Bản án số 655/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 655/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 655/2026/DS-PT ngày 21/07/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 655/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo của bị đơnsửa một phần bản án sơ thẩm về án phí
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 655/2026/DS-PT Bản án số 655/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 655/2026/DS-PT Bản án số 655/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số:655/2026/DS-PT
Ngày: 21-7-2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Lê Thành Trung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũng
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư ký phiên tòa: Huỳnh Thị Hồng Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Minh Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 7 năm 2026 tại Tòa án nhân dân tnh Vĩnh Long xét xử phúc
thẩm công khai vụ án thụ số: 350/2026/TLPT-DS ngày 28 tháng 5 năm 2026
về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do án dân sự thẩm số 28/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 4 – nh Long bị kháng cáo.
Theo định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 573/2026/QĐPT-DS ngày 10
tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn T, sinh năm: 1972;
Địa ch: Ấp H, xã Q, tnh Vĩnh Long.
- Bị đơn:
1. Bà Mai Thị T1, sinh năm: 1972;
2. Ông Lê Thái V, sinh năm: 1971;
3. Ông Lê Duy K, sinh năm: 1994;
Cùng địa ch: Ấp R, xã T, tnh Vĩnh Long.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Nguyễn Thị
T2, Công ty L và Cộng sự.
Người kháng cáo: Mai Thị T1, ông Thái V ông Duy K bị
đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong qtrình giải quyết vụ án và tại phiên tòa
nguyên đơn ông Bùi Văn T trình bày và có yêu cầu như sau:
2
Do có quan hệ quen biết nên ông Bùi Văn T có cho ông Lê Duy K, bà Mai
Thị T1 ông Lê Thái V vay số tiền 750.000.000 đồng vào ngày 11/7/2025, mục
đích vay tiền là để lo công việc gia đình, làm hợp đồng vay tiền ngày 11/7/2025,
T1, ông V ông K cùng tên vào bản Hợp đồng vay tiền. Thỏa thuận
thời gian trả trong vòng 01 tháng, lãi suất do hai bên tự thỏa thuận. Sau đó ông T
giao số tiền 750.000.000đồng trực tiếp cho ông Duy K nhận, ông K trả
được18.000.000 đồng tiền lãi thì ngưng đến nay không thanh toán.
Đến thời hạn thỏa thuận thì ông V, T1, ông K không thanh toán tiền vốn
và lãi cho ông T, ông T có nhắc nhở nhiều lần nhưng ông V, bà T1 và ông K ch
hứa chứ không trả nên đến nay còn nợ số tiền vốn vay là 750.000.000đồng.
Nay ông Bùi Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Duy K, bà Mai
Thị T1, ông Lê Thái V có nghĩa vụ trả số tiền nợ vay vốn là 750.000.000đồng.
Yêu cầu tính lãi suất 1.66%/tháng với số tiền lãi tính từ ngày 11/7/2025 đến
ngày 11/03/2026 08 tháng x 750.000.000 đồng x 1.66%/tháng
99.600.000đồng, trừ đi số tiền lãi đã nhận là 18.000.000đồng, buộc ông K, ông V
T1 còn phải trả số tiền lãi 81.600.000đồng. Tổng cộng vốn lãi
831.600.000đồng.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa
thẩm bị đơn ông Lê Thái V và bà Mai Thị T1 trình bày:
Do quan hệ quen biết nên K con ruột ông V, T1 vay tiền của ông
Bùi Văn T số tiền 750.000.000đồng, để đảm bảo khoản vay thì ông T có kêu ông
V bà T1 cùng tên xác nhận vào Hợp đồng vay tiền để bảo lãnh cho K vay
tiền.
Trong năm 2025 ông T đến nhà và đưa hợp đồng vay tiền, không có ghi
ngày, tháng, nămnội dung cụ thể kêu ký tên trước, khi nào ông T đưa tiền cho
K nhận hình thức chuyển khoản hoặc nhận tiền trực tiếp thì sẽ đem bản hợp đồng
vay tiền ra ghi nội dung cụ thể sau.
Do tin tưởng nên ông K, T1, ông V có cùng và ghi họ tên trước vào
bản hợp đồng vay tiền nhưng đến nay ông V, bà T1 và ông K chưa nhận được số
tiền 750.000.000 đồng. Sau đó ông T tự ghi ngày, tháng, năm nội dung trong
hợp đồng vay tiền.
Nay Mai Thị T1 ông Lê Thái V không đồng ý trả cho ông Bùi Văn T
số tiền nợ vay vốn là 750.000.000 đồng và tiền lãi là 81.600.000đồng.
Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa
thẩm bị đơn ông Lê Duy K do bà Mai Thị T1 đại diện trình bày:
Ông K thống nhất theo ý kiến trình bày của T1. Ông K vào hợp
đồng vay tiền ngày 11/7/2025 nhưng ông T không đưa số tiền 750.000.000đồng
cho ông K nhận, ngoài ra không có giấy tờ, biên nhận nào thể hiện ông T có đưa
tiền cho ông K và ông V, bà T1 nên ông K không có nợ ông T số tiền
750.000.000đồng. Ngoài ra số tiền lãi 18.000.000đồng tiền lãi của những khoản
vay khác chứ không phải của khoản vay ngày 11/7/2025 do ông T chưa giao tiền
3
nên ông K không đóng tiền lãi của số tiền vốn vay này. Nay ông K không đồng
ý trả cho ông Bùi Văn T3 số tiền nợ vay vốn 750.000.000 đồng tiền lãi
81.600.000 đồng.
Tại án dân sự thẩm số 28/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án nhân
dân khu vực 4 – nh Long đã tuyên xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35 Điều 39, Điều 147, Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015 sữa đổi bổ sung 2025; Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468
Bộ luật dân sự 2015; Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 3, khoản
1 Điều 4 Nghị quyết số 81/2025/UBTVH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 13, Điều 14, khoản 2 Điều
26, Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn T.
Buộc ông Duy K, ông Lê Thái V và bà Mai Thị T1 có nghĩa vụ trả cho
ông i Văn T số tiền vốn vay là 750.000.000đồng và tiền lãi 81.600.000đồng.
Tổng cộng là 831.600.000đồng (T4 trăm ba mươi mốt triệu sáu trăm ngàn đồng).
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên tiền án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án
và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 10/4/2026 Mai Thị T1, ông Thái V và ông Duy K kháng
cáo yêu cầu hủy bản án thẩm số 28/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 Vĩnh Long, không chấp nhận toàn byêu cầu khởi khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữa nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn
giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về
việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của ông Bùi Văn T yêu cầu ông V T1 anh K trả lại số vốn
750.000.000 đ, không yêu cầu tính lãi.
Ý kiến của ông K cho rằng sau khi hợp đồng vay tiền ngày 11/7/2025,
ông T có giao cho ông N 180.000.000 đ, ông K trả được 11.250.000 đ còn lại
168.750.000 đ, ông T cho tiền cà phê và tiền đáo hạn ngân hàng còn lại
155.750.000 đ xin trả lại 155.750.000 đ theo ntin nhắn qua Zalo ông T đòi tiền
ông.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn: Bên bị đơn
thừa nhận tên trong hợp đồng vay tiền ngày 11/7/2025. Sau khi hợp đồng
bên nguyên đơn không chứng minh được giao 750.000.000 đ cho ông K. Tại
phiên tòa phúc thẩm ông K thừa nhận nhận của ông T 180.000.000đ trả
được 11.250.000 đ còn lại 168.750.000 đ ông K1 xin trả mỗi tháng
56.250.000.000 đ nhưng không trả, trừ tiền ông T cho tiền đáo hạn của
khách hàng còn lại 155.750.000 đ nên ông K đồng ý trả cho ông T 155.750.000
đ đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận, chấp nhận kháng cáo của các bị đơn sửa bản
án sơ thẩm.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Vĩnh Long về vụ án:
4
- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm, các
đương sự đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Kháng cáo của bị đơn không sở đchấp nhận,
tại phiên toà hôm nay ông T không yêu cầu tính lãi đề nghị Hội đồng xét xử căn
cứ quy định tại khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa một phần bản án sơ
thẩm. Buộc Mai Thị T1, ông Thái V ông Duy K ý trả số tiền
750.000.000 đồng cho ông Bùi Văn T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hsơ vụ án đã được thẩm
tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng công khai ý kiến của Kiểm sát viên,
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của Mai Thị T1, ông Thái V ông Duy K được
thực hiện trong thời hạn luật định đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo
quy định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp "Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản", thụ giải quyết vụ án theo thẩm quyền quy định tại các
Điều 26, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng quy định pháp luật.
[2] Xét nội dung kháng cáo của Mai Thị T1, ông Thái V ông
Duy K:
Những người kháng cáo cho rằng mặc dù ký tên trong Hợp đồng vay tiền
ngày 11/7/2025 nhưng thực tế ông Bùi n T không giao số tiền 750.000.000
đồng nên không phát sinh nghĩa vụ trả nợ.
Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hợp đồng vay tiền lập ngày 11/7/2025 chữ ký của ông Lê Duy K, bà Mai
Thị T1 ông Lê Thái V. Các bị đơn đều thừa nhận chữ ký trong hợp đồng của
mình, không cho rằng chữ bị giả mạo hoặc bị ép buộc. Theo Điều 4 của hợp
đồng, các bên xác nhận số tiền vay ghi trong hợp đồng là có thật tại thời điểm ký
kết. Đây chứng cứ trực tiếp thể hiện ý chí thống nhất của các bên về việc xác
lập giao dịch vay tài sản.
Trong suốt thời gian từ khi ký hợp đồng đến khi nguyên đơn khởi kiện, các
bị đơn không có tài liệu nào thể hiện đã yêu cầu hủy bỏ hợp đồng, yêu cầu trả lại
hợp đồng hoặc khiếu nại việc nguyên đơn không giao tiền như trình bày tại phiên
tòa. Việc ch đến khi vụ án được khởi kiện mới cho rằng chưa nhận tiền là lời
trình bày không phù hợp với diễn biến thông thường của giao dịch dân sự
không được chứng minh bằng tài liệu, chứng cứ khách quan.
Theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự phản đối yêu
cầu của bên kia phải có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh. Tuy nhiên, ngoài
lời khai, các bị đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc
hợp đồng ch được ký trước để "bảo lãnh" hoặc việc nguyên đơn không giao tiền
vay. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận ý kiến này.
[3] Đối với chứng cứ là các tin nhắn Zalo do phía bị đơn cung cấp:
5
Theo nội dung các tin nhắn được lập vi bằng, nguyên đơn nhiều lần yêu cầu
ông K thanh toán khoản tiền còn thiếu đ cập đến số tiền còn lại
168.750.000 đồng, sau khi trừ các khoản đã thanh toán hoặc hỗ trợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K thay đổi lời trình bày so với quá trình giải
quyết tại cấp thẩm. Nếu như cấp thẩm ông K khẳng định hoàn toàn không
nhận khoản vay 750.000.000 đồng thì tại phiên tòa phúc thẩm lại thừa nhận
nhận của ông T số tiền 180.000.000 đồng đã thanh toán được 11.250.000 đồng.
Như vậy, lời khai của bị đơn có sự thay đổi về nội dung cơ bản, thiếu thống
nhất mâu thuẫn với chính lời khai trước đó. Việc thay đổi lời khai nhưng không
xuất trình được chứng cứ khách quan chứng minh cho nội dung mới trình bày làm
cho lời khai này không có giá trị chứng minh.
Mặt khác, căn cứ thời điểm phát sinh các tin nhắn là sau khi khoản vay theo
hợp đồng đã đến hạn thanh toán nên các tin nhắn này không đủ cơ sở để xác định
rằng các bên đã thay đổi nội dung hợp đồng hoặc ch phát sinh khoản vay
180.000.000 đồng như bị đơn trình bày.
Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận lập luận của các bị đơn
cho rằng nghĩa vụ trả nợ ch còn 155.750.000 đồng.
[4] Từ những phân tích nêu trên, có đủ căn cứ xác định giữa ông Bùi Văn T
với ông Duy K, bà Mai Thị T1 và ông Lê Thái V đã xác lập hợp đồng vay tài
sản ngày 11/7/2025; hợp đồng được các bên tự nguyện kết, không vi phạm
điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và có hiệu lực pháp luật.
Các bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn nên đã vi phạm
nghĩa vụ trả nquy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy, Tòa án
cấp thẩm buộc các bị đơn liên đới thanh toán cho nguyên đơn số tiền gốc
750.000.000 đồng là có căn cứ và đúng pháp luật.
[5] Đối với yêu cầu tính lãi:
Theo hợp đồng vay tiền ngày 11/7/2025, các bên ch thỏa thuận "lãi suất do
các bên tự thỏa thuận" nhưng không xác định cụ thể mức lãi suất. Tòa án cấp sơ
thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu tính lãi của nguyên đơn chưa phù hợp với
hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội
đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Bùi Văn T tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu về
tiền lãi và ch yêu cầu các bị đơn thanh toán số tiền gốc 750.000.000 đồng. Việc
rút một phần yêu cầu khởi kiện hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật,
không ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của người khác nên được Hội
đồng xét xử chấp nhận theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
vậy, cần sửa bản án thẩm theo hướng ch buộc các bị đơn thanh toán
số tiền gốc 750.000.000 đồng.
[6] Xét ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tnh Vĩnh Long
phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Ý kiến của người
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bị đơn không có căn cứ để chấp nhận.
[7] Về án phí phúc thẩm:
Do kháng cáo của các bị đơn được chấp nhận một phần theo hướng sửa bản
án sơ thẩm về phần tiền lãi nên các đương sự kháng cáo không phải chịu án phí
dân sự phúc thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.
6
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463; 466 và 468 luật sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Mai Thị T1, ông Lê Thái
V và ông Lê Duy K.
- Sửa một phần án dân sự sơ thẩm số 28/2026/DS-ST ngày 31/3/2026 của
Tòa án nhân dân khu vực 4 – Vĩnh Long.
Tuyên xử:
Buộc ông Duy K, ông Lê Thái V và bà Mai Thị T1 có nghĩa vụ trả cho
ông i Văn T số tiền vốn vay là 750.000.000 đ (Bảy trăm năm mươi triệu đồng)
Về án phí dân sự thẩm: Buộc ông Duy K, ông Thái V và bà Mai
Thị T1 phải chịu 34.000.000đ (Ba mươi bốn triệu đồng).
Hoàn trả cho ông Bùi Văn T 18.377.000 đ tiền tạm ứng án ptheo biên lai
thu số 0001693 ngày 22/01/2026 của Thi hành án dân sự tnh Vĩnh Long.
Về án phí phúc thẩm: Hoàn trả cho ông Duy K, ông Thái V
Mai Thị T1 900.000 đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 006746,
0006748,0006747 ngày 13/4/2026 của Thi hành án dân sự tnh Vĩnh Long.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả
cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại khoản 2 Điều 468 của Bluật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại khoản 1 34, Điều 36
Luật hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
khoản 2 Điều 34 Luật hành án dân sự.
7
Nơi nhận:
- VKSND tnh Vĩnh Long;
- TAND khu vực 4 – Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 4 -Vĩnh Long;
- Các đương sự (theo địa ch);
- Lưu: TGĐ&NCTN, hồ sơ vụ án.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 655/2026/DS-PT Bản án số 655/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 655/2026/DS-PT Bản án số 655/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất