Bản án số 312/2026/DS-PT ngày 09/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 312/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 312/2026/DS-PT ngày 09/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Cà Mau
Số hiệu: 312/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/04/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: bà H khởi kiện yêu cầu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 312/2026/DS-PT
Ngày 09 4 2026
V/v tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
vô hiệu, đòi lại tài sản là quyền sử dụng
đất
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Bà Tiêu Hồng Phượng
Ông Trương Thanh Dũng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà:
Nguyễn Nguyệt Hân Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 73/2026/TLPT-DS ngày 24 tháng 02
năm 2026 vviệc: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
vô hiệu, đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 25/2026/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 225/2026/QĐ-PT ngày 10
tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Nguyễn Thị H, sinh năm 1935 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: 096135001457 do Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự xã hội cấp ngày 01/11/2022.
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của Nguyễn Thị H: Ông Phan
Hoàng B, sinh năm 1959; địa chcư trú: Số G, đường H, khóm F, phường T, tỉnh
Mau (Có mặt).
- Bị đơn:
1. Bà Bùi Thị L, sinh năm 1984 (có mặt);
Căn cước số: 096184004086 do Bộ C3 cấp ngày 09/4/2025.
2. Ông Trần Thanh N, sinh năm 1978 (có mặt);
Căn cước công dân số: 096078005462 do Cục Cảnh sát quản hành chính
về trật tự xã hội cấp ngày 12/8/2021.
2
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Bùi Văn L1, sinh năm 1978 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền của ông Bùi Văn L1: Chị Bùi Thị T,
sinh năm 1995; địa chỉ cư trú: Ấp C, xã T, tỉnh Cà Mau (Có mặt).
2. Ông Phan Văn T1, sinh năm 1972 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
3. Bà Phan Thị B1, sinh năm 1964 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp K, xã V, tỉnh An Giang.
4. Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1965 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
5. Bà Phan Thị T2, sinh năm 1962 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau.
6. Bà Phan Thị Đ1, sinh năm 1951 (Vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
7. Ông Phan Văn H1, sinh năm 1953 (Vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã S, tỉnh Cà Mau.
8. Ông Võ Văn V, sinh năm 1975 (Vắng mặt);
9. Bà Lê Ngọc G, sinh năm 1972 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
10. Ông Bùi Văn C, sinh năm 1955 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau.
11. Chị Phan Thị Bé N1, sinh năm 1998 (Vắng mặt);
12. Anh Nguyễn Văn T3 (Vắng mặt);
Cùng cư trú: Ấp A, xã K, tỉnh Cà Mau
13. Bà Phạm Thị K, sinh năm 1980 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau
14. Anh Phan Văn K1, sinh năm 2007 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp T, xã H, tỉnh Cà Mau.
15. Bà Trịnh Thị Đ2, sinh năm 1960 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Ấp C, xã L, tỉnh Cà Mau
- Người kháng cáo: Nguyễn Thị H, là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện của Nguyễn Thị H trong quá trình giải quyết v
án người đại diện của bà Nguyễn Thị H trình bày:
Nguyễn Thị H ông Phan Văn T4, sinh năm 1935 (chết ngày 26/6/1996)
8 người con chung: Ông Phan Văn H1, ông Phan Văn C1 (chết), Phan Thị Đ1,
3
Phan Thị T2, bà Phan Thị Đ, Phan Thị B1, ông Phan Văn T1, ông Phan Văn
Đ3 (đã chết).
H và ông T4 tạo lập được phần đất diện tích 28.620m² thuộc thửa 0352,
0431, tờ bản đồ số 12, được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận vào
ngày 24/4/1994, đất tọa lạc tại ấp T, P, huyện T, tỉnh Mau (nay T, tỉnh
Cà Mau). Sau khi ông T4 chết, phần đất nêu trên do bà Hông Phan Văn Đ3 canh
tác. Sau khi ông Phan Văn Đ3 chết vào năm 2022 thì Bùi Thị L ông Trần
Thanh N canh tác phần đất của bà H. H đến Chi nhánh Văn phòng đăng
đất đai huyện T xin phô tô sao y hồ sơ cấp quyền sử dụng đất của ông Phan Văn T4
thì phát hiện ông Phan Văn Đ3 đã lập Biên bản họp gia đình ngày 02/7/2015 để
chuyển quyền sử dụng đất từ ông Phan Văn T4 qua tên ông Phan Văn Đ3, do Chi
nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện T chỉnh lý biến động giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất từ ông Phan Văn T4 qua ông Phan Văn Đ3 ngày 12/8/2015.
Ngày 10/12/2019, ông Phan Văn Đ3 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất toàn bộ diện tích đất nêu trên cho ông Bùi Văn L1, ông L1 đã được chỉnh
biến động đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 30/5/2020, ông Bùi
Văn L1 làm giấy tay chuyển nhượng lại toàn bộ phần đất nêu trên cho bà Bùi Thị L
và ông Trần Thanh N.
Bà H xác định Biên bản họp gia đình lập ngày 02/7/2015 là không đúng, trái
quy định của pháp luật. Lý do bà H có 8 người con, đã chết 2 người, còn lại 6 người
nhưng trong biên bản họp gia đình trên chỉ 2 người ký tên còn lại 04 người không
ký, nhưng chính quyền địa phương lại ký xác nhận không đúng theo trình tự thủ tục
quy định của pháp luật; đồng thời, H xác định bà không tham gia cuộc họp gia
đình ngày 02/7/2015 và không hay lăn tay trong biên bản. Do đó, H khởi
kiện yêu cầu:
Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn
Đ3 với ông Bùi Văn L1 do Ủy ban nhân dân P chứng thực số 99 ngày 10/12/2019
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông Bùi Văn L1 với Bùi
Thị L và ông Trần Thanh N lập ngày 30/5/2020 vô hiệu;
Buộc bà Bùi ThL ông Trần Thanh N di dời nhà cửa và vật kiến trúc đi nơi
khác để trả lại cho bà H diện tích 28.620m² thuộc thửa 352, 431, được Ủy ban nhân
dân huyện T cấp giấy chứng nhận vào ngày 24/4/1994 do ông Phan Văn T4 đứng
tên quyền sử dụng đất.
- Theo bà Bùi Thị L và ông Trần Thanh N trình bày:
Ngày 30/5/2020, vợ chồng ông nhận chuyển nhượng của ông Bùi Văn
L1 phần đất diện tích 28.620m² thuộc thửa 352, 0431, được Ủy ban nhân dân
huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/4/1994 cho ông Phan Văn
T4 đứng tên, đất tọa lạc ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau; giá chuyển nhượng 35 lượng vàng
24k (ghi trong hợp đồng 14 lượng 4 chvàng 24k). Theo tờ sang nhượng đất ngày
30/5/2020 al chỉ sang nhượng một phần, phần diện tích còn lại tặng cho để sau
này không phải đóng thuế, nhưng thực tế chuyển nhượng toàn bộ phần đất. Vợ
chồng ông đã giao đủ số vàng chuyển nhượng cho ông L1, hai bên chỉ lập giấy
tay chuyển nhượng, vợ chồng quản sdụng đất từ thời điểm chuyển nhượng
4
đến nay và đã cất nhà trồng cây trên đất. Việc vợ chồng bà quản lý canh tác đất,
H các con H đều biết nhưng không ai ý kiến gì. Thời điểm này vợ chồng
ông bà người trực tiếp nuôi dưỡng bà H, đến khoảng năm 2022 ông Đ3 chết thì các
bên phát sinh mâu thuẫn, bà H không ở chung với vợ chồng ông bà nữa. Việc H
để lại thừa kế cho ông Đ3 như thế nào thì vợ chông ông không biết; ông không
đồng ýu cầu khởi kiện của bà H. Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu của H
thì ông bà yêu cầu ông L1 phải trả lại số vàng mà ông L1 đã nhận của vợ chồng ông
bà.
- Theo ông Phan Văn H1 trình bày:
Trước đây mẹ ông (bà Nguyễn Thị H) tặng cho ông Đ3 05 công đất (chỉ
bằng lời nói), sau khi cha ông chết thì anh em ông không phân chia đất, ông không
biên bản họp gia đình đlại đất cho ông Đ3. Việc ông Đ3 chuyển nhượng
phần đất cho ông Bùi Vũ L2 như thế nào thì ông không biết. Ông Đ3 con trai út
nên ở với mẹ ông, sau khi ông Đ3 đi làm ăn thì mẹ ông u ông Bùi Văn L1 về
chung với mẹ ông, mẹ ông cho 05 công đất ruộng nhưng với điều kiện khi mẹ ông
bệnh thì chuyển nhượng để lo cho mẹ ông, nhưng khi mẹ ông còn sống ông L1
đã chuyển nhượng 05 công đất cho người khác. Trong vụ án này ông không có yêu
cầu gì. Do điều kiện đi lại khó khăn, nên đề nghị Toà án tiến hành xét xử vắng mặt
ông ở các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có).
- Theo bà Phan Thị Đ trình bày:
Cha mẹ bà có các người con như bà H trình bày là đúng. Sau khi cha bà chết
không để lại di chúc, phần đất tranh chấp là di sản của cha chết để lại chưa
phân chia đất cho các con, không tên vào biên bản họp gia đình ngày
02/7/2015 về việc giao thừa kế quyền sử dụng đất cho ông Đ3. Ông Đ3 con trai
út ở chung với bà H và nuôi bà H đến khi ông Đ3 chết.
- Theo bà Phan Thị T2 trình bày:
Cha mẹ các người con như H trình bày là đúng, sau khi cha bà chết
không để lại di chúc, phần đất tranh chấp là di sản của cha chết để lại chưa
phân chia, không vào biên bản họp gia đình ngày 02/7/2015 vviệc giao
thừa kế quyền sử dụng đất cho ông Đ3. Ông Đ3 con trai út chung với bà H
nuôi H đến khi ông Đ3 chết. Khi cha còn sống thì cha mẹ chưa phân chia
đất cho các con, thống nhất ý kiến trình bày của H, không có ý kiến khác.
Do điều kiện đi lại khó khăn đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng vắng
mặt, bà đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ở các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm (nếu
có).
- Theo bà Phan Thị B1 trình bày:
Cha mẹ các người con như bà H trình bày là đúng, sau khi cha bà chết
không để lại di chúc, phần đất tranh chấp là di sản của cha chết để lại chưa
phân chia, không vào biên bản họp gia đình ngày 02/7/2015 vviệc giao
thừa kế quyền sử dụng đất cho ông Đ3. Việc ông Đ3 lập biên bản họp gia đình về
việc giao thừa kế quyền sử dụng đất ngày 02/7/2015 bà không biết, bà không có ký
vào biên bản họp gia đình, bà thống nhất với ý kiến trình bày của bà H, trong vụ án
này không yêu cầu chia thừa kế, do điều kiện đi lại khó khăn đề nghị Tòa án
5
tiến hành các thủ tục tố tụng vắng mặt, đề nghị Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ở
các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có).
- Theo ông Bùi Văn L1 trình bày:
Vào ngày 10/12/2019, ông có nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn Đ3 (là
cậu ruột của ông) phần đất diện tích 28.620m
2
tại Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau
(nay xã T, tỉnh Mau). Phần đất này ông nhận chuyển nhượng của ông Đ3 nhiều
lần, khi chuyển nhượng ch thoả thuận bằng lời nói, không có làm giấy tờ.
Lần thứ nhất, thời điểm còn canh tác trồng lúa hơn 20 năm ông Đ3 hay là ông
N2 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn C diện tích 07 công tầm lớn giá chuyển nhượng
khoảng 3,2 chỉ vàng 24k/công phần đất nằm ở hậu đất. Ông C quản lý, sử dụng chỉ
vài năm, sau đó ông C cầm cố cho ông Văn V gần 20 năm hiện tại ông V đang
canh tác đến nay, phần đất này thì ông C tặng cho ông.
Lần thứ hai, khoảng năm 2017 ông Đ3 chuyển nhượng cho ông diện tích 04
công tầm lớn, giá chuyển nhượng mỗi công bằng 7,5 chỉ vàng 24k.
Lần thứ ba, năm 2019 ông Đ3 chuyển nhượng cho ông hết phần đất còn lại,
giá chuyển nhượng mỗi công bằng 01 lượng vàng 24k.
Sau khi chuyển nhượng hết phần đất thì ông và ông Đ3 lập hợp đồng chuyển
nhượng ngày 10/12/2019 sau đó ông làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất
qua ông đứng tên. Sau đó ông chuyển nhượng lại cho anh Trần Thanh N, chị Bùi
Thị L toàn bộ diện tích đất 28.620m
2
, giá chuyển nhượng 35 lượng vàng 24k, hai
bên lập giấy tay chuyển nhượng ngày 30/5/2020 al, đến nay chưa chuyển tên
quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh N và chị L.
Trước đây thời điểm ông Đ3 còn sống chưa chuyển nhượng hết đất cho ông
thì H với ông Đ3; sau khi ông Đ3 chuyển nhượng hết đất cho ông thì bà H
với ông. Thời điểm sau này ông đi làm ăn xa chuyển nhượng đất lại cho chị L,
anh N thì bà H sống với chị L, N mt thời gian. Hiện tại H riêng nhưng vẫn cất
nhà trên phần đất của ông nhận chuyển nhượng của ông Đ3.
- Theo ông Võ Văn V trình bày:
Phần đất ông đang quản lý sử dụng diện tích khoảng 06 công tầm lớn và khẩu
đìa ông nhận cầm cố của ông Bùi Văn C bà Phan Thị Đ1, bà Nguyễn Thị H
vào ngày 05/6/2005. Ông C, bà Đ1 cầm cố 01 lượng vàng 24k; bà H cầm cố 02 chỉ
vàng 24k, làm giấy cầm cố đất. Sau đó đến năm 2018 làm giấy cầm cố lại phần
đất cầm cố năm 2005, giá cầm cố 3,2 lượng vàng 24k, số vàng ông đưa cho ông Bùi
Văn C ông Bùi Văn L1, ông quản sử dụng phần đất này từ khi cầm cố năm
2005 đến nay. Trong ván này ông không yêu cầu gì, ông ông C, ông L1 tự
thỏa thuận. Do điều kiện đi lại kkhăn, ông đề nghị Tòa án tiến hành các thủ tục
tố tụng và xét xử vắng mặt ở các phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có).
- Theo bà Phan Thị Đ1 Trình bày:
Thời điểm cha bà còn sống phân chia đất cho các con, cụ thể: Phân chia
cho ông Phan Văn H1 02 công, cho ông Phan Văn T1 05 công, cho ông Phan Văn
C1 02 công. Quá trình sử dụng thì ông H1 tặng cho con Phan Văn B2 (hiện đã chết)
chuyển nhượng lại cho Bùi L2 giá chuyển nhượng 1,5 lượng vàng 24k do chị
Phan Thị Bé N1 (con ông T1) nhận dùm có làm giấy nhận vàng.
6
Phần đất ông Phan Văn T1 được cho đã chuyển nhượng lại cho vợ chồng
thời điểm chuyển nhượng trên 20 năm, giá chuyển nhượng 3 chỉ/công và sau đó vợ
chồng bà đã cầm cố cho ông Võ Văn V canh tác đến nay. Trước đây bà H cầm cố
cho ông Vũ K2 đìa 01 công giá 02 chỉ vàng 24k, bà H nói vợ chồngtrả 02 chỉ
vàng 24k thì cho luôn khẩu đìa đã cầm cố.
Cùng thời điểm ông B2 chuyển nhượng đất cho anh L2 thì H chuyển
nhượng cho ông L2 01 công đất, Đ chuyển nhượng cho ông L2 01 công đất, giá
chuyển nhượng không nhớ. Phần đất còn lại khoảng 12 công thì ông Đ3 đã chuyển
nhượng lại hết cho ông L2. Do điều kiện đi lại khó khăn đề nghị Toà án xét xử vắng
mặt ở các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có).
- Theo ông Bùi Văn C trình bày:
Thống nhất ý kiến trình bày của Đ1 đề nghị Toà án xét xử vắng mặt
các phiên toà sơ thẩm và phúc thẩm (nếu có).
- Theo chị Phan Thị Bé N1 trình bày:
Thời điểm ông B2 còn sống, ông B2 có nhờ chị nhận của ông L2 05 chỉ vàng
24k khoảng tiền chị không nhớ chính xác tiền chuyển nhượng đất, chị
biên nhận, sau khi nhận tiền vàng, chị đã giao lại cho anh B2.
- Theo bà Phạm Thị K trình bày:
Năm 2007 chung sống với ông Phan Văn Đ3 đăng kết hôn,
ông Đ3 có một người con là Phan Minh K3.
Tại biên bản ghi lời khai của ngày 27/10/2025 trình bày trước đây
Nguyễn Thị H có cầm cố cho cháu nội là anh Phan Văn B2 (con ông Phan Văn
H1) 05 công đất ruộng giá 15.000.000 đồng, bà H kêu vợ chồng vcho 05
công đất cầm cố cho anh B2 nhưng phải trả tiền cố 15.000.000 đồng, bà thay đổi lời
khai không có việc xuất ra 15.000.000 đồng để trả ông B2 lấy lại phần đất H
cầm cố cho ông B2. Trong vụ án này bà không yêu cầu gì, bà đồng ý với ý kiến
của bà H, buộc ông N, bà L trả cho bà H phần đất tranh chấp. Lý do bà thay đổi lời
khai do nhớ nhằm. xác định hiện tại giữa với ông Đ3 không tài sản
chung nào.
- Theo bà Trịnh Thị Đ2 trình bày:
là vợ của ông Phan Văn C1 (ông C1 chết năm 2015). Trước đây bà và ông
C1 chung sống với cụ H, cụ T4; cụ H, cụ T4 có cho vợ chồng bà mượn 03 công đất
ruộng canh tác chưa được cấp quyền sử dụng đất, canh tác khoảng 10 năm thì giữa
ông C1 phát sinh mâu thuẫn không còn sống chung, không còn canh tác đất
và trả lại cho cụ T4, cụ H. Ông C1 có chuyển nhượng phần đất này cho vợ chồng bà
Phan Thị Đ1 hay không thì bà không biết. Trong vụ án này bà không có yêu cầu gì,
trường hợp Toà án đưa vào tham gia tố tụng với cách người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan thì xin vắng mặt quá trình giải quyết vụ án từ thẩm đến
phúc thẩm (nếu có).
Tại bản án dân sự thẩm số: 25/2026/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 3 Cà Mau quyết định:
7
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện Nguyễn Thị H về việc yêu cầu tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn Đ3 với ông Bùi
Văn L1 ngày 10/12/2019 do Ủy ban nhân dân P chứng thực s99 và hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Bùi Văn L1 với Bùi Thị L ông
Trần Thanh N lập ngày 30/5/2020 vô hiệu và buộc Bùi Thị L, ông Trần Thanh N
di dời nhà cửa vật kiến trúc đi nơi khác để trả lại cho Nguyễn H diện tích
28,620 m² (theo đo đạc thực tế diện tích 32.482,7m
2
) thuộc thửa 0352 - 0431, được
Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận vào ngày 24/4/1994, do ông Phan
Văn T4 đứng tên quyền sử dụng đất tọa lạc ấp T, P, huyện T, tỉnh Mau (nay
ấp T, xã T, tỉnh Cà Mau).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí t tụng, án phí và quyền kháng cáo
của đương sự.
Ngày 29/01/2026, Nguyễn Thị H đơn kháng cáo bản án thẩm yêu cầu
cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Tuyên vô hiệu tất cả các thủ tục giấy
tờ và chỉnh lý biến động quyền sử dụng đất từ ông Phan Văn T4 qua ông Phan Văn
Đ3 và tuyên vô hiệu hoặc huỷ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông Phan Văn Đ3 với ông Bùi Văn L1, tuyên vô
hiệu giấy sang nhượng đất bằng giấy tay ngày 30/5/2020 từ ông L1 cho Bùi Thị
L, ông Trần Thanh N buộc Bùi Thị L, ông Trần Thanh N phải trả lại cho
diện tích 32.482,7m
2
để quản sử dụng phân chia thừa kế cho các con của
bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của Nguyễn Thị H giữ nguyên
kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Ông B phát biểu: Nguồn gốc đất là do ông T4 và bà H khai phá, ông T4 chết
không để lại di chúc. Ông T4 và bà H 08 người con (hiện chết 02, còn 06), biên
bản họp gia đình ngày 02/7/2015 không có đủ các con của ông T4 và bà H dự. H
không tên hay lăn tay trong biên bản, Kết luận giám định xác định không đủ
cơ sơ kết luận dấu lăn tay trong biên bản là của bà H. Thủ tục chuyển tên quyền sử
dụng đất tông T4 qua ông Đ3, ông Đ3 chuyển nhượng cho ông L1, ông L1 chuyển
nhượng cho L ông N là không hợp pháp. Do đó, yêu cầu Hội đồng xét xchấp
nhận kháng cáo của H, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà
H.
Bà L phát biểu: Phần đất do vợ chồng bà nhận chuyển nhượng từ ông L1 chứ
không phải ông Đ3, giá chuyển nhượng bằng 35 lượng vàng 24k. Vợ chồng cũng
trực tiếp nuôi dưỡng bà H, bà H ng biết việc vợ chồng bà chuyển nhượng và canh
tác đất. Do đó, yêu cầu không chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên bản án sơ
thẩm.
Ông N phát biểu: Thống nhất với ý kiến tranh luận của L.
T phát biểu: Phần đất là của ông L1 chuyển nhượng cho bà L ông N,
nếu theo giấy tay sang nhượng ghi diện tích chuyển nhượng 13.600m
2
thì diện tích
còn lại cũng là của ông L1 chứ không phải của bà H.
8
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết ván, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của B
luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị H, giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Phần đất tranh chấp theo đo đạc thực tế có diện tích 32.482,7m
2
(theo đo
đạc chỉnh lý thửa đất số 91, 108, 122, 130 tờ bản đồ s8 chỉnh lý năm 2023, trong
đó có thửa s4 diện tích 4,7m
2
chưa thống nhất ranh đất với ông Ngô Văn L3
thửa 5 diện tích 33,4m
2
chưa thống nhất ranh đất với ông Lê Chiến C2, nhưng chưa
phát sinh tranh chấp), thuộc thửa số 352, 431 tờ bản đồ số 12 do Ủy ban nhân dân
huyện T cấp cho ông Phan Văn T4 ngày 24/4/1994. Đến ngày 12/8/2015, ông Phan
Văn Đ3 được thừa kế chỉnh sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đến
ngày 10/12/2019 ông Đ3 chuyển nhượng cho ông Bùi Văn L1, ông L1 được chỉnh
lý sang tên quyền sử dụng đất ngày 18/12/2019; đến ngày 30/5/2020 anh L1 chuyển
nhượng lại cho vợ chồng Bùi Thị L ông Trần Thanh N. H cho rằng việc
ông Đ3 thừa kế quyền sử dụng đất không đúng quy định pháp luật, nên yêu cầu
tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đ3 với ông L1 ngày
10/12/2019 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L1 với bà L
ông N lập ngày 30/5/2020 hiệu. Buộc L ông N di dời nhà cửa vật kiến
trúc đi nơi khác để trả lại cho bà H diện tích 28.620m² thuộc thửa 0352, 0431 (theo
đo đạc thực tế diện tích 32.482,7m
2
) được y ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng
nhận vào ngày 24/4/1994 do ông Phan Văn T4 đứng tên quyền sử dụng đất tại ấp T,
xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay xã T, tỉnhMau). Ông L1, ông N và bà L không
đồng ý yêu cầu ca bà H.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của H thấy rằng:
[2.1] Theo H xác định, thời điểm ông T4 còn sống ng như sau khi ông
T4 chết thì chưa phân chia đất cho các con; sau khi ông T4 chết, H các con
không có tham dự họp gia đình để lại thừa kế cho ông Đ3, việc ông Đ3 lập biên bản
họp gia đình phân chia di sản thừa kế không đúng quy định. Bà L ông N cho
rằng thời điểm khi chuyển nhượng đất canh tác đất đến thời gian tranh chấp thì
cụ H biết và không có ý kiến, còn việc ông Đ3 nhận thừa kế như thế nào thì L và
ông N không biết.
[2.2] Đối với Đ1 con của ông T4, bà H xác định khi ông T4 còn sống thì
đã phân chia đất cho các con, cụ thể: Cho ông H1 02 công đất, ông H1 không s
dụng cho lại con ông H1 là anh Phan Văn B2, anh B2 sau đó chuyển nhượng lại cho
ông L1; Cho ông Phan Văn T1 05 công đất; cho ông Phan Văn C1 02 công đất. Ông
C1, ông T1 chuyển nhượng lại cho Đ1ông C, sau đó ông C cầm cố cho ông V
hơn 20 năm, hiện tại ông V vẫn đang quản sdụng đất; H chuyển nhượng cho
anh L1 01 công đất; bà Đ chuyển nhượng cho anh L1 01 công đất; phần đất còn lại
ông Đ3 chuyển nhượng lại hết cho anh L1.
9
[2.3] Hiện tại ông Đ3, ông C1ông B2 đã chết; H, Đ, ông H1,T2,
B1 không thừa nhận việc thời điểm ông T4 còn sống phân chia đất cho c
con. H xác định không việc phân chia đất cho các con, chỉ cho mượn canh tác.
Tuy nhiên, các bên chỉ trình bày bằng lời nói, không có giấy tờ chứng minh cho lời
trình bày của mình.
[3] Xét hồ sơ thủ tục thừa kế của ông Phan Văn Đ3, thấy rằng: Tại biên bản
họp gia đình ngày 02/7/2015 về việc giao thừa kế quyền sử dụng đất chỉ thể hiện có
Nguyễn Thị H, Phan Thị Đ1, bà Phan Thị Đ ông Phan Văn Đ3 tham gia, có
ký tên và lăn tay. Đối vớiH, bà Đ thì không thừa nhận có tham gia họp gia đình
phân chia thừa kế (nhưng tại biên bản phiên toà thẩm ngày 29/9/2025 ông B
người đại diện của H trình bày đối với văn bản phân chia thừa kế chỉ H
điểm chỉ; Đ1, Đ tên nhưng không ký); Đ1 thừa nhận tham gia họp gia
đình phân chia thừa kế để lại đất cho ông Đ3. Theo Kết luận giám định số 707/KL-
KTHS ngày 19/11/2025 kết luận: Dấu vân tay mang họ tên Nguyễn Thị H trên mẫu
cần giám định (ký hiệu A) bị mờ nhoè và ít có đặc điểm riêng nên không đủ yếu tố
giám định truy nguyên. Nhưng xét thấy hàng thừa kế thnhất của ông T4 còn có 04
người con không tham gia biên bản họp gia đình ngày 02/7/2015, nên việc ông Đ3
được chỉnh đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ông T4 do được nhận
thừa kế là chưa đúng quy định.
[4] Tuy nhiên, sau khi ông Đ3 được chỉnh sang tên quyền sử dụng đất thì
ông Đ3 đã thế chấp quyền sử dụng đất tại Ngân hàng N3 Chi nhánh huyện T để
vay vốn ngân hàng từ ngày 18/8/2015 xoá thế chấp ngày 02/12/2019. Đến ngày
10/12/2019, ông Đ3 chuyển nhượng phần đất lại cho ông Bùi Văn L1, ông L1 được
chỉnh lý sang tên quyền sử dụng đất ngày 18/12/2019. Ông L1 là cháu ngoại của bà
H, khi ông L1 nhận chuyển nhượng phần đất từ ông Đ3 quản sử dụng đất thì
H vẫn sinh sống trên phần đất, H cũng thời gian sống chung với ông L1,
nhưng H cũng không ý kiến gì. Việc ông L1 nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất từ ông Đ3 là ngay tình và thủ tục chuyển nhượng thực hiện đúng quy định
pháp luật; mặc thủ tục thừa kế cho ông Đ3 chưa đúng quy định nhưng ông L1
nhận chuyển nhượng ngay tình nên được pháp luật bảo vệ, theo quy định tại khoản
2 Điều 133 của Bộ luật dân sthì giao dịch chuyển nhượng giữa ông L1 với ông Đ3
không bị vô hiệu. Do đó, bà H cũng không quyền đòi lại tài sản từ ông L1, theo
quy định tại khoản 3 Điều 133 của B luật dân sự.
[5] Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L1 với
L ông N ngày 30/5/2020, xét thấy: Do phần đất ông L1 chuyển nhượng từ ông
Đ3 ngay tình, được pháp luật bảo vệ, nên ông L1 quyền chuyển nhượng lại cho
L ông N. Mặc hợp đồng chuyển nhượng giữa ông L1 với L và ông N
chưa thực hiện đúng quy định về hình thức, tài sản chưa đăng tại quan nhà
nước có thẩm quyền, nhưng hợp đồng đã được các bên thực hiện; bà L và ông N đã
thanh toán xong số vàng chuyển nhượng cho ông L1, ông L1 đã giao đất cho L
và ông N quản lý sử dụng, hiện nay giữa ông L1 với L ông N không có tranh
chấp với nhau về hợp đồng. Do đó, việc H yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa ông L1 với L và ông N vô hiệu, buộc L và ông
N trả lại phần đất là không có cơ sở để chấp nhận.
10
[6] Từ nhận định trên, xét thấy bản án thẩm xét xử không chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H có căn cứ. Do đó, cấp phúc thẩm không chấp
nhận kháng cáo Nguyễn Thị H, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm Nguyễn Thị H đưc min chịu án phí (đưc
min d np).
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo Nguyễn Thị H.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2026/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm
2026 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện Nguyễn Thị H về việc: Yêu cầu tuyên
bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Phan Văn Đ3 với ông Bùi
Văn L1 do Ủy ban nhân dân P chứng thực số 99 ngày 10/12/2019 hợp đồng
chuyển nhượng quyền sdụng đất giữa ông Bùi Văn L1 với bà Bùi Thị L, ông Trần
Thanh N lập ngày 30/5/2020 hiệu buộc Bùi Thị L, ông Trần Thanh N di
dời nhà cửa và vật kiến trúc đi nơi khác đtrả lại cho bà Nguyễn Hoa P đất diện tích
28.620 m² (theo đo đạc thực tế diện tích 32.482,7m
2
) thuộc thửa 0352, 0431 do Ủy
ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/4/1994 cho
ông Phan Văn T4 đứng tên, đất tọa lạc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay ấp T,
xã T, tỉnh Cà Mau).
(Kèm theo Mảnh đo đạc chỉnh thửa đất ngày 05/8/2025 của Công ty TNHH
MTV T5)
- Về chi phí tố tụng: Chi phí tố tụng số tiền 15.323.500 đồng, bà H phải chịu
(bà H đã nộp xong).
- Án phí dân sự sơ thẩm: H được miễn chịu án phí (Bà H đã được miễn dự
nộp).
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bà H được miễn chịu án phí (Bà H đã được miễn
dự nộp).
Các quyết định khác của bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
11
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 3- Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 3- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 312/2026/DS-PT Bản án số 312/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất