Bản án số 325/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 325/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 325/2026/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 325/2026/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 325/2026/DS-PT ngày 21/04/2026 của TAND tỉnh Cà Mau về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Cà Mau |
| Số hiệu: | 325/2026/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/04/2026 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ông D khởi kiện yêu cầu ông L và bà T trả cho ông tiền vay và tiền hụi ông L và bà T còn thiếu tiền 124.500.000 đồng (tiền vay 106.500.000 đồng và tiền hụi 18.000.000 đồng) và tiền lãi trên số tiền vay gốc 106.500.000 đồng bằng số tiền 28.701.000 đồng (lãi 3%/tháng, tính từ ngày 21/7/2023 đến ngày 24/4/2024). |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 325/2026/DS-PT
Ngày 21 – 4 – 2026
V/v tranh chấp hụi, hợp đồng vay tài
sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lập
Các Thẩm phán: Ông Đặng Minh Trung
Bà Tiêu Hồng Phượng
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Như Nguyện - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà
Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Bà
Huỳnh Diễm Lệ – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử
phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 65/2026/TLPT-DS ngày 23 tháng 02
năm 2026 về việc: Tranh chấp hụi và hợp đồng vay tài sản.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 213/2024/DS-ST ngày 26 tháng 07 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau nay là Tòa án nhân dân khu
vực 3 - Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 218/2026/QĐ-PT ngày 10
tháng 3 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Chí D, sinh năm 1983 (Vắng mặt);
Căn cước công dân số: 096083017031 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội cấp ngày: 26/01/2022.
Địa chỉ cư trú: Ấp S, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
Chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã Đ, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn:
1. Ông Vũ Đức L, sinh năm 1969 (Có mặt);
Căn cước công dân số: 096069008086 do Cục Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội cấp ngày: 14/08/2021.
2. Bà Trần Thị T, sinh năm 1967 (Vắng mặt);
Cùng địa chỉ cư trú: Ấp T, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau. Nay là Ấp T, xã Đ,
tỉnh Cà Mau.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Vũ Đức L: Ông Trần Minh
T1, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (Có
mặt).
- Người kháng cáo: Ông Vũ Đức L, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Lê Chí D trình bày:
Vợ chồng ông Vũ Đức L và bà Trần Thị T có vay tiền của ông D nhiều lần,
tổng số tiền là 106.500.000 đồng, cụ thể các lần vay:
Lần 1: Ngày 31/9/2022 vay 50.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng
Lần 2: Ngày 17/10/2022 vay 10.000.000 đồng lãi 5%/tháng
Lần 3: Ngày 20/10/2022 vay 40.000.000 đồng lãi 5%/tháng
Lần 4: Ngày 30/3/2023 vay 6.500.000 đồng lãi 5%/tháng.
Phía ông L và bà T đã trả tiền lãi hàng tháng chưa đầy đủ cho ông, tính đến
ngày 21/7/2023 đã đóng lãi được 27.500.000 đồng. Sau đó có thỏa thuận lại lãi suất
3%/tháng, nhưng ông L và bà T không đóng lãi cho đến nay.
Ngoài ra, ông L và bà T có tham gia dây hụi mở ngày 02/6/2022, loại hụi
2.000.000 đồng, do ông D là chủ hụi; ông L và bà T tham gia 01 chưng ở vị trí số 14
tên “Trần Thị T”. Bà T và ông L đã hốt kỳ đầu bỏ hụi, số tiền hốt hụi 35.000.000
đồng, ông D đã giao hụi đầy đủ cho ông L và bà T. Sau khi hốt hụi, ông L và bà T
đóng lại hụi chết còn nợ 09 kỳ bằng số tiền là 18.000.000 đồng.
Do đó, ông D khởi kiện yêu cầu ông L và bà T trả cho ông tiền vay và tiền hụi
ông L và bà T còn thiếu tiền 124.500.000 đồng (tiền vay 106.500.000 đồng và tiền
hụi 18.000.000 đồng) và tiền lãi trên số tiền vay gốc 106.500.000 đồng bằng số tiền
28.701.000 đồng (lãi 3%/tháng, tính từ ngày 21/7/2023 đến ngày 24/4/2024).
- Theo ông Vũ Đức L trình bày (tại phiên toà phúc thẩm):
Khoản nợ tiền vay, tiền hụi mà bà T nợ ông D là nợ riêng của bà T, ông L
không biết và cũng không liên quan. Do đó, ông không đồng ý có nghĩa vụ cùng với
bà T trả nợ theo yêu cầu của ông D.
- Đối với bà Trần Thị T:
Bà T không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của ông D và cũng không có mặt
trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 213/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm 2024
của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay là Tòa án nhân dân
khu vực 3 – Cà Mau quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Chí D đối với bà Trần Thị T, ông
Vũ Đức L.
Buộc bà Trần Thị T, ông Vũ Đức L trả cho ông Lê Chí D số tiền 134.472.000
đồng.
3
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, án phí và
quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 23/01/2026, ông Vũ Đức L có đơn kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ
thẩm: Buộc ông Lê Chí D chấm dứt việc đòi ông trả nợ, phải công khai xin lỗi, bồi
thường ngày công, chi phí đi lại cho ông; ông D cho bà T vay tiền, chơi hụi, hốt hụi
thì đòi bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Vũ Đức L giữ nguyên kháng cáo.
Phần tranh luận tại phiên toà:
Trợ giúp viên pháp lý bảo vệ cho ông L phát biểu: Khoản nợ tiền vay, tiền hụi
của ông D là nợ riêng của bà T, ông D không tham gia và cũng không biết, nên
không có căn cứ xác định là nợ chung của bà T và ông L. Do đó, kiến nghị Hội đồng
xét xử chấp nhận kháng cáo của ông L, sửa bản án sơ thẩm, không buộc ông L có
trách nhiệm cùng với bà T để trả nợ cho ông D.
Ông L phát biểu: Về năng lực kinh tế của gia đình ông đủ hoặc dư chi phí chi
tiêu trong gia đình, nên không có việc vay mượn tiền của ông D để chi phí sinh hoạt
cho gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà phát biểu:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội
đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa
đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Đức L, giữ bản án sơ
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét kháng cáo của ông Vũ Đức L, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Ông Lê Chí D cho rằng vợ chồng ông L, bà Trần Thị T có vay tiền của
ông D nhiều lần, cụ thể: Ngày 31/9/2022 vay 50.000.000 đồng; Ngày 17/10/2022
vay 10.000.000 đồng; Ngày 20/10/2022 vay 40.000.000 đồng; Ngày 30/3/2023 vay
6.500.000 đồng. Tổng cộng là 106.500.000 đồng. Quá trình vay, ông L và bà T có
trả lãi 27.500.000 đồng. Ngoài ra, ông L và bà T có tham gia hụi do ông làm chủ
hụi, loại hụi 2.000.000 đồng, mở ngày 02/6/2022, loại hụi 2.000.000 đồng, ông L và
bà T tham gia 01 chưng; ông L và bà T hốt hụi còn nợ lại tiền hụi chết chưa đóng 09
kỳ bằng 18.000.000 đồng. Do đó, ông D khởi kiện yêu cầu ông L, bà T trả số tiền
124.500.000 đồng (tiền vay 106.500.000 đồng và tiền hụi 18.000.000 đồng) và tiền
lãi trên số tiền vay gốc 106.500.000 đồng theo lãi suất quy định, được đối trừ với số
tiền lãi mà ông L và bà T đã trả 27.500.000 đồng.
[2] Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông D, buộc ông L và bà T trả
cho ông D tổng số tiền 134.472.000 đồng. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà T không có
kháng cáo; ông L có đơn kháng cáo không đồng ý có trách nhiệm cùng với bà T để
trả nợ cho ông D.
[3] Xét về trách nhiệm trả nợ của ông L, thấy rằng: Ông L với bà T là vợ
chồng, tuy không đăng ký kết hôn nhưng đã chung sống với nhau từ năm 1996. Mặc
4
dù các biên nhận nợ chỉ có bà T ký vay nợ và tham gia hụi, nhưng giao dịch vay và
hụi do bà T tham gia phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của ông L và bà T còn đang
tồn tại. Nên được xác định là nợ chung của bà T và ông L, vì vậy ông L phải có trách
nhiệm trả nợ cùng với bà T. Tại phiên toà phúc thẩm, ông L có cung cấp bản án Hôn
nhân và gia đình sơ thẩm số 369/2023/HNGĐ-ST ngày 07/11/2023 về việc ly hôn
giữa ông với bà T. Tại bản án hôn nhân và gia đình này, ông L xác định thời gian
chung sống vợ chồng có tài sản chung nhưng không yêu cầu Toà án giải quyết. Đồng
thời ông L cũng xác định đến nay giữa ông L với bà T cũng chưa yêu cầu giải quyết
về việc phân chia tài sản chung; do đó, Toà án cấp sơ thẩm buộc ông L có trách
nhiệm cùng với bà L để trả nợ cho ông D tổng số tiền 134.472.000 đồng (không
phân chia theo phần) là có căn cứ.
[4] Từ nhận định trên, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo ông Vũ
Đức L, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.
[5] Án phí dân sự phúc thẩm ông Vũ Đức L được miễn chịu án phí.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt
ra xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo ông Vũ Đức L.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 213/2024/DS-ST ngày 26 tháng 7 năm
2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời tỉnh Cà Mau nay là Tòa án nhân
dân khu vực 3 - Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Chí D đối với bà Trần Thị T và
ông Vũ Đức L. Buộc bà Trần Thị T và ông Vũ Đức L trả cho ông Lê Chí D số tiền
134.472.000 đồng (Một trăm ba mươi bốn triệu, bốn trăm bảy mươi hai ngàn đồng).
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Vũ Đức L và bà Trần Thị T phải chịu số tiền
5.870.000 đồng. Do ông Lê Chí D đã nộp xong khoản tiền này, nên buộc ông Vũ
Đức L và bà Trần Thị T trả lại cho ông Lê Chí D số tiền 5.870.000 đồng.
Kể từ ngày ông D có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong các
khoản tiền nêu trên, thì hàng tháng ông L và bà T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ
luật Dân sự.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Chí D không phải chịu án phí. Ngày
21/12/2023, ông D đã dự nộp 3.113.000 đồng theo biên lai thu số 0004302 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời nay là phòng thi hành án dân sự Khu
5
vực – Cà Mau được nhận lại. Ông Vũ Đức L, bà Trần Thị T phải chịu 6.723.000
đồng.
- Án phí phúc thẩm: Ông Vũ Đức L được miễn chịu án phí.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực
pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
- Tòa án nhân dân khu vực 3- Cà Mau;
- Phòng THADS Khu vực 3- Cà Mau;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ;
- Lưu án văn;
- Lưu VT(TM:TANDTCM).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thành Lập
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 30/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 26/03/2026
Cấp xét xử: Phúc thẩm