hữu N phảichịu án phí dân sự sơ
thẩm là 1.604.275 đồng (một triệu sáu trăm linh bốn nghìn hai trăm bảy mươi
lăm đồng). Trả lại cho anh Đỗ Duy T số tiền 2.721.515 đồng (hai triệu bảy trăm
hai mươi một nghìn năm trăm mười lăm đồng) tạm ứng án phí đã np theo Biên

10
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001177 ngày 14/10/2025 của Thi hành
án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: anh Đỗ Duy T3 nghĩa vụ np 300.000đ (ba
trăm nghn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, đưc trừ đi số tiền 300.000đ (ba
trăm nghn đồng) tiền tạm ứng án phí anh T đã np theo Biên lai thu tiền tạm
ứng án phí số 0000781 ngày 11/02/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Quảng
Ninh.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án
dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi
hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Đương sự
- VKSND tỉnh Quảng Ninh;
- Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh;
- Phòng THADS Khu vực 1 – Quảng Ninh;
- Lưu hồ sơ; TA.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nguyễn Văn Đạt
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 17/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm