Bản án số 90/2026/DS-PT ngày 10/04/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 90/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 90/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 90/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 90/2026/DS-PT ngày 10/04/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Phú Thọ |
| Số hiệu: | 90/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 10/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Hoàng Thị H, Hoàng Văn S, Lê Đình L và Nguyễn Thị N2) kháng cáo bản án. |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 90/2026/DS-PT
Ngày: 10 - 04 - 2026
V/v Tranh chấp đòi lại đất cho thuê
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán -Chủ tọa phiên toà:
Các Thẩm phán:
bà Hoàng Ngọc Liễu
ông Nguyễn Mạnh Hùng
ông Nguyễn Quang Tuấn
- Thư ký phiên toà: bà Lò Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: bà
Khà Thị Liên - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 10 tháng 03 và ngày 10 tháng 04 năm 2026 tại trụ sở Tòa
án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:
167/2025/TLPT- DS ngày 21/10/2025 về việc Tranh chấp đòi lại đất cho thuê.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2025/DS - ST ngày 29 tháng 08 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 31/2026/QĐ-PT ngày
13/01/2026; Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2025/QĐ - PT ngày 04/2/2026 và
Quyết định tạm ngừng phiên tòa ngày 10/3/2026, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: bà Trần Thị M, sinh năm 1949 và ông Nguyễn Văn C, sinh
năm 1948. Cùng địa chỉ: tổ F, khu phố T, phường D, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn: ông Nguyễn Trọng T, sinh
năm 1962. Địa chỉ: xóm T, phường H, tỉnh Phú Thọ.
2. Bị đơn: ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị H, sinh
năm 1957. Cùng địa chỉ: xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của các Bị đơn: anh Đặng Xuân D, sinh năm
1983. Địa chỉ: xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các Bị đơn: Luật sư Bùi Thị
D1 - VĂn phòng Luật sư Bùi D1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh P.
2
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ngân hàng N5 - Chi nhánh L3, Hòa Bình. Người đại diện theo ủy
quyền: ông Nguyễn Xuân N - Trưởng phòng khách hàng.
3.2. Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Phú Thọ.
3.3. Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1965. Địa chỉ: xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ.
3.4. Ông Bùi Dương P, sinh năm 1961. Địa chỉ: xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ.
3.5 Ông Lê Đình L, sinh năm 1976. Địa chỉ: thôn C, xã H, thành phố Hà
Nội.
3.6. Ông Bùi Văn N1, sinh năm 1958. Địa chỉ: Đ: xóm T, xã T, tỉnh Phú
Thọ.
3.7. Ông Bùi Văn H1, sinh năm 1964. Địa chỉ: xóm T, xã T, tỉnh Phú Thọ.
3.8. Bà Nguyễn Thị N2, sinh năm 1954. Địa chỉ: xóm L, xã T, tỉnh Phú
Thọ.
3.9. Chị Hoàng Thị H2, sinh năm 1985. Địa chỉ: xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ.
3.10. Ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1964. Địa chỉ: số nhà F, tổ D, phố H,
xã L, tỉnh Phú Thọ.
(Tại phiên tòa, ông T, ông bà C H Luật sư D1, chị H2 có mặt. Ông bà C
M, anh D, Ủy ban nhân dân xã T, ông S, ông N, ông P, ông L, ông N1, ông H1,
bà N2 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên
đơn bà Trần Thị M, ông Nguyễn Văn C và người đại diện theo ủy quyền ông
Nguyễn Trọng T trình bày: Gia đình ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị M di cư
từ huyện P, H (nay là thành phố Hà Nội) đến cư trú tại xóm L, xã T, huyện L, tỉnh
Hòa Bình (nay là xã T, tỉnh Phú Thọ) theo chính sách của Đảng và Nhà nước.
Trong thời gian sinh sống tại xã T, năm 1996 gia đình ông Nguyễn Văn C và bà
Trần Thị M được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hoà Bình cấp cho diện tích đất
ở tại thửa đất số 68A, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.135m
2
, vị trí thửa đất tại xóm L,
xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt
là Giấy CNQSD đất) số H623130, số vào sổ 0001/QSDĐ/LS, cấp ngày
10/01/1996 (gọi tắt là đất thổ cư) và 1000m
2
đất nông nghiệp (gọi tắt là đất nông
nghiệp) cũng tại xóm L, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (Giấy chứng nhận mang
tên bà Trần Thị M). Gia đình ông C, bà M chưa được nhận Giấy CNQSD đất nêu
trên vì thời điểm đó B địa chính xã T đang giữ và chưa giao cho chủ sử dụng là
ông C, bà M. Tài sản trên đất của gia đình gồm có nhà ở, công trình phụ trên đất
và các cây ăn quả, cây chè đã cho thu hoạch. Năm 1997, gia đình ông C và bà M
3
chuyển vào Bình Dương sinh sống. Trước khi đi, ông C, bà M có giao lại toàn bộ
diện tích đất ở và đất nông nghiệp, cùng nhà ở, tài sản trên đất cho vợ chồng ông
C1, bà H thuê và thoả thuận vợ chồng ông C, bà H có quyền thu hoạch sản phẩm
từ cây trồng trên đất, mỗi tháng sẽ trả cho vợ chồng ông C, bà M số tiền 40.000
đồng, thời hạn: đến khi vợ chồng ông C, bà M có yêu cầu trả lại. Thoả thuận nêu
trên được viết tay, mỗi bên giữ một bản nhưng đến thời điểm hiện tại thì cả hai
bên đều không lưu giữ văn bản này. Hợp đồng thuê nêu trên được thực hiện đến
năm 2009, tổng số tiền mà vợ chồng ông C, bà H trả cho vợ chồng ông C1, bà M
là 4.000.000 đồng. Từ năm 2009 đến nay, vợ chồng ông C, bà H không trả cho vợ
chồng ông C, bà M nữa. Đến đầu năm 2024, vợ chồng ông C, bà M có nhu cầu sử
dụng đất và yêu cầu vợ chồng ông C, bà H trả lại đất và số tiền thuê đất từ năm
2009 đến nay thì vợ chồng ông C, bà H không trả với lý do: vợ chồng ông C, bà
H đã mua lại toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất nói trên của Ngân hàng N5 -
Chi nhánh huyện L3, tỉnh Hòa Bình từ cán bộ ngân hàng là ông Nguyễn Xuân N,
tổ trưởng vay vốn là ông Bùi Văn H1 và hiện đang giữ Giấy CNQSD đất mà Ủy
ban nhân dân huyện L đã cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị M. Trước
khi có Giấy CNQSD đất nêu trên, khoảng cuối năm 1994, ông C, bà M có vay của
Ngân hàng N5 - Chi nhánh huyện L3, tỉnh Hòa Bình với mục đích chăn nuôi,
trồng trọt, việc vay được thực hiện qua tổ vay vốn do ông Bùi Văn H1 là Tổ
trưởng, vay tín chấp, không có bảo đảm bằng tài sản. Sau khi gia đình ông C, bà
M chuyển vào Bình Dương sinh sống thì Hợp đồng vay vốn không được thực
hiện, hiện nay bà M vẫn còn dư nợ tại Ngân hàng N5 - Chi nhánh huyện L3, tỉnh
Hòa Bình. Việc vay nợ này không có thế chấp bằng Giấy CNQSD đất nên ông C,
bà M sẽ có trách nhiệm với Ngân hàng. Việc ông C, bà H cho rằng đã mua đất
của Ngân hàng là không có căn cứ chấp nhận vì Ngân hàng không phải là chủ sở
hữu hợp pháp của diện tích đất thổ cư. Ông C, bà H đã mua đất của ai thì tự giải
quyết với người đó. Đối với mảnh đất nông nghiệp cũng cho thuê nhưng không
lấy tiền thuê, không khoán sản phẩm. Vì vậy, các Nguyên đơn đề nghị Tòa án
nhân dân huyện Lạc Sơn (nay là Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ) giải
quyết các vấn đề sau: Tuyên diện tích tại thửa đất thổ cư và diện tích đất nông
nghiệp đều tại xóm L, xã T là đất hợp pháp của ông Nguyễn Văn C và bà Trần
Thị M. Buộc ông C, bà H phải trả lại cho gia đình diện tích đất thổ cư và đất nông
nghiệp. Buộc ông bà C H phải trả lại ông bà C Mai nhà ở, cây trồng trên đất và
tiền thu hoạch sản phẩm cây trồng còn thiếu là 8.480.000 đồng. Ngày 30/12/2024,
Nguyên đơn đã rút nội dung khởi kiện không đòi lại đất nông nghiệp và yêu cầu
buộc trả lại nhà ở, cây trồng trên đất và tiền thu hoạch sản phẩm cây trồng còn
4
thiếu là 8.480.000 đồng. Tại phiên tòa ông C, bà M lại yêu cầu khởi kiện đòi đất
nông nghiệp.
Các Bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H và người đại diện theo ủy
quyền anh Đặng Xuân D trình bày: ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H thừa
nhận có việc thuê đất thổ cư vào năm 1997 như Nguyên đơn đã trình bày. Theo
thoả thuận viết tay giữa hai gia đình nhưng hiện nay đã bị thất lạc giấy viết tay
này, một năm ông C, bà H có trách nhiệm trả cho ông C, bà M 08 tháng tiền thuê
đất, mỗi tháng 40.000 đồng, tổng một năm là 320.000 đồng. Đến khoảng năm
1999 hoặc năm 2000, ông C, bà M có viết thư tay về và yêu cầu giao lại đất của
ông bà C, M cho vợ chồng bà Bùi Thị B1 ở xóm T, xã T sử dụng. Theo đó ông C,
bà H đã giao đất cho bà B1 sử dụng. Đến khoảng tháng 8/2001, qua thông tin từ
ông Bùi Văn H1 là Tổ trưởng tổ vay vốn của xã thì ông C, bà H được biết Ngân
hàng N5 - Chi nhánh huyện L3 phát mại tài sản thế chấp là toàn bộ diện tích đất
nêu trên. Vì thế ông C, bà H đã mua lại diện tích đất tại thửa đất thổ cư số 68A,
tờ bản đồ số 3, diện tích 2.135m
2
từ cán bộ ngân hàng là ông Nguyễn Xuân N.
Việc mua bán tài sản phát mại này này được lập thành văn bản có xác nhận của
Trưởng thôn là ông Hoàng Văn S và Công an xã là ông Bùi Dương P. Đến năm
2009, ông C, bà M về địa phương, ông C, bà H có nói cho ông C, bà M về việc đã
mua lại đất ở của ông C bà M từ cán bộ ngân hàng. Sau đó, bà M có yêu cầu ông
C, bà H thanh toán số tiền thuê đất và thanh toán tiền bán tài sản trên đất. Ông C,
bà H đồng ý và có trả ông C, bà M số tiền thuê đất và tiền nhà, bếp trên đất là
4.000.000 đồng ((bao gồm: 1.500.000 đồng tiền nhà; 500.000 đồng tiền bếp và
2.000.000 đồng cho các tháng thầu khoán (mặc dù thời giao khoán không đủ số
tiền này nhưng vẫn đồng ý trả 2.000.000 đồng)). Đến năm 2010, bà M lại về địa
phương và yêu cầu thanh toán thêm số tiền 6.500.000 đồng với lý do Ngân hàng
phát mại tài sản rẻ hơn giá thị trường. Đến năm 2024, con rể của bà Nguyễn Thị
N2 là anh Nguyễn Thu H4 có gặp và đề nghị ông bà C, M xác nhận diện tích đất
đó đã bán để làm thủ tục chuyển nhượng, sang tên. Tại đây, bà M đề nghị đưa
thêm 20.000.000 đồng, anh H4 đồng ý nhưng sau đó bà M không nhận 20.000.000
đồng nữa mà đề nghị Ủy ban nhân dân xã T hoà giải tranh chấp đất đai và khởi
kiện đến Toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân
khu vực 15 - Phú Thọ) đề nghị đòi lại đất cho thuê. Đối với yêu cầu khởi kiện của
Nguyên đơn về diện tích đất tại đất số 68A, tờ bản đồ số 3, diện tích 2.135m
2
ông
C, bà H đã mua của Ngân hàng nên ông C, bà H không đồng ý trả lại đất và số
tiền thuê từ năm 2009 đến nay; Đối với diện tích đất nông nghiệp tại thửa đất số
39, tờ bản đồ số 4, diện tích 1.046m
2
, ông C, bà H được xóm La Văn C2 và xã T
5
giao đất sử dụng. Khi hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã T, ông C, bà M yêu cầu trả
lại thì ông C, bà H trả lại cho người đã đưa Giấy CNQSD đất. Khi hòa giải tại Tòa
án, ông bà C H đồng ý trả lại cho ông bà C M nhưng diện tích đất hiện đang cho
anh L thuê với số tiền 1.000.000đ/năm; thời hạn thuê là 15 năm, hiện tại thời hạn
còn 4 năm. Nên khi ông C, bà H3 đồng ý trả lại cho ông bà C, M1 thì đề nghị ông
C, bà M1 tiếp tục cho anh L thuê hết thời gian còn lại. Sau đó, ông bà C H đề nghị
xem xét lại quy trình cấp đổi Giấy CNQSD đối với diện tích đất nông nghiệp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị N2 trình bày: Năm
2010 qua giới thiệu của bà Nguyễn Thị H, bà có giao dịch với bà Trần Thị M để
mua lại mảnh đất 68A diện tích 2.135m
2
mà bà M đang cho bà H thuê. Hai bên
thỏa thuận giá chuyển nhượng là 6.500.000 đồng và có ký kết với nhau bằng văn
bản. Hợp đồng được lập thành 02 bản, mỗi bên giữ 01 bản. Việc ký kết xong, hai
bên giao nhận tiền còn tổ chức ăn uống để chúc mừng giao dịch thành công. Sau
đo bà H đưa sổ đỏ cho bà M để bà M giao cho bà N2. Do thời gian đã lâu, chuyển
nhà nhiều lần và đau ốm liên miên nên bà N2 đã làm thất lạc giấy tờ chuyển
nhượng, bà M giữ 01 bản nhưng không biết hiện nay còn lưu giữ hay không. Việc
chuyển nhượng có ông C, bà H chứng kiến. Từ năm 2010 đến nay bà M có trở về
địa phương nhiều lần, biết nhà bà N2 đang canh tác trên đất nhưng không có ý
kiến gì, sau khi gia đình bà N2 muốn hoàn tất thủ tục sang tên, liên hệ với bà M
thì bà M mới quay trở lại khởi kiện đòi đất. Bà không đồng ý trả đất vì bà M đã
chuyển nhượng cho bà từ năm 2010.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị Hoàng Thị H2 trình bày: Mảnh
đất bà M đang kiện đòi lại là mảnh đất 68A mà mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị N2 đã
mua của bà M từ năm 2010. Từ đó đến nay gia đình sử dụng ổn định, không tranh
chấp với ai. Kể cả bà M cũng không có ý kiến gì về việc này. Chị H2 là người
đang trực tiếp canh tác, trồng cây ăn quả trên đất từ năm 2015 đến nay. Chị không
đồng ý giao lại đất vì quan hệ mua bán giữa bà M và bà N2 đã xong từ năm 2010.
Chị H2 không có ý kiến gì về kết quả trích đo, kết quả định giá. Về phương án hỗ
trợ, bồi thường việc di dời, tháo dỡ, thu hoạch cây cối, công trình trên đất: do là
đất của gia đình chị, không phải đất của bà M nên chị không đề nghị phương án
đền bù, hỗ trợ. Trường hợp buộc phải trả lại đất thì đề nghị Nguyên đơn bồi thường
cây cối, tài sản trên đất và công duy trì, tôn tạo đất với số tiền 2 tỷ đồng.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, Ngân hàng N5, Chi nhánh L3
trình bày: ông Nguyễn Xuân N hiện là Trưởng phòng khách hàng, thời điểm năm
1996 ông N là cán bộ của Ngân hàng. Tháng 11/1994, Ngân hàng có cho hộ ông
Nguyễn Văn C vay theo đề nghị, hình thức vay tín chấp, số tiền 4.000.000 đồng.
6
Vì là vay tín chấp nên không có tài sản bảo đảm là Giấy CNQSD đất. Sau khi vay
vốn, năm 1997 gia đình ông C, bà M chuyển vào miền N sinh sống dẫn đến Hợp
đồng vay vốn không được tiếp tục thực hiện. Năm 1998, Ủy ban nhân dân xã T
xác nhận gia đình ông Nguyễn Văn C đã đi khỏi địa phương, số nợ nay đã chuyển
thành nợ quá hạn. Đến nay Ngân hàng chưa nhận được khoản tiền nào trả nợ thay
cho hộ bà M nên dư nợ tại Ngân hàng vẫn còn. Nay hai bên xảy ra tranh chấp đề
nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Đối với số tiền mà ông Nguyễn
Văn C vay vốn tại Ngân hàng thì Ngân hàng sẽ xử lý theo quy trình của Ngân
hàng, không đề nghị giải quyết trong cùng một vụ án này.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Nguyễn Xuân N trình bày:
Tháng 11/1994, Ngân hàng có cho hộ ông Nguyễn Văn C vay theo đề nghị, hình
thức vay tín chấp, không có tài sản bảo đảm, việc vay được thông qua tổ trưởng
tổ vay vốn là ông Bùi Văn H1. Ông N được Ngân hàng giao tham gia đoàn thu
nợ, thu thuế do Ủy ban nhân dân huyện T3. Đối với trường hợp nhà bà M vì là
vay tín chấp nên không có tài sản bảo đảm là Giấy CNQSD đất, hơn nữa thời điểm
đó gia đình ông C, bà M chuyển vào miền N sinh sống nên việc thu nợ không thực
hiện được. Bản thân ông N không nhận khoản tiền trả nợ nào của gia đình bà M
hay cá nhân nào khác trả nợ thay. Do đó hiện nay dư nợ của gia đình bà M tại
Ngân hàng vẫn còn.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Bùi Văn N1 trình bày:
Khoảng thời gian cuối năm 1995, ông đang làm cán bộ địa chính xã T. Gia đình
ông C, bà M có lên xã làm Giấy CNQSD đất. Ông N1 đã lập danh sách và đề nghị
cấp trên cấp Giấy CNQSD đất cho gia đình ông C, bà M. Sau khi Ủy ban nhân
dân huyện L cấp Giấy CNQSD đất thì ông không rõ đã giao giấy này cho bà M,
ông C chưa vì thời gian đã 28 năm. Nay Nguyên đơn khởi kiện Bị đơn, ông đề
nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Bùi Văn H1 trình bày: Năm
1994, ông H1 là tổ trưởng tổ vay vốn của xã T, có cho gia đình ông Nguyễn Văn
C vay số tiền 2.000.000 đồng. Đến hạn trả nợ, ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị
M bỏ đi M, số tiền vẫn chưa trả nợ chuyển thành nợ xấu. Đến khi đoàn thu nợ của
Ngân hàng và xã thu nợ và có bán đất cho gia đình ông C, bà H để trả nợ cho
Ngân hàng. Còn Giấy CNQSD đất bản thân ông H1 không được giao cho ông C,
bà H và ông H1 cũng không có quyền phát mại tài sản của ông C, bà M. Nay
Nguyên đơn khởi kiện Bị đơn, ông H1 đề nghị giải quyết theo quy định của pháp
luật.
7
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Bùi Dương P trình bày: Năm
1994 thực hiện chủ trương của Ủy ban nhân dân huyện L về việc thành lập đoàn
thu hồi nợ của Ngân hàng huyện L cũ. Ông P được lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã
cử đi tham gia đoàn công tác. Đ có đến nhà bà M để đốc thúc việc trả nợ, nhưng
hộ bà M không trả, sau đó bỏ trốn khỏi địa phương. Riêng đối với việc thu nợ nhà
bà M ông không nhớ cụ thể.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Hoàng Văn S trình bày:
Năm 1997, ông Hoàng Văn S là trưởng xóm L, xã T. Trên địa bàn xóm có các hộ
vay nợ Ngân hàng nhưng không trả nợ nên với tư cách là Trưởng xóm ông được
phân công tham gia Đoàn thu nợ. Hộ ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị M có vay
ngân hàng 2.000.000đ thông qua tổ vay vốn của xã T nhưng đã bỏ đi miền N. Đến
khi đoàn thu nợ của Ngân hàng và xã thu nợ và có bán đất cho gia đình ông
Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H để trả nợ cho Ngân hàng. Ông Hoàng Văn S có
ký xác nhận vào Biên bản mua bán giữa Đoàn thu nợ và ông C, bà H.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, ông Lê Đình L trình bày: Cuối
năm 2013, do thường xuyên đi làm ăn tại khu vực huyện L và các huyện lân cận
nên ông Lê Đình L biết và thuê đất của ông C, bà H để trồng cam. Trước khi thuê
đất, ông L không biết về nguồn gốc đất, chỉ biết ông C, bà H nói đó là đất của
mình và cho thuê chứ không xem Giấy CNQSD đất mang tên ai. Khi thuê đất, hai
bên có ký Hợp đồng thuê, theo đó thời hạn thuê là 15 năm (từ năm 2014 đến năm
2029), giá thuê trong 15 năm là 10.000.000đ. Hiện tại, ông L đang trồng cam và
có xây dựng một số công trình trên đất đúng như Biên bản xem xét thẩm định tại
chỗ ngày 20/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn. Về kết quả đo đạc,
định giá ông đã nhận được thông báo và không có ý kiến gì. Nhưng nếu tính bồi
thường 65 cây cam (tính theo quy chuẩn) trên đất như Biên bản định giá thì ông
không đồng ý vì thực tế ông trồng 85 cây cam. Ông đầu tư rất nhiều tiền vào cây
cối trên đất, hàng năm chăm sóc vất vả, cây cho thu hoạch đều, sản lượng tốt. Do
đó nếu Tòa án tuyên buộc ông bà C H phải trả lại đất cho ông bà C M thì đề nghị
tuyên giá trị cây cho hợp lý, ông L chấp nhận thu hoạch, di dời cây cối và tài sản
trên đất ngay sau khi tuyên án. Đề nghị tính giá cây cam ngang bằng giá cây bưởi
và tính trên 85 gốc theo đúng kiểm đếm thực tế. Đối với công trình ông L tự phá
dỡ, di dời, không có đề nghị gì.
Những Người làm chứng trình bày:
Ông Bùi Văn S1: Ông không chứng kiến việc giao dịch đất đai giữa bà M1
và bà H3, bà N2. Ông chỉ là người cùng xã, có quen biết với nhà bà M1. Năm
1997, được bà M1 chào mua mảnh đất thổ cư đang tranh chấp với giá 6.500.000đ.
8
Ông Hoàng Văn Q: Ông không chứng kiến việc giao dịch đất đai giữa bà
M1 và bà H3, bà N2. Năm 2024, khi con rể bà N2 đến Bình Dương gặp bà M1
nói chuyện, trong buổi nói chuyện đó ông có mặt. Nội dung trong file ghi âm là
đúng với diễn biến cuộc nói chuyện, ngoài ra ông Q không có thông tin gì thêm
về sự việc mua bán giữa hai bên.
Anh Nguyễn Thu H4: Trên thực tế, bà Nguyễn Thị N2 đã nhận chuyển
nhượng đất từ nhà bà M1 nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng. Do đó năm
2024, bà N2 ủy quyền cho anh H4 vào gặp bà M1 để hoàn tất thủ tục chuyển
quyền sử dụng đất. Tại buổi nói chuyện bà M1 thừa nhận đã bán đất cho bà N2
với giá 6.500.000 đồng, nhưng đòi thêm 20.000.000 đồng mới ký thủ tục chuyển
nhượng. Hai bên đã thống nhất đưa thêm cho bà M1 20.000.000 đồng nhưng sau
đó bà M1 thay đổi ý kiến và khởi kiện ra Tòa án đòi đất.
Ông Bùi Đoàn T1: Năm 1994, thực hiện chủ trương của Ủy ban nhân dân
huyện L yêu cầu Công an huyện cử người tham gia thu hồi nợ của Ngân hàng
huyện L cũ. Ông T1 được lãnh đạo Công an huyện L cử đi tham gia đoàn công
tác lên thu nợ tại T. Việc thu nợ là do Ngân hàng căn cứ vào số nợ của các hộ còn
tồn để thu, mọi hồ sơ văn bản do Ngân hàng làm, Công an chỉ đi lo vấn đề an ninh
trật tự. Ngoài thu nợ của cá nhân, Ngân hàng còn thu nợ của Hợp tác xã nông
nghiệp. Những tài sản thu nợ gồm trâu bò, tủ, xe máy, lợn, gà, vịt, xanh đồng,
ninh đồng. Công an chủ yếu giữ gìn an ninh, không để ý đến nội dung các vụ việc
cụ thể. Riêng đối với việc thu nợ nhà bà M1 ông không nhớ cụ thể như thế nào.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 15/2025/DS-ST ngày 29 tháng 08 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ quyết định: áp dụng khoản 9 Điều 26,
điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 157; Điều 165;
Điều 186; Điều 227; Điều 229; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 280 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; Điều 166; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26; Điều
31; Điều 37; Điều 45; Điều 236 Luật Đất đai năm 2024; Điều 158; Điều 163; Điều
164; Điều 166; Điều 274; Điều 275; Điều 472; Điều 474 Bộ luật Dân sự năm
2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ
Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn C, bà Trần
Thị M, cụ thể:
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan chị Hoàng Thị H2 trả lại cho ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị
M toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 68A, tờ bản đồ số 3, địa chỉ thửa đất tại
9
xóm L, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ), Giấy
CNQSD đất số H 623120 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 10/01/1996 mang
tên ông Nguyễn Văn C với tổng diện tích là 2.135m
2
, diện tích đo đạc thực tế hiện
tại là 2.078m
2
, tứ cận: cạnh phía Đông Bắc giáp đất chị Hoàng Thị H2, cạnh phía
Đông Nam giáp đường giao thông nông thôn, cạnh phía Tây Nam giáp với đất hộ
ông Bùi Văn N3; cạnh phía Tây Bắc giáp đất của ông Bùi Văn H5, theo đúng trích
đo ngày 17/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L (Bản trích
đo là một bộ phận kèm theo bản án, không thể tách rời). Trong thời hạn 02 năm,
kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H,
chị Hoàng Thị H2 có trách nhiệm thu hoạch, di dời, tháo dỡ toàn bộ số cây trồng,
tài sản trên đất để trả lại đất cho ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị M theo quy định
của pháp luật, nếu hai bên không có thỏa thuận khác.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, người có quyền lợi
nghĩa vụ liên quan ông Lê Đình L trả lại cho ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị M
toàn bộ diện tích đất tại thửa số 39, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thửa đất: tại xóm L,
xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ), diện tích
1.046m
2
, Giấy CNQSD đất số DM 401311 do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất
đai huyện L cấp ngày 15/11/2024 mang tên ông Nguyễn Văn C bà Trần Thị M,
tứ cận: phía Đông Bắc giáp hộ ông Bùi Thế T2; phía Đông Nam giáp hộ bà Hoàng
Thị M2; phía Tây Bắc giáp đường giao thông nội đồng; phía Tây Nam giáp hộ
ông Bùi Văn K. Kể từ ngày 01/01/2028 ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H,
ông Lê Đình L có trách nhiệm thu hoạch, di dời toàn bộ số cây trồng, tài sản để
trả lại diện tích đất cho ông Nguyễn Văn C, bà Trần Thị M theo quy định của pháp
luật, nếu hai bên không có thỏa thuận khác.
Ngoài ra còn công trình, cây cối, hoa màu được xây dựng, trồng cấy sau
khi thẩm định, định giá thì Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải
hoàn toàn chịu trách nhiệm phá dỡ, di dời, khai thác, thu hoạch.
Mọi chi phí liên quan đến việc phá dỡ, di dời, thu hoạch do Bị đơn, Người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan tự chịu trách nhiệm sau khi hết thời hạn đã được ấn
định, nếu hai bên không có thỏa thuận khác.
Ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, chị Hoàng Thị H2 có trách nhiệm
giao trả Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất số H 623120 do Ủy ban nhân dân
huyện L cấp ngày 10/01/1996 mang tên ông Nguyễn Văn C với tổng diện tích là
2.135m
2
thửa đất số 68A, tờ bản đồ số 3 tại xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ cho ông
Nguyễn Văn C, bà Trần Thị M.
Đình chỉ yêu cầu đòi tiền thuê đất của bà Trần Thị M, ông Nguyễn Văn C.
10
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo
của các đương sự.
Ngày 09 tháng 09 năm 2025, ông Lê Đình L kháng cáo với nội dung yêu
cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm theo hướng
tuyên xử: kể từ ngày 01/02/2029, ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị H, ông Lê
Đình L có trách nhiệm thu hoạch, di dời toàn bộ số cây trồng, tài sản để lại trên
diện tích đất cho ông Nguyễn Văn C, bà Nguyễn Thị M theo đúng Hợp đồng thuê
đất mà ông L, ông C, bà H đã ký trước đó. Trường hợp Tòa án nhân dân tỉnh Phú
Thọ giữ nguyên nội dung quyết định liên quan đến quyền lợi của ông cũng như
Bản án sơ thẩm thì đề nghị tuyên xử ông C, bà H có trách nhiệm bồi thường thiệt
hại là cây cam theo như giá cây của Hội đồng định giá x 85/cây cam trên đất và
tài sản trên dất cho ông L theo đúng biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ.
Cùng ngày, ông Nguyễn Văn C, anh Đặng Xuân D - đại diện theo ủy quyền
của bà Nguyễn Thị H, ông Hoàng Văn S, bà Nguyễn Thị N2 và chị Hoàng Thị H2
kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xém xét, giải quyết vụ án theo
đúng quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị đơn,
chị H2 và bà N2.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm,
các đương sự giữ nguyên nội dung kháng cáo. Tuy nhiên, có một số lời khai thay
đổi, cụ thể: Ông C, bà H, bà N2 và chị H2 thay đổi lời khai cho rằng thửa đất số
68A tranh chấp thực chất là của ông bà C H mua của bà M3, còn bà N2 không
mua thửa đất trên mà bà N2 chỉ cho bà H vay số tiền 6.500.000 đồng, hiện nay bà
H đã trả xong khoản vay trên cho bà N2. Đến năm 2015, bà H không sử dụng đất
nên cho chị H2 mượn, việc mượn không có thời hạn, hiện nay tài sản trên thửa
đất số 68A là của chị H2. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị H2 khai thêm ngoài tài sản
trên đất do Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ đi thẩm định thì tài sản trên đất
còn có hệ thống tưới tiêu chưa được xem xét. Chị H2 đề nghị xem xét đến quyền
lợi của chị đối với công tôn tạo đất cũng như các tài sản trên đất để buộc Nguyên
đơn phải trả 2 tỷ cho chị.
Ông Bùi Văn H1 khai không được tham gia cùng Đoàn thu nợ mà chỉ là
người dẫn đoàn đến để đôn đốc các hộ trả nợ, số tiền 2.500.000 đồng bà M vay
đã được trả nhưng ai trả thì ông không nhớ. Việc trước đây ông H1 khai đã phong
tỏa lô đất, gia đình ông bà C H trả trực tiếp 2.500.000 đồng vào Ngân hàng để
mua lô đất là không đúng, việc mua bán đất giữa Ngân hàng và ông bà C H, ông
không được biết.
11
Ngân hàng N5, chi nhánh L3 cho biết thêm ngoài khoản vay 4.000.000
đồng thì còn khoản vay 2.500.000 đồng nhưng không phải trực tiếp với Ngân hàng
mà thông qua tổ vay vốn của ông Bùi Văn H1 nhưng do ông bà C M không thuộc
đối tượng vay trong danh sách nên việc ông H1 cho ông bà C M vay là sai quy
định nên Ngân hàng đã thực hiện thu hồi nợ. Thời điểm đó bà M đã đi khỏi địa
phương nên Ngân hàng làm đơn đề nghị Ủy ban huyện thành lập Đoàn thu nợ để
thu hồi khoản nợ trên và ông N là thành viên của Đoàn thu nợ. Do đất của bà M
khi đó chưa có Giấy CNQSD đất, bà H đề nghị mua lại thì Đoàn thu nợ nhất trí
và có lập biên bản, trong đó yêu cầu bà H đến Ủy ban để làm thủ tục cấp Giấy
CNQSD đất. Đoàn thu nợ không thu tiền, việc bà H có liên hệ với cơ quan có
thẩm quyền hay không thì ông N không biết. Đối với khoản tiền vay 2.500.000
đồng thông qua tổ vay vốn Ngân hàng khẳng định là khoản tiền thanh toán khoản
vay, không thanh toán liên quan đến nhà đất. Thời điểm trả là năm 1999, ai là
người trả thì Ngân hàng không nắm được.
Người bảo vệ quyền và lợi ích cho các Bị đơn, Luật sư Bùi Thị D1 trình
bày: Đề nghị hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm do chưa thu thập đầy đủ đối với
thửa đất thổ cư 68A vì qua tài liệu chứng cứ xác định thửa số 68A là do ông C, bà
H mua đất của bà M là có thật; thiếu người tham gia tố tụng là hộ giáp ranh ông
Bùi Văn H5 vì theo bản trích đo thể hiện có sự chồng lấn đất; Đối với đất nông
nghiệp giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện vì Nguyên đơn đã rút yêu cầu khởi
kiện đất nông nghiệp, khi giải quyết Bị đơn yêu cầu xem xét lại thủ tục cấp đổi
Giấy CNQSD đất nhưng cấp cơ thẩm không xem xét quy trình cấp đổi Giấy
CNQSD đất vì thời điểm cấp đổi Giấy CNQSD đất cho bà M đang xảy ra tranh
chấp giữa ông bà C M và ông bà C H, thời hạn sử dụng trên Giấy chứng nhận
cũng đã hết vào năm 2017 mà trên thực tế ông C, bà H sử dụng từ năm 1999 đến
nay (trong đó năm 2015 cho ông L thuê có thu tiền) được xóm, xã giao cho sử
dụng nên Giấy CNQSD đất cấp cho bà M hết hạn thì phải cấp cho ông bà C H
mới đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến:
Về tố tụng, việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán và
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
dân sự ở giai đoạn phúc thẩm được thực hiện theo đúng quy định của pháp tụng
dân sự.
Về nội dung: căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân
sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban vụ Quốc hội ngày
30/12/2016. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, anh Đặng Xuân D, chị
12
Hoàng Thị H2, bà Nguyễn Thị N2, ông Hoàng Văn S và ông Lê Đình L. Hủy toàn
bộ ản án dân sự sơ thẩm số: 15/2025/DS-ST ngày 29/8/2025 của Tòa án nhân dân
khu vực 15- Phú Thọ, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ để
xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm. Về án phí, những người kháng cáo không phải nộp
án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc
thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn
diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng
[1.1] Đơn kháng cáo của ông Lê Đình L, ông Nguyễn Văn C, anh Đặng
Xuân D, ông Hoàng Văn S, bà Nguyễn Thị N2, chị Hoàng Thị H2 trong hạn luật
định, hợp lệ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự được
chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Nguyên đơn khởi kiện đề nghị đòi lại đất đang cho thuê đối với đất
thổ cư số 68A, tờ bản đồ số 3 và thửa đất màu số 39, tờ bản đồ 04 có địa chỉ tại
xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ; buộc Bị đơn và Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên
quan phá dỡ, thu hoạch, di dời toàn bộ cây cối hoa màu, các công trình trên diện
tích đất đã thuê và trả lại diện tích đang tranh chấp cho Nguyên đơn quản lý, sử
dụng. Tòa án nhân dân khu vực 15- Phú Thọ xác định quan hệ pháp luật là Tranh
chấp đòi lại đất cho thuê để thụ lý và giải quyết theo đúng quy định tại khoản 9
Điều 26; Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Trong Đơn khởi kiện ngoài nội dung trả lại hai thửa đất nêu trên Nguyên
đơn còn yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông bà C H phải trả lại ông bà C M nhà
ở, cây trồng trên đất và tiền thu hoạch sản phẩm cây trồng còn thiếu là 8.480.000
đồng. Ngày 30/12/2024, Nguyên đơn đã rút nội dung khởi kiện này nhưng Tòa án
cấp sơ thẩm chỉ Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu tiền thu hoạch sản phẩm cây
trồng mà không đình chỉ phần nhà ở và cây trồng trên đất là thiếu sót.
[1.3]. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T, ông bà C H, Luật sư D1, chị H2 có
mặt. Ông bà C M vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền là ông T. Ngân
hàng, Ủy ban nhân dân xã T, anh D, ông S, ông L, ông N1, ông H1, bà N2 và ông
N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông P được triệu tập hợp lệ hai lần trở lên. Căn cứ
Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung:
13
Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, anh Đặng Xuân D, ông Hoàng Văn
S, bà Nguyễn Thị N2, chị Hoàng Thị H2 và ông Lê Đình L, Hội đồng xét xử xét
thấy:
[2.1] Đối với thửa đất số 68A, tờ bản đồ số 3, với tổng diện tích là 2.135m
2
đất thổ cư thuộc xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thu thập trong quá trình giải quyết
tại cấp sơ thẩm thể hiện ngày 10/01/1996 ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị M
được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy CNQSD đất số H623120 mang tên
Nguyễn Văn C với tổng diện tích là 2.135m
2
. Năm 1997, ông bà C M đã cho ông
bà C H thuê mảnh đất đó để canh tác với giá là 40.000 đồng/tháng. Năm 2009,
giữa hai bên đã thanh toán tiền thuê đất là 4.000.000 đồng (bao gồm 1.500.000
đồng tiền nhà, 500.000 đồng tiền bếp và 2.000.000 đồng thầu khoản).
Nay ông bà C M đề nghị ông bà C H trả lại diện tích cho thuê. Ông C, bà
H cho rằng mảnh đất này đã được mua lại từ Ngân hàng N5 - Chi nhánh huyện
L3 thông qua việc ông bà C H đã trả thay cho ông bà C M khoản tiền 2.500.000
đồng mà Ngân hàng đã cho ông bà C M vay. Sau đó, đến năm 2009 đã mua lại
một lần nữa với giá 6.500.000 đồng từ bà M song ông bà C H không cung cấp
được tài liệu chứng cứ thể hiện là giao dịch mua bán thửa đất của Ngân hàng cũng
như đã thanh toán khoản tiền 6.500.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, ông bà
C H cung cấp thêm File ghi âm cuộc nói chuyện giữa bà M và anh H4 (con rể bà
N2) đã được chuyển đổi sang vi bằng nhưng nội dung trong file ghi âm chưa đủ
cơ sở để khẳng định việc bà M đã bán mảnh đất nêu trên. Đối với Ngân hàng A,
chi nhánh L3 khẳng định số tiền 2.500.000 đồng là tiền thanh toán thông qua vay
vốn ông H1 không liên quan đến việc mua bán đất.
Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, thấy rằng khi tiến hành thẩm
định diện tích tranh chấp không thể hiện mời hộ giáp ranh là ông Bùi Văn H5
tham dự để xác định mốc giới của thửa đất, các đương sự chỉ tranh chấp thửa 68A
nhưng theo Bản trích đo ngày 27/3/2025 của Chi nhánh Văn phòng Đ là kết quả
sau khi đo theo đúng hiện trạng sử dụng đất của hộ gia đình đã được xử lý kỹ thuật
và gắn lên bản đồ địa chính, thể hiện đo cả thửa 68B với diện tích là 2.878,7m
2
.
Diện tích đo đạc tại phần ghi chú thể hiện 30.1m
2
lấy vào thửa 47 (theo hồ sơ địa
chính thửa đất số 47, tờ bản đồ số 5 quy chủ ông Bùi Văn H5 - chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), không ghi rõ thửa 68A là lấy vào bao nhiêu
m
2
và thửa 68B lấy vào bao nhiêu m
2
. Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ đã
tuyên ông bà C H phải trả ông bà C M diện tích 2.087.7m
2
, bao gồm cả diện tích
đang quy chủ cho ông H5 là không đúng, do chưa đưa ông H5 vào tham gia tố
14
tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên chưa làm rõ vấn
đề diện tích chồng lấn này.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, Tòa án tiến hành xác minh, tại Công
văn số 604/UBND - KT ngày 12/12/2025 của Ủy ban nhân dân xã T và Biên bản
làm việc ngày 15/12/2025, Ủy ban nhân dân xã Đ1 có ý kiến theo bản đồ 299, tờ
số 03 thửa 68A có danh sách đã được cấp Giấy CNQSD đất ngày 20/9/1990 cho
ông Bùi Thế T2 với diện tích 1.290m
2
có hình thù trùng khớp với Giấy CNQSD
đất số H623130, số sổ 0001/QSDĐ/LS ngày 10/01/1996 mang tên ông Nguyễn
Văn C, theo Bản đồ chính quy và Sổ mục kê năm 2003 thửa số 48 (thửa đất 68A),
tờ bản đồ số 5, diện tích 2.9170m
2
quy chủ ông Bùi Văn C3.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự thay đổi lời khai, cụ thể: Người đại
diện theo ủy quyền của Nguyên đơn lúc thì khai nhờ trông coi và lấy tiền thu
hoạch sản phẩm sau đó lại khai là thuê đất. Bị đơn khai khoảng năm 1999 hoặc
năm 2000, ông bà C M yêu cầu giao lại đất cho vợ chồng bà Bùi Thị B1 ở xóm T,
xã T sử dụng. Sau đó ông bà C H mới mua lại từ Ngân hàng. Trong file ghi âm đã
được vi bằng cũng thể hiện có lời thoại của bà M thể hiện " Nó đưa cho cái giấy
ký là Trần Thị M nhưng là cái B1 ký, cái Bé bán chứ không ai hết". Bà N2, chị H2
thay đổi lời khai cho rằng đất là của bà H mua của bà M, bà N2 chỉ cho bà H vay
tiền để mua, chị H2 được bà H cho mượn đất để trồng cây, chị H2 đã bỏ nhiều
công tôn tạo lại đất. Do các đương sự thay đổi lời khai dẫn đến việc xác định nội
dung cần giải quyết trong vụ án không còn chính xác, như chưa xem xét quyền
lợi của chị H2 đối với tài sản trên đất (tại cấp phúc thẩm chị H2 khai ngoài tài sản
đã ghi trong biên bản thẩm định thì còn có hệ thống tưới tiêu mà chị làm để cung
cấp nước cho cây chưa được xem xét) cũng như công tôn tạo nâng giá trị của thửa
đất của chị H2, chưa lấy lời khai của bà B1 về việc có được ông bà C H giao lại
đất thời điểm năm 1999, lý do gì sau khi bàn giao cho bà B1 rồi ông bà C H vẫn
sử dụng cho đến khi cho chị H2 mượn canh tác mà bà M lại không có ý kiến...
Đây là những tình tiết mới chưa được làm rõ mà Tòa án cấp phúc thẩm
không thể bổ sung tại phiên tòa được. Do đó, chưa đủ căn cứ để chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
[2.2]. Đối với thửa đất số thửa số 39, tờ bản đồ số 04 với tổng diện tích là
1.046m
2
đất màu thuộc xóm L, xã T, tỉnh Phú Thọ.
Ông bà C M khai thửa đất số 39 là ông bà cho ông bà C H thuê từ năm 1997
cho đến nay. Ông bà C H khai ông bà được xóm L, xã T giao cho sử dụng từ năm
1999 đến năm 2015 thì cho ông L thuê cho đến nay. Khi hòa giải tại Ủy ban nhân
dân xã T, Ủy ban có yêu cầu ông bà trả lại Giấy CNQSD đất cho ông bà C3 M1
15
nhưng do đất này trước đây xóm giao cho nên ông bà chỉ đồng ý giao lại cho xóm.
Thời điểm ông bà có giao lại GCNQSD đất (khoảng tháng 8 năm 2024) chỉ giao
lại cho xóm nhưng không hiểu sao bà M lại có giấy tờ đó đi thực hiện việc cấp
đổi, và ngày 15/11/2024 được Chi nhánh Văn phòng Đ đã thực hiện cấp đổi cho
ông bà C M khi thời hạn sử dụng đất đã hết vào năm 2017, thời điểm đó bà M còn
đang khởi kiện gia đình bà tại Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ. Ông bà C
H không đồng ý, đề nghị xem lại thủ tục cấp đổi Giấy CNQSD đất không đúng vì
bà M không trực tiếp sử dụng đất. Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm, yêu cầu xem xét hủy Giấy CNQSD
đất cấp cho bà M không đúng phạm vi, yêu cầu được xác định tại phiên họp kiểm
tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nên không xem xét là không đúng.
Theo Công văn số 196/TANDTC - PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối
cao quy định: ".... cần xác định đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
là yêu cầu của đương sự, nhưng không phải là yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản
tố, yêu cầu độc lập. Khi giải quyết vụ việc dân sự liên quan đến việc hủy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải được Tòa án xem xét giải quyết trong cùng
một vụ việc dân sự theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự". Do đó,
cần xác định Giấy CNQSD đất cấp đổi là yêu cầu phải được xem xét trong vụ án.
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ngày 10/12/1997, ông C M được Ủy ban nhân
dân huyện L cấp 1.046m
2
đất lúa tại thửa số 149, tờ bản đồ số 3 (nay là thửa 39)
với thời hạn sử dụng 20 năm. Ông bà C M cho rằng cho ông bà C H thuê sử dụng
từ năm 1997 cho đến nay nhưng không có tài liệu nào chứng minh cho việc thuê
này đồng thời lời khai của ông bà C H cũng như của ông Hoàng Văn L1 đều thể
hiện không phải thuê lại từ ông bà C M mà do thời điểm đó gia đình bà M bỏ vào
miền N nên ông L1 - tổ trưởng có giao Giấy CNQSD đất này cho ông bà C H,
ông bà C H sử dụng từ năm 1999 cho đến năm 2015 thì ông bà C H cho ông L
thuê lại. Như vậy, theo tài liệu thể hiện trong hồ sơ thì từ năm 1997 bà M không
trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp. Thời điểm ông bà C M thực hiện việc cấp đổi
Giấy CNQSD đất là thời điểm đang xảy ra tranh chấp giữa ông bà C H và ông bà
C M. Do đó, phải làm rõ Giấy CNQSD đất cấp lần đầu, việc gia hạn quyền sử
dụng đất (vì theo Giấy CNQSD đất đã hết hạn năm 2017) cũng như việc cấp đổi
Giấy CNQSD đất có đúng quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn
có liên quan hay không.
Để đảm bảo quyền lợi của các đương sự, cần đưa các Cơ quan có liên quan
đến việc cấp Giấy CNQSD đối với thửa đất nông nghiệp vào tham gia tố tụng với
tư cách là Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Theo quy định tại Điều 34
16
Bộ luật Tố tụng dân sự cần phải xem xét việc cấp Giấy CNQSD đất lần đầu, thủ
tục gia hạn quyền sử dụng đất và cấp đổi Giấy CNQSD đất trong vụ án dân sự
này. Trên cơ sở đó mới có căn cứ chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của bà M.
Đối với tài sản trên đất, được xác định là của ông L, ông L kháng cáo đề
nghị tuyên kể từ ngày 01/02/2029 mới phải di dời theo như thỏa thuận mà ông đã
ký với ông bà C H. Xét thấy, trong hồ sơ chưa thu thập Hợp đồng thuê đất nên
chưa đủ căn cứ đánh giá tính pháp lý của Hợp đồng để xem xét được quyền lợi
của ông L. Hơn nữa, do chưa xác định được ai là người sử dụng đất nông nghiệp
nên việc có phải di dời tài sản trên đất hoặc thanh toán giá trị tài sản cũng sẽ được
xem xét lại cùng với việc xem xét khi giải quyết đất nông nghiệp.
[2.3]. Từ những nhận định trên, thấy rằng việc xác minh thu thập tài liệu,
chứng cứ chưa đầy đủ, chưa đưa ông H5, các cơ quan liên quan đến việc cấp Giấy
CNQSD đất nông nghiệp vào tham gia tố tụng mà Tòa án cấp phúc thẩm không
thể khắc phục. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Văn C, anh Đặng
Xuân D, ông Hoàng Văn S, bà Nguyễn Thị N2, chị Hoàng Thị H2 và ông Lê Đình
L, Hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú
Thọ. Chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ để giải quyết lại
theo thủ tục sơ thẩm.
[2.4]. Ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Tòa án nên được
chấp nhận.
[3]. Về án phí: Do bản án bị hủy nên căn cứ khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố
tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ quốc hội thì án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng tại cấp sơ
thẩm được xác định khi Tòa án giải quyết lại vụ án. Những người kháng cáo không
phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 3 Điều 308; Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, anh Đặng Xuân D, ông
Hoàng Văn S, bà Nguyễn Thị N2, chị Hoàng Thị H2 và ông Lê Đình L.
Hủy bản dân sự sơ thẩm số: 15/2025/DS- ST ngày 29/8/2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 15 - Phú Thọ. Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân khu
vực 15- Phú Thọ để giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
17
2. Về án phí: căn cứ khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 3
Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án.
- Án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm được xác
định khi Tòa án giải quyết lại vụ án.
- Án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Văn C, anh Đặng Xuân D, ông Lê
Đình L, bà Nguyễn Thị N2, chị Hoàng Thị H2 và ông Hoàng Văn S không phải
nộp án phí dân sự phúc thẩm.
+ Hoàn trả lại cho ông Lê Đình L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự
phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002098 ngày
09/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
+ Hoàn trả lại cho anh Đặng Xuân D (người đại diện theo ủy quyền của bà
Nguyễn Thị H) 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo
Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số số 0002299 ngày 16/9/2025 tại Thi hành án
dân sự tỉnh Phú Thọ.
+ Hoàn trả lại cho ông Hoàng Văn S 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số số 0002298 ngày
16/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
+ Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn C 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí
dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số số 0002297 ngày
16/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
+ Hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị N2 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002296 ngày
16/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
+ Hoàn trả lại cho chị Hoàng Thị H2 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân
sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002294 ngày
16/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
3. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (10/4/2026).
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- THADS tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 15 - Phú Thọ;
- VKSND khu vực 15 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 15 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA, VP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Hoàng Ngọc Liễu
18
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 15/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 14/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 13/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 10/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 09/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 08/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 07/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 06/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 03/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 02/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 01/04/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 31/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm