Bản án số 92/2026/DS-PT ngày 13/04/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 92/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 92/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 92/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 92/2026/DS-PT ngày 13/04/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Phú Thọ |
| Số hiệu: | 92/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyên đơn kháng cáo bản án |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:
Các Thẩm phán:
bà Hoàng Ngọc Liễu
ông Nguyễn Mạnh Hùng
ông Đinh Trường Sơn
- Thư ký phiên toà: bà Lò Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: bà
Khà Thị Liên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2026/TLPT- DS ngày 12/01/2026
về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và
chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do Bản án dân sự sơ thẩm số
09/2025/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 -
Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 83/2026/QĐ-PT ngày
12 tháng 03 năm 2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1956. Địa chỉ: khu T, xã K,
tỉnh Phú Thọ.
2. Bị đơn: ông Lê Hùng S, sinh năm 1973. Địa chỉ: khu T, xã K, tỉnh Phú
Thọ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Cụ Lê Hữu P, sinh năm 1939. Địa chỉ: khu T, xã K, tỉnh Phú Thọ.
3.2. Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1987. Địa chỉ: khu T, xã K, tỉnh Phú
Thọ.
3.3. Ông Nguyễn Quốc K, sinh năm 1985. Địa chỉ: xóm C, xã V, tỉnh Thái
Nguyên.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 92/2026/DS - PT
Ngày: 13 - 4 - 2026
V/v: Tranh chấp Quyền sử dụng
đất, yêu cầu công nhận Quyền sử
dụng đất và chỉnh lý Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
3.4. Bà Lê Thị Hải H1, sinh năm 1971 và bà Lê Thị T, sinh năm 1975. Cùng
địa chỉ: khu T, xã K, tỉnh Phú Thọ.
3.5. Cụ Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1945; ông Lê Quang C, sinh năm 1976;
anh Lê Trường P1, sinh năm 2009 và anh Lê Nhật M, sinh năm 2012. Người đại
diện theo pháp luật anh P1 và anh M: ông Lê Quang C. Cùng địa chỉ: khu T, xã
K, tỉnh Phú Thọ.
3.6. Bà Lê Thị Kim H2, sinh năm 1977; anh Lê Anh T1, sinh năm 2003 và
anh Lê Minh N, sinh năm 2007. Cùng địa chỉ: khu T, xã K, tỉnh Phú Thọ.
3.7. Ủy ban nhân dân tỉnh P. Địa chỉ: Đường T, phường T, thành phố V,
tỉnh Phú Thọ (nay là đường T, phường V, tỉnh Phú Thọ).
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc L.
(Tại phiên tòa, ông L, ông S, cụ P, ông H, ông K, bà H1, bà T, ông C có
mặt. Ủy ban nhân dân tỉnh P và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
khác vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và
tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc L trình bày:
Nguồn gốc thửa đất ông đang sử dụng là do bà Triệu Thị T2 - mẹ của ông
L nhận chuyển nhượng của hộ gia đình bà Phạm Thị N1 vào năm 1990, sau đó bà
T2 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt Giấy CNQSD đất)
nhưng ông không nhớ rõ được cấp năm nào. Đến năm 2002, bà T2 làm thủ tục
tặng cho ông thửa đất trên. Ngày 26/9/2002, hộ gia đình ông được Ủy ban nhân
dân tỉnh H (cũ) cấp Giấy CNQSD đất số BI 514592 đối với thửa đất số 122, tờ
bản đồ số 16, diện tích là 145,4m
2
tại khu T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình
(nay là khu T, xã K, tỉnh Phú Thọ) đứng tên hộ ông Nguyễn Văn L. Thời điểm
cấp Giấy CNQSD đất hộ gia đình ông gồm có ông và hai con trai là ông Nguyễn
Xuân H, ông Nguyễn Quốc K, hiện nay ba bố con ông vẫn đang thực tế sử dụng
thửa đất trên. Đến ngày 20/04/2012, hộ gia đình ông được Ủy ban nhân dân huyện
K, tỉnh Hòa Bình cấp lại Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất số BI514592 đối với thửa đất nêu trên do sai tên đệm, điều chỉnh
lại là hộ ông Nguyễn Ngọc L.
Sau khi được cấp Giấy CNQSD đất ông tặng cho em trai là ông Nguyễn
Đức T3 với diện tích 71,6m
2
, diện tích còn lại là 73,8m
2
. Năm 1998, ông đi làm
ăn xa ở Hà Nội thi thoảng mới về nhà, năm 2008 ông thấy ông S - con trai cụ Lê
Hữu P là hộ liền kề đã xây móng và tường nhà lấn sang phần diện tích đất 73,8m
2
của hộ gia đình ông nhưng mãi đến năm 2017 ông mới có đơn đề nghị Ủy ban
nhân dân thị trấn B giải quyết vì nghĩ đến tình làng nghĩa xóm nhưng gia đình ông
3
S càng ngày càng có thái độ không đúng mực nên ông khởi kiện ra Tòa yêu cầu
hộ gia đình ông Lê Hồng S trả lại gia đình ông 1,4 m
2
đất đang lấn chiếm theo kết
qua đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện K (cũ). Theo ông, hộ
gia đình cụ P, ông S cho rằng ông S xây nhà trên nền móng nhà bếp cũ của gia
đình cụ P đã xây từ năm 1985 là không đúng mà toàn bộ móng và tường nhà đang
xây lấn sang 1,4 m
2
đất của gia đình ông là do ông S xây mới từ năm 2008. Ông
không có ý kiến gì đối với toàn bộ kết quả đo đạc, xem xét thẩm định và định giá
tài sản.
Bị đơn ông Lê Hùng S trình bày: Năm 2008 vợ chồng ông được bố mẹ và
các anh chị em trong gia đình cho mượn một phần diện tích đất khoảng 120m
2
để
xây nhà ra ở riêng tại thửa số 114, tờ bản đồ 16 ở khu T, thị trấn B, huyện K, tỉnh
Hòa Bình (nay là khu T, xã K, tỉnh Phú Thọ). Thửa đất số 114 đã được Chủ tịch
Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) cấp Giấy CNQSD đất 00418 ngày 26/09/2002 đứng
tên hộ ông Lê Hữu P (bố đẻ) với diện tích được cấp là 509,6 m
2
. Tháng 1/2008,
ông cho thợ khởi công xây tầng 1 đến năm 2018 thì xây tiếp tầng 2. Thời điểm
năm 2008 khi chuẩn bị xây nhà, cụ P có sang trao đổi với bà T2 (mẹ đẻ ông L) về
vấn đề xây dựng. Năm 2008, khi ông xây tầng 1 thì chưa xảy ra tranh chấp, đến
năm 2017 mới xảy ra tranh chấp vì ông L cho rằng vợ chồng ông xây nhà lấn sang
đất nhà ông L. Tuy nhiên gia đình ông không lấn chiếm đất nhà ông L, phần diện
tích đất chồng lấn theo kết quả đo đạc là 1,4m
2
nằm trong tổng diện tích đất mà
bố mẹ ông đã quản lý, sử dụng từ năm 1977. Năm 2000 khi Nhà nước làm thủ tục
cấp sổ đỏ, đo đạc hiện trạng sử dụng không có thành viên nào được tham gia nên
Giấy CNQSD đất đã cấp cho hộ ông Lê Hữu P không đúng theo hiện trạng sử
dụng. Bằng chứng là năm 2008 khi xây tường nhà (phía giáp hộ ông Nguyễn Ngọc
L bây giờ) thợ xây đã sử dụng lại khoảng 5,5m là phần móng cũ được làm bằng
đá hộc, vôi cát mà bố mẹ ông đã xây và sử dụng từ năm 1985 (trước đây là móng
của nhà Bếp cũ và tường bao quanh khu đất mà bố mẹ ông ở từ năm 1977), trên
phần diện tích đất tranh chấp 1,4m
2
hiện nay là toàn bộ phần móng cũ đó. Ông S
không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L và đồng ý với yêu cầu độc lập của
cụ Lê Hữu P.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, cụ Lê Hữu P
trình bày: Gia đình cụ đã sinh sống trên thửa đất số 114 từ năm 1977. Trước đây
ngăn cách giữa đất nhà cụ và nhà bà Phạm Thị N1 là con mương, khoảng năm
1982 thì con mương khô cạn, các hộ gia đình ở hai bên bờ mương đã san lấp lòng
M1 để lấy đất sử dụng, các hộ đã xây dựng các công trình nơi giáp ranh đất sau
khi san lấp mương. Năm 1985, gia đình cụ đã xây nhà bếp và tường rào bao quanh
khu đất hộ gia đình cụ ở giáp gianh với đất của hộ bà Phạm Thị N1 . Nhà Bếp có
phần móng nổi được xây bằng đá hộc, vôi, cát do thời điểm đó chưa có xi măng.
4
Khi gia đình bà Triệu Thị T2 (mẹ đẻ ông Nguyễn Ngọc L) từ T chuyển ra mua
đất của hộ bà N1 thì các công trình giáp ranh đã khép kín. Ranh giới, mốc giới
giữa đất của hộ gia đình cụ và hộ gia đình bà N1 chính là nhà bếp và tường bao
hộ gia đình cụ xây từ năm 1985.
Ngày 26/9/2002, hộ gia đình cụ được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ)
cấp Giấy CNQSD đất đối với thửa đất số 114, tờ bản đồ 16 với diện tích là 509,6
m
2
tại khu T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là Khu T, xã K, tỉnh Phú
Thọ) đứng tên hộ ông Lê Hữu P. Tuy nhiên, năm 2000 khi tiến hành đo đạc, xác
định ranh giới, mốc giới đất và giao nhận diện tích theo hiện trạng sử dụng để làm
thủ tục cấp sổ đỏ cho hộ gia đình cụ thì không có mặt bất cứ thành viên nào trong
hộ gia đình nên Giấy CNQSD đất đã cấp không đúng theo hiện trạng sử dụng, cấp
thiếu cho hộ gia đình cụ 1,4 m
2
đất mà hiện nay ông L đang khởi kiện tranh chấp.
Chữ ký và chữ viết cụ Lê Hữu P trong Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa
đất và giao nhận diện tích (theo hiện trang sử dụng) ngày 14/9/2000 không phải
là chữ ký và chữ viết của cụ mà đó là giả mạo. Khi nhận Giấy CNQSD đất vì diện
tích đất được cấp lớn là 509,6m
2
, cụ là người dân không tự cầm thước đo lại diện
tích đất của mình được và cũng tin tưởng vào nhà nước nên vẫn chưa biết bị cấp
thiếu phần diện tích đất đang tranh chấp. Năm 2008, con trai cụ là ông Lê Hùng
S đã xây tường nhà mới trên nền móng cũ của nhà bếp và tường bao do gia đình
cụ xây từ năm 1985, phần móng cũ này hiện nay vẫn còn nguyên trên 1,4m
2
đất
tranh chấp nằm trong tổng diện tích đất mà gia đình cụ đã sử dụng từ năm 1977
nên cụ không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông L và có đơn yêu cầu độc lập
với nội dung: Yêu cầu ông Nguyễn Ngọc L trả lại hộ cụ Lê Hữu P 1,4 m
2
đất, đề
nghị Tòa án công nhận cho hộ cụ Lê Hữu P được quyền sử dụng 1,4 m
2
đất này
và đề nghị Tòa án hủy Giấy CNQSD đất số 00418 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân
tỉnh H cấp cho hộ ông Lê Hữu P ngày 26/09/2002. Quá trình giải quyết vụ án và
tại phiên tòa cụ rút một phần yêu cầu độc lập đối với yêu cầu đề nghị hủy Giấy
CNQSD đất số 00418 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) đã cấp cho hộ cụ
Lê Hữu P và sửa đổi bổ sung yêu cầu độc lập cụ thể: Đề nghị Tòa án công nhận
cho hộ cụ Lê Hữu P được quyền sử dụng 1,4 m
2
đất đang tranh chấp theo kết quả
đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K (cũ), đề nghị cơ quan
chức năng chỉnh lý lại Giấy CNQSD đất đã cấp cho hộ gia đình cụ theo đúng, đủ
diện tích bao gồm1,4 m
2
đất mà cụ yêu cầu được công nhận quyền sử dụng.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Xuân H và
ông Nguyễn Quốc K đều nhất trí với yêu cầu khởi kiện và ý kiến trình bày của ông
Nguyễn Ngọc L.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị Đ, ông Lê
Quang C, bà Lê Thị Hải H1, bà Lê Thị T, bà Lê Thị Kim H2, ông Lê Anh T1 và
5
anh Lê Minh N: đều nhất trí với ý kiến của ông Lê Hùng S và cụ Lê Hữu P.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân tỉnh P có văn
bản trình bày: Thửa đất số 114 diện tích là 509,6 m
2
của gia đình cụ Lê Hữu P
được Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là Ủy ban nhân
dân xã K, tỉnh Phú Thọ) cùng chủ sử dụng đất, các chủ sử dụng liền kề, cán bộ đo
đạc, cán bộ địa chính tiến hành khảo sát xác định ranh giới và cắm mốc ranh giới
hiện trạng sử dụng đất; Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất và giao
nhận diện tích ngày 14/9/2000 đã được các thành phần ký xác nhận và không có
ý kiến về chồng lấn và tranh chấp. Thời điểm Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình cấp
Giấy CNQSD đất cho hộ cụ Lê Hữu P cùng với thời điểm cấp Giấy CNQSD đất
cho hộ ông Nguyễn Ngọc L. Kết quả cấp Giấy CNQSD đất năm 2002 cho các hộ
đúng với kết quả đo đạc xác định ranh giới, mốc giới hiện trạng của các chủ sử
dụng đất. Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ Văn phòng Đ, Chi nhánh văn phòng Đ không
tìm được hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất số phát hành R948661 do Chủ tịch Ủy ban
nhân dân tỉnh H (cũ) cấp cho hộ cụ Lê Hữu P ngày 26/9/2002; hồ sơ Giấy CNQSD
đất số phát hành R948683 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) cấp cho hộ
ông Nguyễn Văn L1 ngày 26/9/2002 và hồ sơ cấp đổi Giấy CNQSD đất số phát
hành BI 514592 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp cho hộ ông Nguyễn Ngọc L.
Đề nghị Tòa án xem xét các vấn đề liên quan đến đề nghị của ông Nguyễn Ngọc
L và cụ Lê Hữu P trong đó có nội dung cụ P đã sử dụng diện tích đất tranh chấp
từ năm 1985. Năm 2000 khi đo đạc xác định ranh giới nhà cụ P không có thành
viên nào tham gia. Biên bản ngày 14/9/2000 theo ý kiến của cụ P là chữ ký giả
mạo và kết quả xác định ranh, mốc giới đo đạc tại thực địa; kết quả đã cấp Giấy
CNQSD đất năm 2002 cho 2 hộ gia đình để xem xét giải quyết theo quy định pháp
luật.
Kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện K (cũ) thì
ranh giới hiện trạng sử dụng đất của hộ cụ Lê Hữu P chồng lấn vào ranh giới đã
cấp Giấy CNQSD đất của hộ ông Nguyễn Ngọc L là 1,4m
2
. Kết quả xem xét thẩm
định trên phần diện tích đất này hộ ông Lê Hùng S đã xây tường nhà, bên dưới
tường nhà là phần móng xây bằng đá hộc, vôi, cát cao khoảng 50cm. Kết quả định
giá của Hội đồng định giá tài sản thì đất tại vị trí thửa đất số 122, tờ bản đồ số 16
ở khu T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình (cũ) có giá thị trường là 28.000.000
đồng/m
2
.
Kết luận giám định số 2229/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng K1 -
Công an tỉnh P "chữ ký” và “chữ viết họ và tên” Lê Hữu P trên Biên bản xác định
ranh giới, mốc giới thửa đất và giao nhận diện tích (theo hiện trạng sử dụng) ngày
14/9/2000 không phải là chữ ký và chữ viết của cụ Lê Hữu P.
6
Bản án dân sự sơ thẩm số: 09/2025/DS-ST ngày 04/12/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ đã quyết định: Căn cứ vào Điều 26; Điều 35, Điều
39; Điều 147; Điều 157; Điều 165; Điều 228; Điều 235; Điều 244; Điều 266; Điều
271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ các Điều 163; Điều 164;
Điều 166 và Điều 175 của Bộ luật Dân sự. Căn cứ khoản 47 Điều 3; Điều 4; Điều
26; Điều 138; Điều 152; Điều 171 và Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc L về việc yêu cầu hộ gia đình
ông Lê Hùng S trả lại 1,4m
2
đất tại thửa đất số 122, tờ bản đồ số 16 ở địa chỉ khu
T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là khu T, xã K, tỉnh Phú Thọ).
Chấp nhận yêu cầu độc lập của cụ Lê Hữu P: Công nhận hộ gia đình cụ Lê
Hữu P được quyền sử dụng 1,4m
2
đất tại thửa đất số 122, tờ bản đồ số 16 ở địa
chỉ khu T, thị trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là khu T, xã K, tỉnh Phú Thọ )
có vị trí, tứ cận cụ thể: Điểm làm chuẩn là dấu sơn vàng trên cột điện (bên lề
đường 12C) ở phía trước bên phải cửa nhà ông Lê Hùng S theo hướng từ trong
nhà đi ra đến điểm số 1 dài 2,6m; Phía Đông (từ điểm số 1 đến điểm số 2) giáp lề
đường 12C rộng 0,24m; Phía Bắc (từ điểm số 2 đến điểm số 3) giáp nhà hộ anh
Lê Hùng S dài 11,64m; Phía Nam (từ điểm số 1 đến điểm số 3) giáp hộ ông
Nguyễn Ngọc L dài 11,61 m.
(Có sơ đồ chi tiết kèm theo Bản án)
Kiến nghị Chi nhánh Văn phòng Đ chỉnh lý Giấy CNQSD đất số 00418 do
Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) cấp cho hộ cụ Lê Hữu P ngày 26/09/2002.
Hộ gia đình cụ Lê Hữu P có quyền liên hệ với cơ quan chức năng để làm
thủ tục chỉnh lý Giấy CNQSD đất.
Hộ gia đình ông Nguyễn Ngọc L có trách nhiệm bàn giao Giấy CNQSD
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI514592 do Ủy ban
nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình (cũ) cấp ngày 20/4/2012 đứng tên hộ ông
Nguyễn Ngọc L cho người được thi hành án theo Bản án, quyết định của Tòa án
để người được thi hành án làm thủ tục chỉnh lý Giấy CNQSD đất theo quy định
pháp luật.
Đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của cụ Lê Hữu P về việc yêu cầu hủy
Giấy CNQSĐ đất số 00418 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) cấp cho hộ
ông Lê Hữu P ngày 26/09/2002.
Ngoài ra, Bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và
quyền kháng cáo của đương sự
Ngày 15/12/2025, ông Nguyễn Ngọc L kháng cáo đề nghị Hủy bản án sơ
thẩm số: 09/2025/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
7
vực 13 - Phú Thọ vì khi đi làm xa thì ông Lê Hùng S đã cho thợ xây lấn sang đất
nhà ông. Có biên bản của Ủy ban nhân dân thị trấn B ngày 05/9/2017 xác định
ông S lấn chiếm đất nhà ông cùng Quyết định xử lý hành chính và biên bản yêu
cầu Lê Hùng S dừng thi công nhưng không được Tòa án nhân dân khu vực 13 -
Phú Thọ xem xét. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, buộc ông S và cụ P phải trả cho
lại cho ông L diện tích 1,4m
2
.
Các đương sự đều giữ nguyên lời khai, ông L không rút đơn kháng cáo, các
đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán và
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
dân sự ở giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp tụng
dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự và
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban vụ Quốc hội, Bác kháng cáo của
ông Nguyễn Ngọc L, giữ nguyên ản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày
04/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 13 – Phú Thọ. Về án phí, ông L được
miễn án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc
thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn
diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng
[1.1] Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đơn
kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc L trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp
nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hộ gia đình Bị đơn trả lại 1,4m
2
đất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cụ Lê Hữu P có yêu cầu độc lập đề nghị
Tòa án công nhận cho hộ gia đình cụ được quyền sử dụng 1,4m
2
đất này và đề
nghị cơ quan chức năng chỉnh lý lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp
cho hộ gia đình cụ theo đúng, đủ diện tích bao gồm cả 1,4m
2
đất tranh chấp. Diện
tích đất tranh chấp có địa chỉ tại khu T, xã K, tỉnh Phú Thọ. Tòa án nhân dân khu
vực 13 - Phú Thọ xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp quyền sử dụng đất,
yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất và Chỉnh lý giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất để thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
8
Trước đó, Cụ P có yêu cầu độc lập Hủy Giấy CNQSD đất cấp cho gia đình
mình, sau cụ xin rút yêu cầu này chỉ đề nghị chỉnh lý Giấy CNQSD đất. Tòa án
cấp sơ thẩm xác định yêu cầu Hủy Giấy CNQSD đất là yêu cầu độc lập và Đình
chỉ yêu cầu này là không đúng theo hướng dẫn tại Công văn số 196/TANDTC -
PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao, cấp sơ thẩm cần rút kinh
nghiệm.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, ông L, ông S, cụ P, ông H, ông K, bà H1, bà
T và ông C có mặt. Ủy ban nhân dân tỉnh P và những người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan khác có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố
tụng dân sự, Tòa án vẫn xét xử theo quy định.
[2] Về nội dung
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc L về việc đề nghị Tòa án cấp phúc
thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L, buộc ông S và cụ P phải trả
cho lại cho ông L diện tích 1,4m
2
. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Ông Nguyễn Ngọc L khởi kiện yêu cầu hộ gia đình ông Lê Hùng S
trả lại 1,4m
2
đất đang sử dụng, vì diện tích này nằm trong phần diện tích đất
73,8m
2
đất mà hộ ông L đã được Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) cấp Giấy CNQSD
đất lần đầu số BI 514592 tại thửa đất số 122, tờ bản đồ số 16 ở địa chỉ khu T, thị
trấn B, huyện K, tỉnh Hòa Bình (nay là khu T, xã K, tỉnh Phú Thọ). Ngày
27/6/2012, Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình (cũ) cấp đổi lại lần 2 do sai
tên đệm, điều chỉnh lại tên chủ hộ là hộ ông Nguyễn Ngọc L.
Hộ gia đình ông Lê Hùng S không đồng ý vì cho rằng 1,4m
2
đất đang tranh
chấp nằm trong tổng diện tích đất do hộ gia đình mình đã sử dụng từ năm 1977.
Năm 2000 khi tiến hành đo đạc, xác định ranh giới, mốc giới đất và giao nhận
diện tích theo hiện trạng sử dụng để làm thủ tục cấp sổ đỏ thì không có ai trong
hộ gia đình được tham gia nên Giấy CNQSD đất đã cấp bị thiếu 1,4m
2
. Năm 2008,
ông S đã xây tường nhà phía giáp hộ ông L trên nền móng nhà Bếp, tường bao cũ
của gia đình Bị đơn đã xây từ năm 1985 bằng đá hộc, vôi, cát nhưng ông L không
có ý kiến. Đến năm 2017, khi ông S tiếp tục xây tầng 2 thì giữa các bên mới phát
sinh tranh chấp. Nay cụ Lê Hữu P có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án công nhận
cho hộ gia đình cụ được quyền sử dụng 1,4m
2
đất đang tranh chấp và đề nghị cơ
quan chức năng chỉnh lý lại Giấy CNQSD đất đã cấp cho hộ gia đình theo đúng
hiện trạng diện tích sử dụng bao gồm cả 1,4m
2
đất tranh chấp.
[2.2] Căn cứ vào lời khai của Nguyên đơn, Bị đơn, Người làm chứng và
các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có căn cứ xác định: hộ gia đình cụ P
đã xây nhà Bếp, tường bao trên 1,4m
2
đất tranh chấp từ khoảng năm 1985, chính
bản thân ông L cũng khẳng định khi mua đất của bà N1 năm 1990, gia đình ông
chuyển về sinh sống thì gia đình cụ P đã xây dựng nhà, bếp nên mốc giới giữa hai
9
nhà được xác định nhà bếp, do đó ông L không xây tường bao nữa. Năm 2008 vợ
chồng ông Lê Hùng S làm nhà ở, đã xây tường nhà (phía giáp hộ ông L) trên phần
móng của nhà Bếp, tường bao cũ được làm bằng đá hộc, vôi, cát. Thời điểm ông
S xây tầng 1, giữa hai bên không xảy ra tranh chấp gì, mãi đến năm 2017 khi ông
S tiếp tục xây tầng 2 thì mới phát sinh tranh chấp. Việc ông L cho rằng thời điểm
ông S xây tầng 1 là do ông đi làm ăn xa nên vì tình làng nghĩa xóm mà không báo
với chính quyền địa phương là thiếu sức thuyết phục.
Đối chiếu hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất của hai hộ, thấy rằng hộ gia đình cụ
P cũng không được xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất theo đúng hiện trạng sử
dụng. Hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất của hai hộ ông L và cụ P không thu thập được
mà chỉ thu thập được bản gốc Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất và
giao nhận diện tích (theo hiện trạng sử dụng) ngày 14/9/2000 của hộ cụ Lê Hữu
P. Kết luận giám định số 2229/KL-KTHS ngày 29/9/2025 của Phòng K1 - Công
an tỉnh P “chữ ký” và “chữ viết họ và tên” Lê Hữu P trên Biên bản này không
phải là của cụ Lê Hữu P. Bản đồ địa chính và Sổ mục kê lưu tại Ủy ban nhân dân
cấp xã đều không mô tả ranh giới, mốc giới đất giữa 2 hộ. Theo kết quả xem xét
thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm cũng như kết quả đo đạc của Chi nhánh
văn phòng Đ thì ranh giới theo hiện trạng sử dụng đất của hộ cụ Lê Hữu P chồng
lấn vào ranh giới đã cấp Giấy CNQSD đất của hộ ông Nguyễn Ngọc L là 1,4m
2
.
Trên diện tích 1,4m
2
đất này hộ ông Lê Hùng S đã xây tường nhà (tường 10), bên
dưới tường nhà là phần móng xây bằng đá hộc, vôi, cát cao khoảng 50cm mà gia
đình cụ P đã xây từ năm 1985.
Như vậy, cần phải căn cứ vào nguồn gốc và thực tế quá trình sử dụng đất
để giải quyết tranh chấp đất giữa hai hộ. Thấy rằng hộ gia đình ông L nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của hộ bà Phạm Thị N1, năm 1990 hộ ông L về ở trên
thửa đất này, khi về sinh sống mốc giới giữa hộ cụ P và hộ bà N1 đã được xác
định là nhà Bếp và tường bao của gia đình cụ P xây từ năm 1985. Ngoài ra hộ ông
L cũng không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh về nguồn gốc,
thời điểm quản lý, sử dụng đối với diện tích đất tranh chấp 1,4m
2
trước thời điểm
hộ cụ P sử dụng. Hơn nữa, khi gia đình ông S xây nhà từ năm 2008 gia đình ông
L cũng không có ý kiến phản đối gì mãi đến năm 2017 mới phát sinh tranh chấp.
Do đó, việc công nhận quyền sử dụng đất cần tôn trọng nguồn gốc, quá trình sử
dụng đất ổn định, lâu dài. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của
ông L, chấp nhận yêu cầu độc lập của cụ Lê Hữu P là có căn cứ.
[2.3] Về án phí, chi phí tố tụng, xét thấy: Do yêu cầu khởi kiện của Nguyên
đơn không được chấp nhận nên Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ
thẩm và chi phí xem xét thẩm định. Nguyên đơn là người cao tuổi và có đề nghị
được miễn án phí. Tòa án cấp sơ thẩm cho miễn án phí và buộc Nguyên đơn phải
10
chịu chi phí xem xét thẩm định là 5.500.000 đồng là có căn cứ. Đối với chi phí
giám định 5.000.000 đồng, ông P tự nguyện nộp toàn bộ nên không xem xét trong
vụ án.
[2.4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, cần chấp
nhận.
Từ những nhận định ở các mục nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: không
có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc L, giữ nguyên án dân sự
sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ.
[2.5] Đối với án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên
ông L phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, ông L có đơn xin miễn án
phí với lý do là người cao tuổi. Căn cứ Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều
12; Điều 14; Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông L.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Ngọc L. Giữ nguyên án dân
sự sơ thẩm số: 09/2025/DS-ST ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 13 - Phú Thọ.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: căn cứ Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự
và Điều 12; Điều 14; Điều 29 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Ngọc L. Hoàn trả lại cho
ông Nguyễn Ngọc L 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền tạm ứng án
phí đã nộp theo lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006996 ngày 22
tháng 12 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (13/4/2026)./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 13 - Phú Thọ
- VKSND khu vực 13 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 13 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Hoàng Ngọc Liễu
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm