Bản án số 212/2026/DS-PT ngày 24/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 212/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 212/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 212/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 212/2026/DS-PT ngày 24/03/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Cần Thơ |
| Số hiệu: | 212/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 24/03/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 212/2026/DS-PT
Ngày: 24 - 3 - 2026
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng
đất (ranh đất) và tài sản gắn liền
với đất”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Các Thẩm phán:
Bà Lê Thị Minh Trang.
Ông Phạm Văn Hùng
Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Xoàn – Thẩm tra viên chính Tòa
án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Bà Dương Thị
Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 27/2026/TLPT-DS ngày
16 tháng 01 năm 2026, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất) và tài
sản gắn liền với đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 12- Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 184/2026/QĐ-PT ngày
05 tháng 02 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên toà số: 43/2026/QĐ-PT ngày
04/03/2026, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
1. Ông Mạc Văn B, sinh năm 1971; Địa chỉ: ấp C, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu
Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (Có mặt).
2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp C, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu
Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (Có mặt).
2
* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S (X), sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp C, xã L, thị
xã L, tỉnh Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ) (Có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1983; Địa chỉ: ấp C, xã L, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
2. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1972; Địa chỉ: ấp C, xã L, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
3. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp C, xã L, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
4. Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1961; Địa chỉ: ấp C, xã L, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
5. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp C, xã L, thị xã L, tỉnh
Hậu Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
6. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp C, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu
Giang (nay là phường L, thành phố Cần Thơ).
7. Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Cần Thơ. Người đại diện theo
pháp luật: Ông Nguyễn Minh H – Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường L;
Địa chỉ: phường L, thành phố Cần Thơ.
(Tất cả những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt)
* Người kháng cáo: Bị đơn Ông Nguyễn Văn S
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại
phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Mạc Văn B và bà Nguyễn Thị N cùng trình
bày:
Nguyên đơn có phần đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01534 ngày 22/5/2017. Thửa đất số
502; tờ bản đồ số 05; diện tích 3953,0m
2
. Phần đất của nguyên đơn có một cạnh
chiều dài khoảng 270m giáp với đất ông Nguyễn Văn S. Theo sơ đồ thửa đất thì
ranh đất của nguyên đơn giáp với ông S là một đường thẳng và hai đầu ranh đất
đã có cắm trụ đá để làm ranh cố định đã sử dụng ổn định đến ngày nay. Nhưng
trong quá trình sử dụng ông S ven bờ mẫu ở đoạn giữa ranh. Nhận thấy đường
ranh đã cong về đất nguyên đơn. Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn cho rằng bị đất
lấn ranh khoảng 70m
2
. Qua kết quả đo đạc thực tế, phần đất tranh chấp có diện
tích là 50,8m
2
.
3
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc ông S trả lại phần
đất có diện tích 50,8m
2
theo đo đạc thực tế. Đối với cây dừa trên đất thì do bị đơn
trồng dừa lấn qua nên yêu cầu bị đơn tự đốn cây dừa.
* Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Nguyễn Văn
S trình bày:
Bị đơn đã sinh sống trên phần đất với cha ruột từ nhỏ đến lớn. Đến 1995,
thì cha nguyên đơn là ông Nguyễn Văn H1 tách quyền sử dụng đất cho ông S
đứng tên phần đất có diện tích 5402,3m
2
. Từ trước đến nay, ranh đất giữa bị đơn
với ông B và bà N là ranh thẳng từ trước ra sau, có cắm trụ đá trước sau. Hai cây
trụ đá cặm từ trước thì không còn, do cây trụ phía trước đã bị dời nhưng bị đơn
không biết ai dời, cây trụ phía sau thì đã bị ông B đập bỏ. Ông B và bà N cắm cây
trụ qua phía đất bị đơn, cây trụ phía trước lấn qua khoảng 0,45m và cây trụ phía
sau lấn qua khoảng 0,33m. Bị đơn có kêu đo đạc để kiểm tra lại thì phía ông B và
bà N mới cắm cọc lại ở phía sau và đo đạc thì phần đất của bị đơn bị thiếu khoảng
48m
2
.
Nay ông B và bà N yêu cầu bị đơn trả phần đất có diện tích khoảng 50,8m
2
thì bị đơn không đồng ý. Đối với cây dừa trên đất, ông S không có ý kiến vì thuộc
phần đất của ông S.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Ông Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn
Thị N1, ông Nguyễn Văn C cùng trình bày: Các ông bà là con của ông Nguyễn
Văn H1 (đã chết năm 2022) và bà Võ Thị B1 (đã chết năm 2021). Đối với tranh
chấp giữa nguyên đơn và bị đơn các đương sự không có ý kiến hay yêu cầu gì, để
cho ông Nguyễn Văn S toàn quyền quyết định vì đất cha mẹ đã cho ông Nguyễn
Văn S.
- Bà Nguyễn Thị L có ý kiến: Việc tranh chấp đất đai với ông Mạc Văn B,
bà Nguyễn Thị N để cho ông Nguyễn Văn S toàn quyền quyết định, ý kiến của
ông S như ý kiến của bà L.
* Ủy ban nhân dân phường L, thành phố Cần Thơ trình bày: Tại Công văn
số 1258/UBND-KTHT&ĐT ngày 16/9/2025 xác định thửa đất số 182 không
thuộc đất Nhà nước quản lý. Nếu phần đất trên được công nhận hoặc giao cho tổ
chức, cá nhân, hộ gia đình thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2025/DS-ST ngày 19/9/2025 của Tòa
án nhân dân Khu vực 12- Cần Thơ đã tuyên xử:
4
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mạc Văn B, bà
Nguyễn Thị N.
[2] Công nhận phần đất tại vị trí (III) có diện tích 50,8m
2
cho nguyên đơn
ông Mạc Văn B, bà Nguyễn Thị N (Có Mảnh trích đo địa chính số 167-2024 của
Công ty TNHH D1 ngày 30/7/2024 (có xác nhận của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai thị xã L ngày 07/8/2024 – nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
khu vực XV kèm theo).
[3] Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ giao phần đất có diện tích
50,8m
2
để trả lại cho nguyên đơn ông Mạc Văn B, bà Nguyễn Thị N.
[4] Nguyên đơn ông Mạc Văn B, bà Nguyễn Thị N được sở hữu 01 cây dừa
loại A và có nghĩa vụ trả cho bị đơn ông Nguyễn Văn S số tiền 2.600.000 đồng
(Hai triệu, sáu trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo
của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 30/9/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn S kháng cáo bản án sơ thẩm số:
52/2025/DS-ST ngày 13/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 12- Cần Thơ, theo
hướng yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
* Bị đơn ông Nguyễn Văn S: Vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo theo
hướng sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N: Không đồng ý với kháng cáo của nguyên
đơn và yêu cầu giữ y án sơ thẩm.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa
phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục phúc thẩm và tại phiên tòa
hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy
định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có đơn kháng cáo về
hình thức và thời hạn kháng cáo là đúng nên kháng cáo là hợp lệ.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Qua diễn biến tại phiên tòa và qua đối
chiếu tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, trên cơ sở ý kiến trình bày của các đương sự,
xét kháng cáo của bị đơn:
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận việc các bên sử
dụng phát sinh tranh chấp xuất phát từ nguyên nhân mâu thuẫn việc sử dụng đất
5
của các bên làm ranh giới bị dịch chuyển chứ không phải do những giao dịch
trước đó giao thiếu diện tích.
Đối với phần đất theo đo đạc thực tế chưa tính phần đất tranh chấp 50,8m
2
thực tế đất bị đơn sử dụng ổn định, không tranh chấp dư 8,7m
2
so với giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất được cơ quan có thẩm quyền cấp. Đối với phần đất do
nguyên đơn sử dụng thực tế thiếu 793,1m
2
so với giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất được cơ quan có thẩm quyền cấp. Xét về hình thể thửa đất được cấp trên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là các đường thẳng không gấp khúc, không thể
hiện kích thước chiều ngang và chiều dài thửa đất mà chỉ thể hiện tổng diện tích
thửa đất.
Do vậy, khi so sánh diện tích đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của bị đơn so với đo đạc thực tế bị đơn sử dụng ổn định, chưa tính phần đất
tranh chấp thì đất bị đơn đã dư, trong khi đất nguyên đơn thiếu nhiều so với giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
Từ những phân tích trên, bị đơn không có cung cấp được chứng cứ gì thêm
mới nên không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ
luật tố tụng dân sự sơ thẩm: Giữ Y bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố
Cần Thơ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện
bị đơn, yêu cầu trả lại phần đất lấn chiếm, trên đất có 01 cây dừa, đồng thời bị
đơn có nơi cư trú trên địa bàn phường L. Do đó, đây là “Tranh chấp quyền sử
dụng đất (ranh đất), tranh chấp tài sản gắn liền với đất”, vụ án thuộc thẩm quyền
giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 – Cần Thơ theo quy định tại khoản 9
Điều 26, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như án sơ thẩm xác định là
phù hợp.
[2] Về thủ tục tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông
Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị N1,
ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị L, Ủy ban nhân dân phường L, thành phố
Cần Thơ có yêu cầu xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015, cấp phúc thẩm xét xử vắng mặt những người nêu trên.
6
[3]. Về thủ tục kháng cáo: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn
S có đơn kháng cáo đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015 nên được xem là hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo
trình tự phúc thẩm.
Để xét kháng cáo, cần đánh giá khách quan toàn diện nội dung, cần thiết
phải xem xét lại toàn bộ hồ sơ các bên. Lần lượt phân tích từng vấn đề liên quan:
[4] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn S yêu cầu cấp phúc thẩm
sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
[4.1.] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Các bên đều thống nhất, nguồn gốc đất
tranh chấp do các bên sử dụng đã qua nhiều giao dịch khác nhau. Các bên thống
nhất không có tranh chấp liên quan đến trình tự, thủ tục chuyển quyền của những
lần giao dịch trước đó.
[4.2] Phần đất tranh chấp có kết quả đo đạc thực tế có diện tích 50,8m
2
thuộc thửa 181 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không thuộc
đất do Nhà nước quản lý. Nguyên đơn ông Mạc Văn B, bà Nguyễn Thị N và bị
đơn ông Nguyễn Văn S sử dụng phần đất liền kề nhau.
Nguyên đơn ông B, bà N được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cũ cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS015334 ngày 22/5/2017 thửa 502, diện
tích 3953m
2
loại đất trồng lúa do nhận chuyển nhượng từ ông Đỗ Hùng C1.
Bị đơn cho rằng phần đất trước đây được cha mẹ là ông Nguyễn Văn H1
(đã chết năm 2022) và bà Võ Thị B1 (đã chết năm 2021) tặng cho. Tuy nhiên, khi
thực hiện tặng cho không đo đạc thực tế mà chuyển nhượng hết thửa đất. Đối với
thửa đất 182 mặc dù chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng
theo Công văn số 475/CN.TXLM ngày 25/6/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai thị xã L xác định thửa 182 do ông S đứng tên theo bản đồ địa chính
được quy hoạch năm 2018.
[4.3] Quá trình sử dụng đất nguyên đơn ông B, bà N cho rằng phía ông S
ven bờ mẫu nên lấn qua phần đất của nguyên đơn diện tích khoảng 70m
2
(đo đạc
thực tế 50,8m
2
).
[4.4] Xét phần đất giữa nguyên đơn và bị đơn là đường thẳng như giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất của hai bên. Tại lời khai trong quá trình giải quyết
vụ án cũng như tại các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm nguyên đơn cho rằng
trước đây giữa các bên có thoả thuận trụ ranh đầu và cuối phần tranh chấp, do
nguyên đơn đòi cắm thêm trụ giữa nên bị đơn mới không đồng ý và không thoả
thuận được ranh cho tới nay. Hơn nữa, phần đất nguyên đơn thiếu nhiều hơn so
7
với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất bị đơn thì dư so với giấy, phần
đất tranh chấp cũng không thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị đơn được
cấp. Do đó có cơ sở kết luận phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng đất của
nguyên đơn. Cấp sơ thẩm công nhận phần đất tranh chấp cho nguyên đơn là có
căn cứ.
[4.3]. Xét về diện tích đất đo đạc thực tế so với giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất được cấp và hình thể thửa đất. Như vậy, chưa tính phần đất tranh chấp
50,8m
2
thực tế đất bị đơn sử dụng ổn định, không tranh chấp dư 8,7m
2
so với giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất được cơ quan có thẩm quyền cấp. Đối với phần
đất do nguyên đơn sử dụng thực tế thiếu 793,1m
2
so với giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất được cơ quan có thẩm quyền cấp.
[4.4] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn cũng thống nhất có sự việc chính quyền
địa phương có xuống chứng kiến cặm trụ đầu đất và cuối đất nhưng sau đó bị đơn
tự kiểm tra lại đất, nguyên đơn yêu cầu cặm thêm các trụ giữa thì bị đơn không
thống nhất. Như vậy, việc các đương sự có ý kiến cùng thống nhất có sự việc địa
phương có chứng kiến việc cặm trụ đá đầu đất và cuối đất là sự thật.
[5] Từ những phân tích nêu trên, căn cứ toàn diện vào các tài liệu, chứng
cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy có đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp
50,8m
2
thuộc quyền sử dụng hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ vào Điều 166 Bộ
luật Dân sự năm 2015, nguyên đơn được quyền đòi lại tài sản nêu trên.
[6] Về tài sản trên đất, qua xem xét thẩm định tại chỗ trên phần đất tranh
chấp có 01 cây dừa loại A do bị đơn trồng. Theo nguyên đơn, khi trồng cây dừa
còn nhỏ, sau này cây dừa lớn nên lấn qua phần đất tranh chấp. Tại phiên tòa sơ
thẩm, nguyên đơn trình bày đã nhiều lần yêu cầu bị đơn dời cây dừa nhưng bị đơn
không đồng ý, nguyên đơn cũng không trình báo chính quyền địa phương. Do đó,
cần thiết giao cây dừa cho nguyên đơn được quyền sở hữu và có nghĩa vụ trả lại
giá trị cây dừa số tiền 2.600.000 đồng cho bị đơn như cấp sơ thẩm là phù hợp.
[7] Bị đơn kháng cáo nhưng không đưa thêm chứng cứ gì thêm mới nên
với những phân tích nêu không chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không được chấp nhận yêu cầu kháng
cáo nên bị đơn phải chịu án phí.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát như đã nêu trên là phù hợp với
nhận định nên quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
Vì các lẽ trên;
8
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn: Giữ nguyên bản án dân
sự sơ thẩm số: 52/2025/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 12 - Cần Thơ.
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Mạc Văn B, bà
Nguyễn Thị N.
[2] Công nhận phần đất tại vị trí (III) có diện tích 50,8m
2
cho nguyên đơn
ông Mạc Văn B, bà Nguyễn Thị N (Có Mảnh trích đo địa chính số 167-2024 của
Công ty TNHH D1 ngày 30/7/2024 (có xác nhận của Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai thị xã L ngày 07/8/2024 – nay là Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai
khu vực XV kèm theo).
[3] Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn S có nghĩa vụ giao phần đất có diện tích
50,8m
2
để trả lại cho nguyên đơn ông Mạc Văn B, bà Nguyễn Thị N.
[4] Nguyên đơn ông Mạc Văn B, bà Nguyễn Thị N được sở hữu 01 cây dừa
loại A và có nghĩa vụ trả cho bị đơn ông Nguyễn Văn S số tiền 2.600.000 đồng
(Hai triệu, sáu trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án
theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, trích lục hồ sơ: Ông
Nguyễn Văn S có nghĩa vụ nộp số tiền 4.875.000 đồng (Bốn triệu, tám trăm bảy
mươi lăm nghìn đồng) để hoàn trả lại cho ông Mạc Văn B, bà Nguyễn Thị N.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Mạc Văn B, bà Nguyễn Thị N phải chịu số tiền 300.000
đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0007581 ngày 18 tháng 12 năm 2023 của Chi
cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (nay là Phòng thi hành án
dân sự khu vực 12 – Cần Thơ).
9
- Bị đơn ông Nguyễn Văn S phải chịu số tiền án phí là 300.000 đồng (Ba
trăm nghìn đồng).
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn S phải chịu số
tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chuyển tiền tạm ứng án phí đã
nộp theo biên lai thu số 0003892 ngày 30/9/2025 của Thi hành án dân sự thành
phố Cần Thơ đã nộp thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và
Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày
24/3/2026).
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 12 – Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Lê Thị Minh Trang
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 27/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 25/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 24/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 23/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 20/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 19/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 16/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 13/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 12/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 11/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm