Bản án số 242/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 242/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 242/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 242/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 242/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Đắk Lắk |
| Số hiệu: | 242/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị Kim X.Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 13 - Đắk Lắk về án phí. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK
Bản án số: 242/2026/DS-PT
Ngày: 21 - 4 - 2026
V/v “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do
sức khỏe bị xâm phạm”.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trịnh Văn Toàn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị My My và bà Nguyễn Thị Thu Trang
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Duyên - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà
Nguyễn Thị Mai Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 95/2026/TLPT-DS ngày 19 tháng 3
năm 2026 về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025 của
Toà án nhân dân Khu vực 13 - Đắk Lắk, bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2026/QĐ-PT ngày 24/3/2026
giữa các đương sự;
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1961
Địa chỉ: Thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2.2. Bà Đặng Thị Q, sinh năm 1992
Địa chỉ: Thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
2.3. Bà Đặng Thị Kim X, sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk. Có mặt.
3. Người làm chứng:
- Bà Lê Thị Mỹ D, sinh năm 2000; địa chỉ: thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk. Có
mặt.
- Ông Đặng Trung T1, sinh năm 2000; địa chỉ: thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk.
Có mặt.
- Ông Nguyễn Quốc Q1, sinh năm 2002; địa chỉ: thôn L, xã S, tỉnh Đắk Lắk.
2
Vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị Kim X.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Huỳnh Thị T trình bày:
Vào ngày 01/7/2024, bà Đặng Thị Q là em gái ruột của bà Đặng Thị Kim X
đã đăng bài viết trên trang cá nhân mạng xã hội Facebook với nội dung là con gái
của bà T là chị Nguyễn Thị Thu T2 sử dụng ma túy. Vào khoảng 14 giờ ngày
01/7/2024, bà T và chị T2 có đến nhà của bà Nguyễn Thị N ở thôn L, xã S, tỉnh
Đắk Lắk để nói với bà N là đừng có đăng lên Facebook những bài viết có nội dung
như vậy nữa vì sợ phía chồng của chị T2 thấy thì chị T2 gặp khó khăn trong quan
hệ với gia đình chồng. Bà Q mới nói lại là “Làm gái mà không biết nhục còn lên
đây nói” thì bà T đáp là T2 đã có chồng, không được xúc phạm nó như vậy, hai
bên là sui gia nên bà T mới lên đây nói chuyện đàng hoàng mà mẹ con bà Q nói
như vậy là không hay. Sau đó hai bên có lời qua tiếng lại, bà T với chị T2 đi ra
ngoài đường đứng. Lúc này, chị X đi làm về không biết rõ nguyên nhân sự việc
mà lại chạy vào nhà lấy cái ghế nhựa chạy ra đánh chị T2. Hai bên giằng co trong
sân, bà T đi vào kéo chị T2 ra, nhưng bên bà Q và bà N lại kéo bà T vào sân và
đánh bà T, bà T vừa ngã xuống thì cái ví của bà T bị rớt và bà cúi xuống định nhặt
cái ví thì chị X cầm miếng ván đập trên đầu bà T, bà Q dùng cán chổi đánh vào
cơ thể bà T, bà N cầm tóc của bà T ghì xuống sát đất rồi dùng chân đạp vào người
bà T.
Sau khi dừng đánh thì mặt mũi bà T sưng tím, bên phía bà N gọi công an xã
S tới. Sau đó công an tới đưa bà T, chị T2, bà Q và bà X đến trụ sở Công an xã S
để làm việc. Lúc đó bà T cảm thấy mệt và được Công an đưa tới Trạm y tế xã S
để khám. Sau đó, bà T được chuyển xuống bệnh viện P. Bệnh viện P nhận thấy
tình trạng của bà T không ổn nên chuyển bà T xuống bệnh viện đa khoa tỉnh P.
Bà T nằm ở bệnh viện 12 ngày, tình trạng sức khỏe chưa ổn nhưng vì hoàn
cảnh gia đình không có người chăm sóc bà và bà còn phải chăm sóc cháu ngoại
còn nhỏ nên bà T xin xuất viện.
Bà T yêu cầu Tòa buộc bà Nguyễn Thị N, Đặng Thị Kim X và Đặng Thị Q
phải liên đới bồi thường cho bà T, cụ thể như sau: Chi phí điều trị có hóa đơn
chứng từ hợp lệ: 3.708.000 đồng; Tiền mất thu nhập trong thời gian 12 ngày nằm
viện 3.600.000 đồng; Tiền mất thu nhập của người chăm sóc trong thời gian nằm
viện 12 ngày, 50.000 đồng/ngày là 600.000 đồng; Tiền bù đắp về tổn thất tinh
thần 04 tháng lương cơ sở là 9.360.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền yêu cầu bồi
thường là 17.268.000 đồng.
* Bị đơn bà Đặng Thị Kim X trình bày: Bà X không liên quan đến yêu cầu
khởi kiện của bà T, bà X không đánh bà T nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu
của bà T về bồi thường thiệt hại về sức khỏe và tinh thần.
3
* Bị đơn bà Đặng Thị Q trình bày: Chỉ một mình bà Q đánh bà T và việc
đánh bà T là do tự vệ nên không chấp nhận bồi thường thiệt hại về sức khỏe và
tinh thần cho bà T.
* Bị đơn Bà Nguyễn Thị N: Bà không đánh bà T nên không đồng ý bồi
thường cho bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 35/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân Khu vực 13 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 584, 585, 586, 587 và Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015;
Điều 227 và Điều 229 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 3 Điều
27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị T.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N, bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị Kim X mỗi
người phải bồi thường cho bà Huỳnh Thị T 5.756.000 đồng (Năm triệu bảy trăm
năm mươi sáu nghìn đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi
hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn
phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
- Về án phí Dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N, bà Đặng Thị Q
và bà Đặng Thị Kim X mỗi người phải chịu 287.000 đồng (Hai trăm tám mươi
bảy nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên quyền kháng cáo của đương sự theo quy định
pháp luật.
Ngày 03, 06/10/2025, bị đơn bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị Kim X làm đơn
kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị Kim X giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu
quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm
phán, Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký đã thực hiện đúng các quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự.
4
Về nội dung: Qua phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308 của Bộ luật
Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Q và bà
Đặng Thị Kim X, sửa một phần quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm về án phí,
buộc bà Nguyễn Thị N, bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị Kim X mỗi người phải
chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa,
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu
chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét
xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị đơn bà Đặng Thị Q và bà
Đặng Thị Kim X được thực hiện trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo
trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo:
[2.1] Các bị đơn cho rằng không có hành vi đánh bà Huỳnh Thị Thanh H chỉ
đánh trong tình thế tự vệ, đồng thời không đồng ý bồi thường chi phí điều trị, tiền
thuốc men cho bà T.
Xét thấy, vào ngày 01/7/2024 giữa các bên đương sự đã xảy ra mâu thuẫn
dẫn đến xô xát. Nội dung này đã được thể hiện rõ tại Quyết định không khởi tố
vụ án hình sự số 551/QĐ-ĐTTH ngày 09/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra,
đồng thời phù hợp với lời khai của nguyên đơn, lời khai của những người làm
chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Thể hiện, bà Đặng Thị Q, bà
Nguyễn Thị N và bà Đặng Thị Kim X đều có hành vi dùng tay, ghế nhựa, tấm ván
tác động vào bà Huỳnh Thị T, hậu quả làm bà T bị thương tích nên phải điều trị
tại cơ sở y tế từ ngày 01/7/2024 đến ngày 12/7/2024.
Xét nội dung kháng cáo của các bị đơn cho rằng không có hành vi đánh bà
T hoặc hành vi chỉ mang tính chất tự vệ. Tuy nhiên, các bị đơn không cung cấp
được chứng cứ chứng minh cho việc mình không tham gia hành vi gây thiệt hại
hoặc hành vi thuộc trường hợp phòng vệ chính đáng. Ngược lại, lời trình bày của
các bị đơn không phù hợp với các chứng cứ đã được Cơ quan Công an thu thập
và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Hơn nữa, hậu quả bà Huỳnh Thị T phải nhập viện điều trị từ ngày 01/7/2024
đến 12/7/2024 là tình tiết khách quan đã được xác định bằng hồ sơ bệnh án và các
chứng từ y tế hợp lệ. Các bị đơn không đưa ra được căn cứ nào chứng minh thiệt
hại này phát sinh từ nguyên nhân khác, không liên quan đến hành vi của mình.
5
Từ những phân tích nêu trên, có đủ cơ sở xác định các bị đơn đều có lỗi trong
việc gây thiệt hại đến sức khỏe của bà Huỳnh Thị T. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm
buộc các bị đơn phải liên đới bồi thường thiệt hại là có căn cứ.
[2.2] Về trách nhiệm bồi thường:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị đơn cùng có lỗi trong việc gây thiệt hại
đến sức khỏe của bà T, nhưng không xác định được mức độ lỗi cụ thể của từng
người, nên buộc các bị đơn phải liên đới bồi thường theo phần bằng nhau là phù
hợp với quy định tại các Điều 584, 585, 587 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Các khoản thiệt hại mà bà T yêu cầu gồm chi phí điều trị, thu nhập bị mất,
chi phí người chăm sóc và bù đắp tổn thất tinh thần với tổng số tiền 17.268.000
đồng đều có căn cứ, hợp lý, đã được cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ, đúng quy định
pháp luật.
[2.3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Tòa án cấp sơ thẩm buộc mỗi bị đơn phải chịu 287.000 đồng án phí dân sự
sơ thẩm là chưa đúng quy định pháp luật.
Xét thấy, theo quy định tại khoản 2 Điều 26 và Danh mục án phí, lệ phí Tòa
án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, đối với tranh chấp
về dân sự có giá ngạch, trường hợp giá trị nghĩa vụ tài sản phải thực hiện từ
6.000.000 đồng trở xuống thì mức án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Trong vụ án này, nghĩa vụ bồi thường mà mỗi bị đơn phải thực hiện là
5.756.000 đồng, thuộc trường hợp giá trị tranh chấp dưới 6.000.000 đồng. Do đó,
mỗi bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định nêu
trên. Việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc mỗi bị đơn chịu 287.000 đồng là không đúng,
cần chấp nhận một phần kháng cáo sửa bản án sơ thẩm về phần án phí.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận một phần kháng cáo nên bị đơn
bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị Kim X không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị
Kim X.
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2025/DS-ST ngày 30 tháng 9
năm 2025 của Toà án nhân dân Khu vực 13 - Đắk Lắk về án phí.
2. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị T.
6
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N, bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị Kim X mỗi
người phải bồi thường cho bà Huỳnh Thị T 5.756.000 đồng (Năm triệu bảy trăm
năm mươi sáu nghìn đồng).
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi
hành án, nếu bị đơn chưa thi hành xong khoản tiền phải trả, thì hàng tháng còn
phải chịu tiền lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm
2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
3. Về án phí: Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị N, bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị
Kim X mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ
thẩm. Bà Đặng Thị Q và bà Đặng Thị Kim X mỗi người được khấu trừ 300.000
đồng tạm ứng phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo các biên lai thu số 0004587;
0004588 ngày 17/11/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 13.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- TAND Khu vực 13;
- Phòng THADS Khu vực 13;
- Cổng TTĐT Toà án;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Trịnh Văn Toàn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm