Bản án số 609/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 609/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 609/2026/DS-PT ngày 20/07/2026 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 609/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 609/2026/DS-PT Bản án số 609/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 609/2026/DS-PT Bản án số 609/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 609/2026/DS-PT
Ngày: 20-7-2026
V/v tranh chấp: “Hụi, hợp đồng
vay tài sản và vô hiệu hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Tôn
Ông Nguyễn Chí Dững
- Thư phiên tòa: Ông Ngô Phúc Thẩm - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà
Võ Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 7 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 300/2026/TLPT-DS ngày 29 tháng 4 năm
2026 về tranh chấp Hợp đồng góp hụi, Hợp đồng vay tài sản hiệu hợp đồng
thế chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân ssơ thẩm số 24/2026/DS-ST ngày 09 tháng 2 m 2026 của
Toà án nhân dân khu vực T Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1039/2026/QĐ-PT ngày
11 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Nguyễn Ngọc L, sinh ngày 20/01/1966;
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tổ A, ấp H,
T, tỉnh Đồng Tháp).
Đại diện theo ủy quyền: Chị Phan Thị Bé T, sinh năm 1985 (có mặt);
Địa chỉ: Số D A, Khu dân C, khóm H, Phường B, thành phố S, tỉnh
Đồng Tháp (nay số D A, khu dân Cao Q, khóm H, phường S, tỉnh
Đồng Tháp).
2
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn Nguyễn Ngọc L:
Luật sư Lê Thị Vân L1, Văn phòng L2, thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ (có mặt);
- Bị đơn:
1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1950 (vắng mặt).
2. Bà Đào Thị H, sinh năm 1957 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp H, H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay Tổ A, ấp
H, xã T, tỉnh Đồng Tháp).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Cẩm Đ, sinh năm 1960 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tổ A, ấp H,
T, tỉnh Đồng Tháp).
2. Chị Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ A, ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tổ A, ấp H,
T, tỉnh Đồng Tháp).
3. Chị Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1984 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số E, Khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp (nay Số
E, Khóm T, phường S, tỉnh Đồng Tháp)
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm;
Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L trình bày:
Vào năm 2016 đến năm 2018, L Đ chơi các dây hụi mùa, hụi
tháng do bà Đào Thị H làm chủ hụi. Quá trình chơi hụi đến năm 2020 thìH bỏ
đi khỏi địa phương, không tổ chức khui hụi, cũng không thông báo có bể hụi hay
không. Bà L và bà Đ đều chưa hốt hụi lần nào.
Đối với phần hụi của bà L thì bà H có thừa nhận còn nợ tiền hụi sống mà bà
L đã đóng, tổng cộng 377.000.000 đồng và nợ tiền vay 50.000.000 đồng.
Tổng tiền hụi tiền vay còn nợ 427.000.000 đồng (bà H viết tên trong sổ
của bà L giữ).
Thời điểm này, vợ chồng bà H và ông M còn có thế chấp quyền sử dụng đất
gồm thửa đất số 40 diện tích 1.257m
2
, thửa đất số 71 diện tích 6.066m
2
thửa
đất số 15 diện tích 1.507m
2
để vay số tiền 300.000.000 đồng tại Ngân hàng Đ1 -
Chi nhánh S1, Phòng giao dịch thị trấn C (nay là xã P). Do đó, giữa bà L, Đ
H thỏa thuận miệng (không làm bằng văn bản) L và Đ sẽ cho vợ
3
chồng bà H ông M mượn tiền trả cho Ngân hàng để xóa thế chấp lấy Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ra chuyển nhượng lại cho L và Đ các thửa đất
40+71+15 để cấn trừ vào các khoản nợ hụi vay mà bà H, ông M còn nợ L,
Đ.
L Đ thống nhất mỗi người cho vợ chồng H, ông M mượn
150.000.000 đồng để H, ông M trả nợ vay Ngân hàng. Tuy nhiên, khi làm thủ
tục trả nợ vay Ngân hàng tĐ không cho mượn tiền, nên bà L phải cho bà H,
ông M ợn tổng cộng 300.000.000 đồng để bà H, ông M trả nợ vay Ngân hàng
xóa thế chấp lấy Giấy chứng nhận quyền sdụng đất ra. Tổng số tiền H, ông
M còn nợ bà L 727.000.000đ (427.000.000đ + 300.000.000đ).
Ngày 23/5/2020 giữa L hộ ông M, H lập hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất đối với 02 thửa đất số 40, diện tích 1.257m
2
và thửa đất số 71,
diện tích 6.066m
2
đã được Văn phòng C chứng nhận, để cấn trừ nợ. Theo thỏa
thuận giữa L H thì giá chuyển nhượng của 02 thửa đất này
80.000.000đồng/01công, thành tiền là 577.000.000 đồng, việc thỏa thuận này chỉ
bằng miệng không giấy tờ. Tuy nhiên trong hợp đồng chuyển nhượng quyền s
dụng đất ngày 23/5/2020 chỉ ghi giá chuyển nhượng là 475.000.000đồng mục đích
để giảm thuế, nên hiện tại H ông M vẫn còn nợ L số tiền 150.000.000
đồng (727.000.000đ 577.000.000đ = 150.000.000 đồng). Sau khi bà L được
đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 40+71 thì năm 2024 bà
L đã bán 02 thửa đất này cho người khác sử dụng.
Do H ông M còn nợ bà L 150.000.000 đồng cũng còn nợ Đ, nên
giữa bà H, ông M và bà L, bà Đ thỏa thuận làH ông M thế chấp thửa đất s
15, diện tích 1.507m
2
cho bà L và bà Đ để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ cho L và bà
Đ. Tuy nhiên, Văn phòng C chđồng ý công chứng hợp đồng thế chấp cho L
hoặc bà Đ (không thế chấp cho cả hai người), do Đ có cam kết sẽ viết giấy nợ
cho L 150.000.000 đồng, nên L đã đồng ý để cho bà Đ được đứng tên
trong hợp đồng nhận thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 15. Tuy nhiên
đến nay Đ cũng không viết giấy nợ cho bà L số tiền 150.000.000 đồng theo
thỏa thuận.
Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là chị Phan Thị
Bé T xác định L không yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm Đ có trách nhiệm liên đới
với bà H, ông M trả số tiền còn nợ là 150.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh.
Nay bà L xác định, L yêu cầu bà H và ông M liên đới trả cho bà L số tiền
còn nợ gốc 150.000.000 đồng tiền lãi theo quy định 0,83%/tháng, kể từ
ngày 21/5/2020 đến 21/10/2025 (65 tháng): 150.000.000 đồng x 65 tháng x 0.83%
= 80.925.000 đồng. Tổng cộng gốc lãi 230.925.000 đồng. Yêu cầu tiếp tục
tính lãi đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.
4
Đồng thời yêu cầu tuyên bố hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
xác lập công chứng ngày 23/5/2020, giữa bên thế chấp là hộ ông Nguyễn Văn M
cùng các thành viên trong hộ và bên nhận thế chấp là bà Nguyễn Thị Cẩm Đ. Tài
sản thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 15 tờ bản đồ số 02 diện tích
1.507m
2
, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/5/2007 cấp cho hộ ông
Nguyễn Văn M (Hiện Giấy đất do bà Đ đang quản lý).
Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu người nào khác liên đới trả nợ cùng và
không còn yêu cầu nào khác.
Bị đơn bà Đào Thị H trình bày:
Giữa H và bà Nguyễn Ngọc L không có mối quan hệ con, chỉ là quen
biết nhau, L chơi các dây hụi do H làm chủ. Do các hụi viên khác
không đóng hụi đầy đủ, nên ngày 05/01/2020 bà H đã tuyên bố bể hụi và ghi giấy
nợ hụi cùng ngày cho L. Tổng số tiền H còn nợ hụi của L 377.000.000đ
(Ba trăm bảy mươi bảy triệu đồng). Đồng thời do cần tiền đxoay scuộc sống
nên bà H đã mượn thêm của L số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và
ghi biên nhận nợ ngày 18/10/2018.
Năm 2020 bà H cùng chồng là ông Nguyễn Văn M vay của Ngân hàng B-
Phòng giao dịch thị trấn C (nay P) số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu
đồng) và thế chấp tài sản là nhà, đất thuộc các thửa gồm: Thửa đất số 40, TBĐ số
02, diện tích 1.257m
2
; Thửa đất số 71, TBĐ số 01, diện tích 6.066m
2
; Thửa đất
vườn cùng căn nhà cấp 4 thuộc thửa 15, TBĐ số 02, diện tích 1.507m
2
(trong đó
300m
2
đất ở 1.207m
2
đất trồng cây lâu năm), đất tọa lạc tại H, huyện C,
tỉnh Đồng Tháp (nay ấp H, T, tỉnh Đồng Tháp). Để cấn trừ tiền nhụi
vay, vợ chồng bà H, bà L và Đ đã thỏa thuận, nếu L và Đ cùng b tiền ra
để trả nngân hàng thay cho vợ chồng H tvợ chồng H, ông M sẽ sang
nhượng những tài sản trên cho L Đ để trừ nợ. Sau khi bàn bạc, bà L
Đ thống nhất mỗi người đưa 150.000.000đ (một trăm m mươi triệu đồng)
cho vợ chồng bà H. Tuy nhiên, do bà Đ không có tiền, nên bà L đưa luôn phần bà
Đ để lấy s đ ra. Như vậy bà L đã đưa cho v chồng H tổng số tiền
300.000.000 đồng, để trả cho Ngân hàng.
Ngày 21/5/2020 vợ chng bà H đã lập biên nhận tiền còn nợ số tiền
300.000.000 đồng cho L. Phần tiền nợ của vợ chồng bà H với L thì đã chuyển
nhượng diện tích đất là 7.000m
2
(diện tích đo đạc thực tế, gồm thửa đất số 40,
TBĐ số 02 và thửa đất số 71, TBĐ số 01), với giá 100.000.000 đồng/công, thành
tiền 730.000.000 đồng để cấn trừ hết nợ với L. Còn giá 475.000.000đ ghi
trên hợp đồng là giá để tính thuế thấp hơn, không phải giá chuyển nhượng thực tế
giữa 02 bên. Do đó, bà H không còn nợ L số tiền nào vì đã trừ nợ hết, H
không đồng ý với yêu cầu của bà L.
5
Đối với Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất ngày 23/5/2020 thì hộ ông M,
H, Đ thỏa thuận để Đ đại diện đứng tên người nhận thế chấp, còn việc
giữa bà Đ với bà L thỏa thuận thì tự giải quyết, bà H không biết.
Ngoài ra, không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Bị đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:
Ông là chồng của bà Đào Thị H, ông không biết việc làm ăn qua lại giữa bà
L với bà H, cũng không biết hiện bà H còn nợ bà L không, hay nợ bao nhiêu tiền,
việc làm ăn do bà H tự quyết định. Trước đây ông có 03 thửa đất gồm 07 công đất
và 1,7 công đất vườn. Vợ chồng ông có thế chấp cho Ngân hàng và bà L là người
đưa 300.000.000 đồng để vợ chồng ông trả tiền vay cho Ngân hàng lấy giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ra. Sau khi lấy giấy đất ra thì vợ chồng ông đã bán 07
công đất ruộng cho L để trừ cấn nợ. Vợ chồng ông không nhận bất kkhoản
tiền nào từ bà L. Hiện tại vợ chồng ông đã giao 07 công đất ruộng cho bà L và bà
L cũng đã bán lại cho người khác. Còn 1,7 công đất vườn thì hiện nay đang thế
chấp cho bà Đ do H còn nợ tiền của Đ, nợ bao nhiêu ông không biết. Phần
đất này hiện ông đang sử dụng từ trước đến nay.
Đối với H thì đã bỏ địa phương hiện ở địa chỉ nào thì ông không biết, ông
sống một mình 07 năm nay. Nay L yêu cầu ông liên đới với H trả số tiền còn
nợ gốc 150.000.000đồng và tiền lãi thì ông không đồng ý, L đã lấy đất của
ông cấn trừ nợ rồi.
Ngoài ra, ông M khôngý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm Đ trình bày:
Năm 2010, bà Đ có tham gia chơi nhiều dây hụi do bà H làm chủ hụi và cho
bà H vay mượn tiền. Quá trình chơi hụi và cho vay tiền tính đến năm 2020, thì bà
H còn nợ bà Đ tổng số tiền là 1.360.000.000 đồng (trong đó tiền vay 200.000.000
đồng, tiền hụi 1.160.000.000 đồng, tính chẵn).
Cũng tại thời điểm m 2020, H ông M nợ 300.000.000 đồng tiền
vay tại Ngân hàng TMCP đầu phát triển Việt Nam - giao dịch Thị trấn C
(nay P), tài sản thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất số 15 diện tích
1.507m
2
, thửa đất số 40 diện tích 1.257m
2
, thửa đất số 71 diện tích 6.066m
2
cùng
tờ bản đồ số 02, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn
M.
Do bà H ông M cũng còn nợ tiền hụi của bà Nguyễn Ngọc L là 427.000.000
đồng (do bà Đ và bà L cùng chơi hụi do bà H làm chủ hụi, nên Đ có nghe bà L
nói là bà H, ông M còn nợ tiền hụi bà L). Nên bà L có yêu cầu bà Đ cho bà H, ông
M mượn 150.000.000 đồng L cho H, ông M mượn 150.000.000 đồng,
tổng cộng là 300.000.000 đồng để H ông M trả nợ vay Ngân hàng, lấy Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ra chuyển nhượng lại cho bà L và bà Đ để cấn trừ
6
nợ, nhưng Đ không đồng ý H ông M còn nợ Đ 1.360.000.000 đồng
chưa trả.
Sau đó, L đã cho H ông M mượn 300.000.000 đồng để trả nvay Ngân
hàng lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra, đưa cho L làm thủ tục
chuyển nhượng 02 thửa đất gồm thửa số 40 diện tích 1.257m
2
thửa đất số 71
diện tích 6.066m
2
cho bà L để cấn trừ tiền nmà bà H ông M còn nợ L (bà Đ
chỉ nghe hai bên thỏa thuận cấn trừ ngang, không biết sau khi chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thì bà H ông M còn nợ hụi bà L hay không).
Đ không thỏa thuận với bà L và H, ông M về việc bà L Đ cùng
nhận thế chấp thửa đất số 15 để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của H ông M.
Đ cũng không cam kết viết giấy nhận nợ cho bà L số tiền là 150.000.000 đồng, vì
ngay tđầu Đ không đồng ý với đề nghị của L vviệc cho H ông M
mượn 150.000.000 đồng để trả nợ vay Ngân hàng.
Còn lại thửa đất số 15 diện tích 1.507m
2
, tbản đồ số 02 thì H ông M
không đồng ý chuyển nhượng cho bà L, mà chỉ đồng ý thế chấp cho bà Đ để bảo
đảm cho khoản vay + hụi 1.360.000.000 đồng còn nợ của Đ. Do đó hộ ông
Nguyễn Văn M đồng ý hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất thửa đất số 15
diện tích 1.507m
2
, tờ bản đồ số 02, công chứng ngày 23/5/2020, giữa bên thế chấp
hộ ông Nguyễn Văn M với bên nhận thế chấp Nguyễn Thị Cẩm Đ. Hiện
nay bà Đ đang giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 15 diện tích
1.507m
2
, tờ bản đồ số 02, còn thửa đất số 15, diện tích 1.507m
2
, trên đất căn
nhà của bà H ông M xây dựng thì hộ ông M đang quản lý, sử dụng.
Đ không nghe thấy Văn phòng C nói hợp đồng thế chấp thửa đất số 15
chỉ được một người nhận thế chấp.
Nay bà Đ không đồng ý tuyên bố vô hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
đất xác lập công chứng ngày 23/5/2020, giữa bên thế chấp là hộ ông Nguyễnn
M cùng các thành viên trong hộ và bên nhận thế chấp là bà Nguyễn Th Cẩm Đ.
Đ cũng không yêu cầu H ông M trả khoản nợ 1.360.000.000 đồng,
không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của hộ ông M bà H, trong vụ án này. (Bà Đ
sẽ yêu cầu bà H ông M trả khoản nợ 1.360.000.000 đồng trong vụ án khác nếu cần
thiết). Ngoài ra, Đ yêu cầu không đưa Đ vào tham gia vụ án với cách
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại bản án dân sự thẩm s24/2026/DS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2026
của Toà án nhân dân khu vực T Đồng Tháp đã quyết định áp dụng: Các Điều 26,
35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 264, 271, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn
cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường V Quc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản án
phí và lệ phí Tòa án, xử:
7
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc L về việc yêu cầu
Đào thị H, ông Nguyễn Văn M trả số tiền còn nợ gốc là 150.000.000 đồng và tiền
lãi 80.925.000 đồng. Tổng cộng gốc, lãi 230.925.000 đồng, yêu cầu tiếp tục tính
lãi đến khi bản án hiệu lực pháp luật tuyên bố hiệu hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất xác lập công chứng ngày 23/5/2020, giữa bên thế chấp là hộ
ông Nguyễn Văn M cùng các thành viên trong hộ n nhận thế chấp
Nguyễn Thị Cẩm Đ.
Ngoài ra bản án còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của
đương sự.
Ngày 23/02/2026 nguyên đơn Nguyễn Ngọc L đơn kháng cáo bản án
sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm:
+ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà;
+ Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm, phúc thẩm cho bà;
+ Xem xét lại chi phí giám định theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết
vụ án.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho L ý kiến cho rằng khi hòa
giải sở vào năm 2021, 2022 phía Đ thừa nhận khi nào bán phần đất thế
chấp thanh toán nợ cho bà còn sẽ trả, đồng thời theo công văn số 135/PKT ngày
10/10/2025 của Phòng kinh tế trực thuộc Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Đồng Tháp
trả lời cho Tòa án nhân dân khu vực 8 xác định giá đất tại thời điểm phía ông M
chuyển nhượng cho bà L là 70.000.000đ/m
2
nên đủ căn cứ xác định ông M, bà H
chỉ thanh toán cho bà L 577.000.000 đồng, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp
nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của người
tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng
xét xử nghị án là đúng theo pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp cho rằng cấp
thẩm giải quyết vụ án là căn cứ, đúng pháp luật, L kháng cáo nhưng không
cung cấp tài liệu, chứng cứ mới chứng minh, tuy nhiên bà L sinh ngày 20/01/1966
là người cao tuổi, đơn xin miễn án phí, nên đnghị Hội đồng xét xử sửa bản
án sơ thẩm theo hướng sửa phần án phí, miễn toàn bộ án phí cho bà L.
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung
yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, lời trình bày của các đương sự Luật sư và kết
8
quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm
sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyễn Ngọc L khởi kiện yêu cầu bà Đào Thị H, ông Nguyễn Văn M
trả số tiền gốc còn nợ 150.000.000 đồng cùng tiền lãi yêu cầu tuyên bố
hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất xác lập công chứng ngày 23/5/2020,
giữa bên thế chấp hộ ông Nguyễn Văn M và bên nhận thế chấp Nguyễn
Thị Cẩm Đ, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp Hợp đồng góp
hụi, hợp đồng vay tài sản và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” thụ lý giải
quyết là đúng thẩm quyền theo quy định ca Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 09/02/2026 Tòa án nhân dân khu vực 8- tỉnh Đồng Tháp xét xử vụ án,
không đồng ý với bản án sơ thẩm, ngày 23/02/2026 nguyên đơn Nguyễn Ngc
L kháng cáo bản ánthẩm n trong hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật
Tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Văn M, bà Đào Thị H, bà Nguyễn Thị cẩm Đ, Nguyễn Ngọc S,
Nguyễn Ngọc T1 đã được triệu tập hợp lệ lần 2 đxét xử nhưng vắng mặt không
lý do, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân s
xét xử vắng mặt các đương sự theo luật định.
[2] Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện kháng cáo của Nguyễn
Ngọc L về việc yêu cầu bị đơn trả số tiền 150.000.000 đồng và tiền lãi, nhận thấy:
Về số tiền nợ 150.000.000 đồng, phía L cho rằng phần nợ này phát sinh
trong giai đoạn từ năm 2016- 2018, tổng cộng 427.000.000 đồng, sau đó L
xuất 300.000.000 đồng đtrả ngân hàng lấy giấy đất của phía ông M ra và chuyển
nhượng cho L 02 thửa đất số 40 số 71 trừ được 577.000.000 đồng, việc
chuyển nhượng đất lập ngày 23/5/2020, số tiền còn lại 150.000.000 đồng nợ đến
nay chưa thanh toán. Xét thấy, L cho rằng phía H, ông M n nợ nhưng
không cung cấp chứng từ chứng minh, phía ông M, H không thừa nhận, mặt
khác việc L trình bày không hợp lý, nếu tại thời điểm năm 2020 phía ông M
còn nợ 150.000.000 đồng thì sao phía L không yêu cầu phía ông M, bà H lập
biên nhận nợ mãi đến năm 2022 mới khởi kiện, việc này chứng tỏ năm 2020
các phần nợ giữa bà L, ông M, bà H đã cấn trừ xong bằng việc bà L nhận chuyển
nhượng 02 thửa đất của ông M, cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
này của bà L là có căn cứ.
Đối với ý kiến của phía nguyên đơn cho rằng bà Đ hứa bán đất dư sẽ trả tiền
cho bà L, xét thấy biên bản hòa giải cơ sở ngày 20/3/2021 bà Đ có nêu ý kiến khi
nào bán vườn trả đủ tiền tôi tôi sẽ trả lại tiền đó, Đ cũng không nêu khoản
nợ nào, việc này phía bị đơn không thừa nhận nên không căn cứ xem xét. Về
việc xác định giá đất của Ủy ban nhân dân T, xét thấy, việc các bên giao dịch
theo hợp đồng chuyển nhượng ngày 23/5/2020 ghi giá chuyển nhượng
9
475.000.000 đồng, chị T khai thực tế là 577.000.000 đồng nhưng không có gì
chứng minh, cho nên việc bị đơn khai đã cấn trừ xong các phần nợ với bà L khi
thực hiện việc chuyển nhượng đất là phù hợp.
[3] Về yêu cầu tuyên bố hiệu hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất xác
lập công chứng ngày 23/5/2020, giữa bên thế chấp hộ ông Nguyễn Văn M
bên nhận thế chấp Nguyễn Thị Cẩm Đ. Như phân tích phần trên, bà L
không chứng minh được phía ông M, bà L phải có nghĩa vụ thanh toán nợ cho bà,
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa hộ ông Nguyễn Văn M và bên nhận thế
chấp Nguyễn Thị Cẩm Đ được lập cùng thời điểm với việc chuyển nhượng
đất giữa ông M và bà L. Trong hợp đồng thế chấp không hề đề cập đến quyền lợi,
nghĩa vụ của bà L, cho nên yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu của bà L
là không có căn cứ chấp nhận. Do Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của L nên L phải chịu chi phí giám định chữ chữ viết theo quy
định tại Điều 161 Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy yêu cầu kháng cáo này của bà L
không có căn cứ chấp nhận.
[4] L kháng cáo nhưng không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới chứng minh,
cấp thẩm giải quyết vụ án sở, đúng pháp luật nên yêu cầu kháng cáo
của bà L không căn cứ chấp nhận.
[5] Về án phí: L kháng cáo về việc cho xin miễn nộp tiền án phí. Do
L người cao tuổi nên Hội đồng xét xquyết định chấp nhận, cho được
miễn nộp tiền án phí dân sự thẩm theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết s
326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường V Quc Hi
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án. Do
đó Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm về án phí.
Về điều luật áp dụng: Tòa án cấp thẩm không áp dụng pháp luật về nội
dung để giải quyết vụ án là thiếu sót, cấp phúc thẩm bổ sung là phù hợp.
[6] Ý kiến của Luật bảo vệ quyền lợi cho L không phù hợp với nhận
định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận. Ý kiến đề nghị của đại
diện Viện Kiểm sát nhânn
tỉnh Đồng Tháp là có căn cứ, phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 ca B lut T tng dân s;
Chp nhn mt phn yêu cu kháng cáo ca Nguyn Ngc L. Sa mt
phn Bản án dân sự thẩm số 24/2026/DS-ST ngày 09 tháng 02 năm 2026 của
Toà án nhân dân khu vực T Đồng Tháp về án phí.
Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 264, 271, 273, 278, 296
của Bộ luật Tố tụng dân sự;
10
Áp dụng Điều 122, Điều 463, Điều 466, Điều 500 Bộ luật Dân sự;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường V Quc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý
án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà Nguyễn Ngọc L về việc yêu cầu
Đào Thị H, ông Nguyễn Văn M trả số tiền còn nợ gốc là 150.000.000 đồng và
tiền lãi 80.925.000 đồng. Tổng cộng gốc, lãi là 230.925.000 đồng, yêu cầu tiếp tục
tính lãi đến khi bản án hiệu lực pháp luật tuyên bố hiệu hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất xác lập công chứng ngày 23/5/2020, giữa bên thế chấp hộ
ông Nguyễn Văn M cùng các thành viên trong hộ bên nhận thế chấp
Nguyễn Thị Cẩm Đ.
2. Về chi phí tố tụng: Bà L phải chịu chi phí giám định chữ ký, chữ viết với
số tiền 9.850.000 đồng (bà L đã nộp và chi xong).
3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm phúc thẩm cho
Nguyễn Ngọc L.
Trả lại cho bà Nguyễn Ngọc L 4.800.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai
thu số 0013479 ngày 03/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh
Đồng Tháp (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành
án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Đồng Tháp;
- TAND khu vực T- Đồng Tháp;
- THADS tỉnh Đồng Tháp;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Ngọc Thái Dũng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 609/2026/DS-PT Bản án số 609/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 609/2026/DS-PT Bản án số 609/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất