Bản án số 165/2026/DS-PT ngày 24/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 165/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 165/2026/DS-PT ngày 24/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 165/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia di sản thừa kế giữa ông H và ông H1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 165/2026/DS-PT Bản án số 165/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 165/2026/DS-PT Bản án số 165/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số: 165/2026/DS-PT
Ngày 24 tháng 6 năm 2026
“V/v Tranh chấp chia thừa kế tài
sản”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nghĩa và ông Nguyễn Vĩnh Thành.
- Thư phiên t: Ông Đường Thái Sơn - Thư Toà án nhân dân tỉnh
Phú Thọ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông
Phùng Ngọc Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 24 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ số: 32/2026/TLPT-DS
ngày 05 tháng 02 năm 2026 về việc Tranh chấp về chia thừa kế tài sản”. Do Bản
án dân sự thẩm s54/2025/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Tòa án
nhân dân khu vực 11- Phú Thọ bị kháng cáo giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Ngọc H, sinh năm 1958; Nơi cư trú: thôn K, H,
tỉnh Phú Thọ, (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Nguyễn Thị P, sinh năm
1961; nơi cư trú: Thôn K, xã H, tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
2. Bị đơn: ông Ngọc H1, sinh năm 1962 ông Ngọc H2, sinh năm
1969; đều trú tại: thôn K, xã H, tỉnh Phú Thọ, (đều có mặt)
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông H1, ông H2: ông Phạm Tiến
T, sinh năm 1991 Luật Văn phòng L1; địa chỉ: số A đường N, phường V,
tỉnh Phú Thọ, (có mặt).
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3.1 Thị Đ, sinh năm 1952; Nơi trú: thôn K, H, tỉnh Phú Thọ,
(có mặt).
3.2 Thị B, sinh năm 1955; Nơi trú: thôn T, H, tỉnh Phú Thọ,
(vắng mặt).
2
3.3 Thị T1, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn Đ, Y tỉnh Phú Thọ, (có
mặt).
3.4 Thị Y, sinh năm 1971; địa chỉ: thôn K, H, tỉnh Phú Thọ, (có
mặt).
3.5 Anh Ngọc B1, sinh năm 1994; trú tại: thôn K, H, tỉnh Phú Thọ
(vắng mặt)
3.6 Chị Hoàng Thị Lan A, sinh năm 1998; trú tại: thôn K, xã H, tỉnh Phú
Thọ, (vắng mặt).
3.7 Nguyễn Thị N, sinh năm 1975; t tại: thôn K, H, tỉnh Phú Thọ,
(vắng mặt).
3.8 La Thị V, sinh năm 1967; trú tại: thôn K, H, tỉnh Phú Thọ, (vắng
mặt).
Người kháng cáo: Ông Vũ Ngọc H1, ông Vũ Ngọc H2, bà Vũ Thị Đ, bà
Thị B, bà Vũ Thị T1 và bà Vũ Thị Y.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/6/2024 trong quá trình giải quyết vụ án
tại phiên tòa người đại diện theo uỷ quyền của ông Ngọc H bà Nguyễn
Thị Phương trình B2: Vợ chồng cụ Thị N1 và cụ Bùi Thị G sinh được 07
người con gồm: (1) ông Vũ Ngọc H1 là bị đơn, (2) ông Vũ Ngọc H2 là bị đơn, (3)
Thị Đ, (4) Thị B, (5) Thị T1, (6) Thị Y (7) ông
Ngọc H là nguyên đơn. Ngoài bảy con chung như trên thì cụ N1 cụ C đều
không có con riêng, không nuôi con nuôi.
Khi còn sống cụ N1, cụ G khai hoang và tạo lập được 02 thửa đất tại
thôn K, P, huyện S nay H, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể: Thửa số 148, tờ bản đồ
số 30, diện tích 756,2m
2
(gọi tắt thửa đất 148) thửa số 149, tờ bản đồ số 30,
diện tích 799,9m
2
(gọi tắt thửa đất 149), khi còn sống hai cụ sinh sống trực tiếp
trên các thửa đất đó đến khi chết; cụ G chết năm 2002; còn cụ N1 chết năm 2020
khi chết cả hai cụ không đlại di chúc chia tài sản cho con nào. Hiện tại thửa đất
số 148 tờ bản đồ 30 do ông Vũ Ngọc H2 quản lý; thửa đất số 149, tờ bản đồ 30 do
ông Ngọc H1 quản lý, sử dụng. Các thửa đất này chưa được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
Nay ông Ngọc H đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của cụ Ngọc
N2 cụ Bùi Thị G 02 thửa số 148, tờ bản đồ số 30, diện tích 756,2m
2
thửa
3
số 149, tờ bản đồ số 30, diện tích 799,9m
2
theo quy định của pháp luật. Căn cứ
vào kết quả xem xét thẩm định các thửa đất diện tích 1574,9m
2
thì ông đề
nghị xem xét giải quyết theo diện tích thực tế xác định đất không có lấn chiếm
với các hộ liền kề. Khi chia thừa kế ông đnghị được hưởng theo kỷ phần
quyền sử dụng vì ông H là con trai trưởng của hai cụ cần đất để xây dựng
nơi thờ cúng bố mẹ các cụ tổ tiên, hiện tại ông H vẫn đang nhờ trên đất nhà
vợ tại thôn K, xã P, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Ngọc H1 ông
Ngọc H2 do bà Trần Thị N3 trình bày: Ông H1, ông H2 thừa nhận lời việc cụ N2,
cụ C sinh được bảy người con chung như ông H nguyên đơn trình bày. Ngoài
các con chung như trên thì cụ N2 cụ C không con riêng, không nuôi con
nuôi nào khác.
Thửa đất ông H1 đang sử dụng là thửa đất số 149, tờ bản đồ số 30 theo bản
đồ VN 2000 diện tích 799,9m²; Thửa đất ông H2 đang sử dụng thửa đất số
148, tờ bản đồ số 30 theo bản đồ VN 2000 có diện tích 756,2m² (trong đó một
phần hành lang đê) tại thôn K, P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay H, tỉnh
Phú Thọ. Hai thửa đất nêu trên một phần là đất ông cha của gia đình hai ông,
một phần đất do vợ chồng ông H1, vợ chồng ông H2 khai hoang, tôn tạo, san lấp
được một phần hành lang đê. Khi còn sống cụ N2, cụ C đã họp gia đình và
tặng cho toàn bộ phần đất trong thửa đất nêu trên cho vợ chồng ông H1, vợ chồng
ông H2. Tại thời điểm tặng cho, hai cụ mời địa chính đến xác định ranh giới,
mốc giới cho hai ông sử dụng. Tất cả các anh chị em của gia đình hai ông đều biết
chứng kiến việc tặng cho này. Ngoài ra, khi chia đất cho ông H1, ông H2 thì
ông H cũng được chia đất và hiện này vợ chồng ông H đang sử dụng.
Trên thửa đất 148, tờ bản đồ số 30 ông H2 đã cho vchồng anh Ngọc
B1 và chị Hoàng Thị Lan A (con trai, con dâu ông H2) một phần đất để xây dựng
01 ngôi nhà hai tầng, tổng diện tích khoảng hơn 243m
2
.
Nay ông H khởi kiện đến Tòa án yêu cầu phân chia di sản thừa kế đất, quan
điểm của hai ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc
chia di sản thừa kế của hai cụ Vũ Ngọc N2 và Bùi Thị G đối với hai (02) thửa đất
số 148, tờ bản đồ số 30 (ông H2 đang sử dụng) thửa đất số 149, tờ bản đồ 30
(ông H1 đang sử dụng). do các tài sản này là tài sản của ông H1, ông H2 đã
được cụ N2 và cụ G tặng cho khi hai cụ còn sống, hai cụ đã chuyển giao quyền tài
sản cho hai ông nên hai thửa đất trên không còn di sản của hai cụ để các đồng
thừa kế phân chia theo quy định pháp luật nữa.
4
Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà
Vũ Thị Đ, bà Vũ Thị B, bà Vũ Thị T1, bà Vũ Thị Y là bà Trần Thị N3 trình bày:
Thị Đ, Thị B, bà Thị T1, Thị Y con của cụ
Ngọc N2 Bùi Thị G; thừa nhận lời tnh bày của ông H (nguyên đơn), ông H1,
ông H2 (bị đơn) về việc hai cụ sinh được bảy con chung gồm các ông, như
trên. Ngoài các con chung tên trên, hai cụ không còn người con chung, không
có con riêng hay con nuôi nào khác.
Khi bố mẹ các n sống đã định đoạt tặng cho ông Ngọc H2
Ngọc H1 phần đất của ông cha để lại trước sự chứng kiến của toàn bộ các anh chị
em trong gia đình từ khi ông H2, ông H1 lấy vợ, lập gia đình riêng. Cụ thể, một
phần đất của ông H2 đang sử dụng bố mẹ các tặng cho một phần do ông
H2 khai hoang tôn tạo thêm; Phần đất ông H1 đang sử dụng tại thôn K, P,
huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc cũng một phần của bố mẹ các đã tặng cho một
phần ông H1 khai hoang, tôn tạo thêm; phần đất ông Ngọc H đang sử dụng
được bố mcác tặng cho sau khi xin đất của UBND P cấp cho các hộ đông
nhân khẩu; còn các bà là con gái không được bố mẹ cho tài sản quyền sử dụng
đất mà tặng cho bằng tiền. Tất cả các bà biết và nhất trí về việc tặng cho này.
Nay ông Ngọc H khởi kiện đến Tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của
bố mẹ để lại đối với hai thửa đất nêu trên. Quan điểm của các với cách
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đồng ý với yêu cầu khởi kiện
của ông H bố mẹ các bà đã tặng cho ông Ngọc H2, ông Ngọc H1 như
hiện trạng sử dụng. Tài sản trên đến nay tài sản của vợ chồng ông H2, ông H1,
không còn di sản thừa kế của bố mẹ các để lại nữa; các đề nghị Tòa án
xem xét đến ý chí của bmcác trước khi chết để bác yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, công nhận quyền sử dụng đất của bị đơn. Trong trường hợp Tòa án
buộc phải xác định tài sản trên là di sản thừa kế của bố mcác bà thì đề nghị a
án xác định phần đất ông cha của gia đình các để lại với phần đất ông H2,
ông H1 khai hoang thêm. Và trong trường hợp này, các xin nhận kỷ phần thừa
kế mà các bà được hưởng là đất của ông cha tổ tiên để lại.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ngọc B1 vắng mặt tại phiên
toà, chị Hoàng Thị Lan A trình bày: Vợ chồng anh chị con trai con dâu của
ông Ngọc H2. Năm 2017 anh chị kết hôn, sau khi kết anh chị được ông H2
cho một phần diện tích đất do ông H2 đang quản để xây dựng nhà ở, hiện tại
vợ chồng anh chị đã xây dựng 01 nhà hai tầng trên đất do ông H2 cho, diện tích
đất cho cụ thể bao nhiêu thì chưa đo đạc. Tài sản nhà hai tầng xây trên diện tích
5
đất ông H2 cho của vợ chồng tôi. Đối với căn nhà cấp bốn ông H2 đang sử
dụng thì anh chị không có đóng góp gì đối với tài sản mà ông H2 đang quản lý sử
dụng.
Nay ông H khởi kiện tranh chấp về chia thừa kế đối với phần diện tích đất
cụ G, cụ N2 đã cho ông Ngọc H1, ông Ngọc H2 thì anh chị không
đồng ý ông H2, ông H1 đã được cụ G, cụ N2 cho hai ông tkhi còn sống.
Trường hợp Toà án giải quyết chia thừa kế theo quy định của pháp luật tanh
chị đề nghị Toà án xem xét bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của anh chị đối với tài
sản xây dựng trên diện tích đất được ông H2 cho.
Vi ni dung trên, ti Bản án dân s thẩm s: 54/2025/DS-ST ngày 18
tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ Điều 166, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 616, Điều 618, Điều
620, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 652, Điều 658, Điều 660,
khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự. Điều 144 Điều 147 Bộ luật Tố
tụng dân sự; Điều 27 điểm đ khoản 1 Điều 12 Ngh quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp về chia thừa kế tài
sản” của ông Vũ Ngọc H.
2. Trích một phần trong khối di sản của cụ G, cụ N2 cho ông Vũ Ngọc H2,
ông Vũ Ngọc H1 về công tôn tạo, duy trì, bảo quản di sản bằng 01 suất thừa kế là
196,86m
2
đất (ông H1, ông H2 mỗi ông được hưởng 1/2).
Ghi nhận sự thoả thuận, tự nguyện của các đương sự đối với 200m
2
đất
nông thôn chia cho ông H1, ông H2 mỗi ông được hưởng 100m
2
đất không
phải thanh toán tiền chênh lệch tiền về tài sản và đất ở cho các đương sự khác.
Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự trong vụ án về không đề nghị chia
di sản thừa kế đối với ngôi nhà các cây cối lâm lộc do cụ G cụ N2 để lại, chia
vào phần của ai thì người đó sử dụng.
- Chia cho ông Ngọc H2 được sở hữu, sử dụng 868,0m
2
đất (trong đó
100m
2
đất nông thôn) các tài sản trên đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số
36, thuộc thôn K, H, tỉnh Phú Thọ hiệu S2 từ điểm 1, 2, 3, 3A (giếng),
13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22 và 1 trong đó bao gồm cả diện tích đất và tài
sản trên đất của anh Ngọc B1 (con trai ông H2), đồ các cạnh chi tiết
kèm theo có ký hiệu S2).
- Chia cho ông Ngọc H được sở hữu, sử dụng 130m
2
đất vườn, trên đất
6
05 gian chuồng trại lợp ploximang trị giá 16.950.000đ trên đất tại thửa đất số
34, tờ bản đồ số 36, thuộc thôn K, H, tỉnh Phú Thọ các điểm 25 đến 12 dài
21,76m; điểm 12 đến 12A dài 6,00m; điểm 12A đến 24 dài 21,76m; điểm 24 đến
25 dài 6,00m (có sơ đồ các cạnh chi tiết kèm theo có ký hiệu S1). Diện tích ông H
được hưởng nhỏ hơn diện tích một suất thừa kế được nhận, ông H tự nguyện nhận
không đề nghị các đương sự khác phải thanh toán tiền chênh lệch tiền tài sản
và đất cho ông H. Đối với tài sản 05 gian chuồng trại lợp ploximang trên phần đất
của ông H buộc ông H1 phải tháo dỡ.
- Chia cho ông Ngọc H1 được sở hữu, sử dụng 576,9m
2
đất (trong đó
100m
2
đất nông thôn) các tài sản trên đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số
36, thuộc thôn K, xã H, tỉnh Phú Thọ các điểm từ 3, 4, 5, 6, 7 8, 9, 10, 11, 12, 25,
24, 3A (giếng), 3 (có sơ đồ các cạnh chi tiết kèm theo có ký hiệu S3).
Diện tích phần ông H2 quản sử dụng là 868,0m
2
đối trừ với kỉ phần thừa
kế ông H2 được hưởng 196,86m
2
+ 1/2 suất thừa kế công bảo quản duy trì di sản
thừa kế là 295,29m
2
cho một người. Diện tích thừa là 572,71 m
2
.
Chia cho Đ, B 196,86m
2
đất vườn/1 suất thừa kế x 700.000đ/m
2
=
137.802.000đ. Buộc ông H2 phải thanh toán cho Đ, bà B số tiền 137.802.000đ
tương đương với 01 suất thừa kế mà bà B, bà Đ được hưởng.
Diện tích phần ông H1 quản sử dụng là 706,9m
2
đối trừ với kỉ phần thừa
kế ông H1 được hưởng 196,86m
2
+ 1/2 suất thừa kế công bảo quản duy trì di sản
thừa kế (98,43m
2
) 295,29m
2
; chia cho ông H được sử dụng 130m
2
đất vườn.
Diện tích thừa là 281,61 m
2
.
Buộc ông H1 phải thanh cho bà Y k phần thừa kế là diện tích đất
196,86m
2
đất vườn trị giá thành tiền là 137.802.000đ.
Sau khi chia thừa kế cho B, Y, Đ thì diện tích đất phần ông H2
quản còn 178,99m
2
; phần ông H1 còn 84,75m
2
(bao gồm 66,86m
2
đất của ông
H tự nguyện không nhận), nên buộc ông H1, ông H2 thanh toán cho T1
137.802.000đ (kỷ phần của ông H2 2/3 x 137.802.00= 92.327.000đ (đã làm
tròn số); ông H1 phải thanh toán 1/3 x 137.802.000 = 45.475.000đ (đã làm tròn
số).
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về án phí; quyền yêu cầu thi
hành án và tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 27/11/2025 ông Ngọc H1, ông Ngọc
H2, Thị Đ, bà Thị T1, Thị Y; ngày 28/11/2025 bà Thị Đ1
đơn kháng cáo nội dung không đồng ý với quyết định của Tòa án cấp thẩm.
7
Ông H1, ông H2 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sthẩm của
Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, Đ, T1, Y bà Đ1 đề nghị được chia bằng hiện
vật.
Tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn Ngọc H vẫn giữ nguyên yêu
cầu khởi kiện; phía bị đơn ông Vũ Ngọc H1, ông Vũ Ngọc H2 người liên quan
Thị Đ, Thị T1, bà Thị Y; Thị Đ1 vẫn giữ nguyên yêu cầu
kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định
của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội
đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không
chấp nhận kháng cáo của bị đơn người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2025
của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo ông Ngọc H1, ông Ngọc H2,
Thị Đ, Thị T1, Thị Y, Thị Đ1 trong thời hạn luật định,
hợp lệ được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, giải quyết.
[2]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các đương
sự đến tham dphiên tòa các đương sự đã nhận được văn bản của Tòa án hợp
lệ. Tuy nhiên một số đương sự vắng mặt tại phiên tòa đã ủy quyền cho người
khác tham gia tố tụng, đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc không đến tham dự
phiên tòa. Do vậy Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt họ phù hợp quy định
của pháp luật.
[3]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết và thời hiệu.
- Nguyên đơn Ngọc H cho rằng thửa đất 148 thửa đất 149 thôn K,
H, tỉnh Phú Thọ hiện nay do ông H1 ông H2 (là con của hai cụ) đang trực
tiếp quản lý, sử dụng là tài sản của cụ N2 và cụ G để lại. Trước khi chết cụ N2
cụ G không để lại di chúc định đoạt hai thửa đất này nên khởi kiện đối với ông
H1, ông H2 đề nghị phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng thửa đất số 148
thửa đất 149 theo quy định của pháp luật; quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn là
ông H1, ông H2 người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Đ, B, bà T1,
8
Y, anh B1, bà V, chị N, chị Lan A cho rằng mặc dù thửa đất số 148 và thửa đất
số 149 tài sản nguồn gốc của cụ N2, cụ G nhưng trước khi chết các cụ đã
định đoạt cho ông H1, ông H2 nên không còn di sản thừa kế để phân chia; do vậy
phía ông H1, ông H2, anh B1, V, chị N, chị Lan A không đồng ý phân chia
theo yêu cầu khởi kiện của ông H; phía Đ, B, T1, Y quan điểm
trường hợp thửa đất 148 và thửa đất 149 còn là di sản thừa kế của cụ N2, cụ G đề
nghị được hưởng theo quy định của pháp luật. Bị đơn ông H1, ông H2 tài sản
tranh chấp là các thửa đất có địa chỉ tại thôn K, xã P nay là thôn K, xã H, tỉnh Phú
Thọ; Hiện nay các bên đã không tự giải quyết được nên ông H làm đơn khởi kiện
đề nghị Tòa án giải quyết. vậy, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “chia
tài sản thừa kế” thuộc thẩm quyền giải quyết thẩm của Tòa án nhân dân khu
vực 11 - Phú Thọ phù hợp quy định tại các Điều 26; Điều 35 Điều 39 Bộ
luật Tố tụng dân sự.
- Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Bùi Thị G chết năm 2002; cụ Ngọc N2
chết năm 2020. Di sản thừa kế các đương sự đề nghị phân chia quyền sử dụng
thửa đất số 148 thửa đất số 149; đến ngày 13/6/2024 ông H khởi kiện yêu cầu
chia di sản thừa kế theo pháp luật đối các thửa đất trên. Căn cứ vào quy định tại
Điều 623 Bộ luật Dân sự thì vụ án do ông H khởi kiện chi di sản do cụ N2, cụ G
để lại còn thời hiệu khởi kiện.
[4]. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Ngọc H nội dung kháng cáo của
ông Vũ Ngọc H1, ông Vũ Ngọc H2, bà Vũ Thị Đ, bà Vũ Thị B, Vũ Thị T1, bà
Vũ Thị Y; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
- Về hàng thừa kế: Cụ Bùi Thị G chết năm 2002 cụ Ngọc N2 chết
năm 2020. Cụ N2 cụ G 07 con chung bao gồm: (1) Vũ Thị Đ, (2)
Thị B, (3) Thị T1, (4) ông Ngục H3, (5) ông Ngọc H1, (6) bà
Thị Y, (7) ông Ngọc H. Hiện nay cả 07 con chung của các cụ vẫn còn sống,
ngoài các con chung của cụ N2, cụ G như trên thì các cụ không con riêng,
không nuôi con nuôi hiện nay bố mcủa các cụ đã chết trước khi các cụ chết.
Trước khi chết, cụ G và cụ N2 không để lại di chúc định đoạt tài sản để lại, vì vậy
tài sản của các cụ đlại được phân chia cho ông Ngọc H, ông Ngọc H1,
ông Ngọc H2, Thị Đ, Thị B, Thị Y, Thị T1 theo
quy định của pháp luật phù hợp quy định tại Điều 613; Điều 651 Bộ luật Dân
sự.
Về di sản thừa kế: Nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp theo kết quả
xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/8/2024, tại số thửa 34, tờ bản đồ 36 (bản đồ
299) diện tích 1574.9m
2
, của cụ G, cụ N2 quản sử dụng từ những năm
9
1990. Căn cứ vào bản đồ VN 2000 thể hiện thửa đất số 34 này hiện nay được tách
thành 02 thửa đó là thửa số 148, tbản đồ s30 diện tích 756,2 m
2
hiện nay
do vợ chồng ông Ngọc H2, Nguyễn Thị N đang quản lý, sdụng thửa
số 149, tờ bản đồ số 30 diện tích 799,9m
2
hiện do vợ chồng ông Ngọc H1,
La Thị V đang quản sử dụng. Quá trình sử dụng hai thửa đất này, vợ chồng
ông H2, ông H1 đã xây dựng nhà và các công trình kiên cố trên đất ổn định lâu
dài không tranh chấp với các hộ liền kề, chủ sdụng đất chưa đi khai để
được cấp GCN.
Tòa án cấp thẩm đã xác minh tại UBND P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc
nay H, tỉnh Phú Thọ về sự biến động do diện tích tăng so với diện tích ghi
trong tài liệu quản đất đai tại địa phương phương pháp đo đạc, kỹ thuật đo
đạc qua các thời kỳ sai số, xác định không tranh chấp vmốc giới với các
hộ liền kề cũng như không lấn chiếm. Cụ thể: căn cứ vào bản đồ 299 thể hiện
là thửa đất số 34, tờ bản đồ số 36 thì diện tích thửa đất là 1.400m
2
; căn cứ vào bản
đồ VN B được tách thành hai thửa thửa số 148, tờ bản đồ số 30 diện tích
756,2 m
2
thửa số 149, tờ bản đồ số 30 diện tích 799,9m
2
thì tổng diện tích
của hai thửa 1556,1 m
2
; còn căn cứ vào kết quả đo đạc thực tế khi giải quyết
tranh chấp thì hai thửa đất diện tích 1574,9 m
2
. Quá trình giải quyết vụ án,
các đương sự đề nghị Tòa án căn cứ vào diện tích đất đo đạc thực tế để giải quyết.
Xét thấy, mặc nhiều kết quả khác nhau về diện tích đất đang tranh chấp,
nhưng diện tích đất này các đương sự đã sử dụng ổn định, lâu dài không tranh
chấp với các hộ liền kề, người sử dụng đất không lấn chiếm đất công Nhà nước
quản lý. Tòa án cấp thẩm chấp nhận đề nghị của các đương sự căn cứ vào
diện tích đất đo đạc thực tế để giải quyết là phù hợp.
Tài liệu có trong hồ vụ án đã được các đương sự thừa nhận diện tích đất
đang tranh chấp có nguồn gốc do cụ N2, cụ G để lại phía ông H là nguyên đơn đề
nghị phân chia với do trước khi chết các cụ chưa định đoạt tài sản này; còn
phía bị đơn là ông H1, ông H2 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Đ,
B, T1, Y, anh B1, V, chị N, chị Lan A cho rằng mặc dù là thửa đất
nguồn gốc của cụ N2, cụ G nhưng trước khi chết các cụ đã định đoạt cho ông H1,
ông H2 nên không còn di sản thừa kế để phân chia nhưng không tài liệu, căn
cứ nào chứng minh việc trước khi chết các cụ đã tặng cho tài sản này đối với ông
H1, ông H2. Căn cứ vào tài liệu quản đất đai tại địa phương thửa đất đang
tranh chấp là thửa số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ 299) nay tách ra hai thửa đó là thửa
đất số 148, tờ bản đồ số 30 (BĐ VN 2000) do gia đình ông Ngọc H2 đang
quản lý, sử dụng thửa đất số 149 tờ bản đồ số 30 (BĐ VN 2000) do gia đình
10
ông Vũ Ngọc H1 đang quản lý, sử dụng. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm
do thời điểm thửa đất số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ 299) được tách thành
thửa đất số 148 thửa đất s149, tờ bản đồ số 30 (BĐ VN 2000) như trên. Tại
Biên bản làm việc ngày 03/6/2026 giữa Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ với UBND
H (là quan kế thừa quyền, nghĩa vụ của UBND P) thể hiện nội dung:
Căn cứ vào sổ mục kê được sao lưu năm 2010 thể hiện tại trang số 97, quyển số 3
ghi thửa đất số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ 299) không quy chủ sử dụng đất. Qua
đối soát giữa bản đồ 299 và hiện trạng sử dụng đất xác định vị trí thửa đất này do
cụ N2 cụ G (bố mẹ ông H, ông H1, ông H2..) trực tiếp quản lý, sử dụng; căn
cứ vào sổ mục kê không ghi ngày, tháng, năm hiện đang lưu trữ tại địa phương
thể hiện tại trang số 127, quyển số 2, qua đối soát giữa bản đồ 299 bản đồ địa
chính VN B thì vị trí thửa đất số 34, tờ bản đồ 36 (BĐ 299) nay là thửa số 148 và
thửa số 149, tờ bản đồ số 30 (BĐ VN 2000) thể hiện: Thửa số 148, tờ bản đồ 30,
diện tích 756,2m
2
, quy chủ tên người sử dụng, quản hộ ông Ngọc H2;
thửa số 149, tờ bản đồ 30, diện tích 799,9m
2
, quy chủ tên người sử dụng, quản
hộ ông Ngọc H1. Việc thiết lập bản đồ địa chính VN B trên địa bàn huyện
S (trong đó thôn K Bộ) khoảng năm 2017; việc đo đạc đo theo thực tế hiện
trạng sử dụng đất, dưới sự chỉ dẫn của người sử dụng đất, cán bộ đo đạc và đơn vị
vấn. Căn cứ vào tài liệu do Tòa án cấp phúc thẩm thu thập, đủ sở xác
định thời điểm thửa đất số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ 299) có nguồn gốc của cụ N2
và cụ G được tách thành hai thửa là thửa số 148, tờ bản đồ 30 (BĐ VN 2000) quy
chủ sử dụng hộ ông Ngọc H2 thửa s149, tbản đồ số 30 (BĐVN 2000)
quy chủ sử dụng hộ ông Ngọc H1 là vào năm 2017 khi nhà nước thiết lập bản
đồ VN 2000 trên địa bàn huyện S; việc thiết lập bản đồ này là đo theo thực tế hiện
trạng, dưới sự sự chỉ dẫn của người sử dụng đất. Căn cứ vào tài liệu quản đất
đai tại địa phương đủ căn cứ xác định mặc các thửa đất số 148 thửa đất
số 149 (BĐ VN 2000) được quy chủ sdụng đất hộ ông Ngọc H2 hộ ông
Vũ Ngọc H1 nhưng chưa có cơ sở xác định các thửa đất này đã được cụ N2, cụ G
đã định đoạt cho ông H2, ông H1 nên vẫn di sản do cụ N2, cụ G để lại chưa
được phân chia. Trước khi chết cụ N2 cụ G không để lại di chúc định đoạt tài
sản này, nay ông Vũ Ngọc H là nguyên đơn khởi kiện đề nghị phân chia theo quy
định của pháp luật là có cơ sở.
Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đủ sở xác định di sản
do cụ N2, cụ G để lại diện tích đất 1574.9m
2
(trong đó 200m
2
đất thổ
1374.9m
2
đất trồng cây lâu năm). Kết quả định giá tài sản xác định giá trị đất thổ
2.500.000đ/m
2
, giá trị đất trồng cây lâu năm là 700.000đ/1m
2
. Do đó tổng
11
giá trị tài sản là quyền sử dụng đất có trị giá 1.462.430.000đ.
Về tài sản trên đất hiện nay: Quá trình chung sống, cụ N2 và cụ G xây dựng
được một căn nhà cấp bốn 05 gian, 01 gian nhà ngang từ năm 1989, sửa chữa
năm 2015 (hiện nay do ông Ngọc H1 quản lý sử dụng) trị giá
32.096.700đ; 01 sân gạch lát nền gạch men (sân gạch trước nhà) trị giá
10.140.000đ; 01 vảy mái tôn dọc theo nhà bếp diện tích 32m
2
trị giá
6.400.000đ; 01 nhà bếp ba gian xây dựng năm 1994 (sửa chữa lại năm 2015)
diện tích 32,5m
2
trị giá 10.231.000đ; 01 nhà tắm + nhà vệ sinh diện tích 13m
2
trị
giá 6.500.000đ; 01 giếng khơi trị giá 9.043.200đ; sân lát nền giếng trị giá
780.000đ; 01 lối cổng đổ tông diện tích 66,0m
2
trị giá 6.652.800đ; cổng
(gồm 2 trụ cổng trị giá 1.761.750đ; móng trụ cổng trị giá 356.250đ; 02 cánh cổng
sắt trị giá 3.252.000đ); tường rào gạch xi không trát trị giá 4.403.169đ; móng bờ
rào trị giá 548.983đ; 05 gian chuồng trại mái lợp ploximăng trị giá 16.950.000đ .
Các cây cối lâm mộc trên đất gồm: cây t; cây Na; cây Ổ; 01 cây Muỗm,
kéo, xoài; cây Cau; cây Chanh; cây N4; cây thừng mực (gỗ tạp).
Toàn bộ các tài sản trên hiện nay do ông Ngọc H1 đang trực tiếp quản
lý sử dụng có tổng trị giá là 62.907.700đ.
Các tài sản cây cối lâm mộc do ông Ngọc H2 đang trực tiếp quản
sử dụng gồm: 01 ncấp 4 năm gian xây dựng năm 1994 sửa chữa năm 2017
diện tích 69m
2
trị giá 68.199.600đ; 01 nhà bếp cấp 4 xây dựng năm 1994 trị giá
12.119.800đ; 01 sân t gạch trước nhà diện ch 66m
2
trị giá 7.920.000đ; 01
lán tôn trước ntrị g2.000.000đ; 01 nhà bếp xây dựng năm 1994 sửa năm
2017 trị giá 12.119.800đ; 01 nhà tắm + vệ sinh trị giá 4.500.000đ; 01 lối cổng đổ
tông trị giá 4.284.000đ; 02 trụ cổng trị giá 1.761.750đ; móng cổng bờ 02
cảnh cổng bằng sắt hộp trị giá 3.252.000đ; 01 tường rào xay gạch không trát trị
giá 7.186.193đ; 01 giếng đào trị giá 9.43.200đ; 01 khu vực lán che lợp ploximang
trị giá 4.800.000đ; 01 giếng khoan trị giá 4.300.000đ;
c cây cối lâm mộc trên đất gồm: cây Ổi; cây Sấu; cây B3; cây lấy
gỗ…Tổng các tài sản do ông Vũ Ngọc H2 quản lý sử dụng là: 92.619.400đ
Tài sản do anh Huy B4 (con trai ông H2) quản gồm: 01 nhà hai tầng
đang xây dựng năm 2024 (tại thời điểm xem xét thẩm định đang hoàn thiện) trị
giá 788.049.000đ; 01 đoạn tường + móng tường rào trị giá 7.033.757đ; 01 giếng
đào trị giá 6.280.000đ.
Các cây cối lâm mộc trên phần đất do anh Huy B4 quản gồm: cây
Mít; cây lấy gỗ …Tổng các tài sản do anh Vũ Huy B4 quản sử dụng là:
790.449.000đ
12
Hiện nay, nguyên đơn, bị đơn những người liên quan không yêu cầu
chia tài sản trên đất; còn phía ông H1, ông H2, Đ, B, T1, Y không
đồng ý yêu cầu khởi kiện nên không đồng ý phân chia còn trường hợp được chia
thì đều đề nghị nhận bằng đất. Sau khi cụ G, cụ N2 mất, ông H1, ông H2 đã ở cải
tạo lại ngôi nhà cấp 4 để ở, trông coi, duy trì tài sản nên một phần giá trị ngôi nhà
di sản thừa kế của cụ G, cụ N2 được tính công sức cho ông H1, ông H2.
vậy ông H1, ông H2 không phải thanh toán một phần giá trị nhà cho các đồng
thừa kế.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông H1, ông H2, Đ, B, T1, Y
đều không đồng ý chia thừa kế, yêu cầu giữ nguyên hiện trạng diện tích đất trên
khi còn sống các cụ đã phân chia cho ông H1, ông H2. Nếu có chia di sản thì ông
H1, ông H2, bà Đ, B, T1, Y đều xin nhận phần đất ông H1, ông H2,
Đ, B, T1, Y được hưởng. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét nên giao
phần diện tích đất tài sản để lại của cụ G, cụ N2 cho ông H1, ông H2, ông H
quản sử dụng để ông H1, ông H2 trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho các
đồng thừa kế của G, cụ N2 là phù hợp.
Về nội dung các đồng thừa kế của G và cụ N2: Tại phiên toà ngày
30/9/2025, bị đơn đề nghị Toà án thu thập về công đổ đất, tôn tạo tài sản tính
công sức cho các bị đơn (không đề nghị Toà án phải đi thu thập về việc mua đất,
người đổ đất sàn nền) đại diện Viện kiểm sát yêu cầu Toà án lấy lời khai của
ông Nguyễn Văn L chứng kiến việc họp gia đình về việc cho ông H đất.
Toà án đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Văn L về nội dung trên. Ông
L xác nhận có cuộc họp và gia đình có bàn cho ông H đất nhưng sau đó ông H bỏ
về nên cuộc họp không thành.
Tại phiên toà sơ thẩm các đương sự cũng thừa nhận có việc họp gia đình và
xác định cho ông H 100m
2
đất nhưng sau đó ông H, P thay đổi, đòi diện
tích đất nhiều hơn không đồng ý lấy 100m
2
đất nữa nên các ông thay đổi
quan điểm không cho nữa; còn tại phiên tòa phúc thẩm phía ông H1, ông H2
người bảo vệ quyền lợi cho ông H1, ông H2 thừa nhận việc họp gia đình
nhưng không nội dung thống nhất cho ông H đất như phiên tòa thẩm dẫn
đến ông H khởi kiện yêu cầu chia thừa kế.
Từ những phân tích, nhận định trên; Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Tòa án cấp thẩm xác định di sản thừa kế do cụ N2, cụ G để lại diện tích đất
như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ 1574.9m
2
(trong đó 200m
2
đất
1374.9m
2
đất vườn) đã phân chia di sản này theo pháp luật cho hàng thừa kế
thứ nhất theo cụ G, cụ N2 gồm 7 người ông (1) Ngọc H, (2) ông Ngọc
13
H1, (3) ông Ngọc H2, (4) bà Thị Đ, (5) Thị B, (6) Thị Y, (7)
Thị T1 01 suất công duy tbảo quản di sản. Như sau: 1.574,9m
2
/08
xuất (07 xuất thừa kế và 01 xuất công duy trì bảo quản tài sản) = 196,86m
2
căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy, kháng cáo của ông Vũ Ngọc H1,
ông Ngọc H2, Thị Đ, Thị B, Thị T1 Thị Y với
nội dung: Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ 299) nay thửa đất số 148
thửa số 149 (BĐ VN 2000) tài sản do cụ N2, cụ G để lại đã được cho ông H1,
ông H2 nên không còn là di sản để phân chia không có căn cứ nên không được
chấp nhận.
[5]. Về nội dung kháng cáo của bà Thị T1, Thị Đ, Thị B
Thị Y là trường hợp nếu còn di sản để phân chia đề nghị hưởng bằng
hiện vật; Hội đồng xét xử thấy rằng: Vũ Thị T1, bà Vũ Thị Đ, Vũ Thị B
Thị Y hiện nay đều đã đất, nhà ở ổn định và không nhu cầu cấp thiết
về chỗ ở; diện tích đất di sản thừa kế hiện nay ông H1, ông H2 người đang
quản lý, sử dụng đã xây dựng kín các công trình kiên cố trên đất khi xây dựng
mọi người đều không có ý kiến gì. Mặt khác, quá trình giải quyết vụ án các đồng
thừa kế là Thị T1, bà Vũ Thị Đ, bà Vũ Thị B, Vũ Thị Y đều quan
điểm cụ G, cụ N2 đã cho đất ông H1, ông H2. Do vậy diện tích đất kỷ phần
các đồng thừa kế T1, Đ, bà B, Y được hưởng giao cho ông H2, ông
H1 quản lý, sử dụng, trên đất các công trình do ông H1, ông H2 xây dựng thì
giao cho ông H2, ông H1 sử dụng theo đúng ranh giới hiện trạng; phía ông H2,
ông H1 trách nhiệm thanh toán giá trị bằng tiền cho T1, Đ, B, Y
mỗi kỷ phần thừa kế diện tích đất 196,86m
2
đất vườn x 700.000đ/m
2
trị giá
thành tiền là 137.802.000đ như Tòa án cấp sơ thẩm quyết định là phù hợp.
Hiện nay phần diện tích đất do ông H1, ông H2 đang quản lý, sử dụng hầu
như đã được xây dựng các công trình trên đất. Hiện chỉ còn khoảng đất được gia
đình ông H1 xây dựng chuồng trại lợp Broximang vào vị trí mà trước đây họp gia
đình cắt đất cho ông H nhưng sau đó lại không thỏa thuận được. Tòa án cấp
thẩm căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất của ông H1, ông H2 chia phần thừa kế
ông H được hưởng vào vị trí này là phù hợp. Căn cứ vào quy định của pháp luật
khi chia di sản thừa kế của cụ N2, cụ G để lại thì ông H được hưởng phần thừa kế
196,86m
2
, tuy nhiên các công trình ông H1, ông H2 đã xây dựng kín nếu
chia cho ông H đủ diện tích 196,86m
2
thì chồng lấn vào các công trình xây dựng
phải phá dỡ, gây lãng phí nên ông H chỉ đề nghị được hưởng 130m
2
và không yêu
cầu thanh toán chênh lệch. Xét thấy yêu cầu này của ông H hoàn toàn tự
nguyện, không trái quy định của pháp luật được Tòa án cấp thẩm chấp nhận
14
có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.
Tòa án cấp thẩm đã căn cứ vào thực tế hiện trạng sử dụng đất các
công trình do ông H1, ông H2 đã xây dựng trên đất để quyết định: Chia cho ông
Vũ Ngọc H2 được sở hữu, sử dụng 868,0m
2
đất (trong đó có 100m
2
đất
768,0m
2
đất vườn) các tài sản trên đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ
299) nay thửa số 148, tờ bản đồ 30 (BĐ VN2000) tại thôn K, H, huyện S,
tỉnh Vĩnh Phúc naythôn K, xã H, tỉnh Phú Thọ; chia cho ông Vũ Ngọc H được
sở hữu, sử dụng 130m
2
đất vườn tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ 299) nay
thửa 149, tờ bản đồ 30 (BĐ VN2000) thuộc thôn K, H, huyện S, tỉnh Vĩnh
Phúc nay thôn K, H, tỉnh Phú Thọ; chia cho ông Ngọc H1 được sở hu,
sử dụng 576,9m
2
(trong đó 100m
2
đất 476,9m
2
đất vườn) các tài sản trên
đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 36 nay thửa 149, tờ bản đồ 30 (BĐ
VN2000) thuộc thôn K, H, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc nay thôn K, H, tỉnh
Phú Thọ là có cơ sở, phù hợp.
[6.] Xét ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị không chấp nhận
kháng cáo là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về đchi tiết kèm theo bản án thẩm: Căn cứ vào đồ chi tiết
kèm theo bản án thẩm thì giữa phần đất chia cho ông Ngọc H với đất giao
cho ông Vũ Ngọc H2 khoảng trống chiều rộng 0,85m, chiều dài chạy hết phần
đất giao cho ông H Tòa án cấp thẩm chưa quyết định giao cho ai lại vị trí
nằm trên phần đất do ông H1 quản lý, sử dụng nên giao cho ông H1 là phù hợp.
Tuy nhiên nếu giữ nguyên sơ đồ hiện trạng thì diện tích đất này ông H1 không thể
sử dụng được, vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chuyển dịch vị trí phần đất cho
ông H giáp đất giao cho ông H2 để ông H1 được sử dụng phần đất này cho thuận
tiện là phù hợp.
- Về diện tích 130m
2
đất trồng cây lâu năm giao cho ông H; Hội đồng xét
xử thấy rằng: Theo quy định của UBND tỉnh P về diện tích tối thiếu của đất trồng
cây lâu năm 200m
2
mới thực hiện việc cấp GCN. Tuy nhiên, diện tích 130m
2
đất trồng cây lâu năm này là di sản thừa kế do cụ N2, cụ G được chia cho ông H
đủ điều kiện cấp GCN vì cùng thửa, gắn liền với đất ở nông thôn, có đủ điều kiện
chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng cây lâu năm sang đất ở nông thôn, phù hợp
quy hoạch đất nông thôn. Do vậy, khi được phân chia gia đình ông H phải
nghĩa vụ chuyển đổi mục đích sử dụng đất thực hiện nghĩa vtheo quy định
của pháp luật.
[8]. Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên các
đương sự phải chịu án phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Thị Đ,
15
Vũ Thị B, bà Vũ Thị T1 và ông Vũ Ngọc H1 được miễn án phí; còn ông Vũ Ngọc
H2 và bà Vũ Thị Y phải chịu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngọc H1, ông Ngọc H2,
Thị Đ, Thị T1, Thị Y; Thị Đ1; giữ nguyên Bản án dân sự
sơ thẩm số: 54/2025/DS-ST ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 11 – Phú Thọ.
Căn cứ Điều 166, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 616, Điều 618, Điều
620, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 652, Điều 658, Điều 660,
khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 144 và Điều 147
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp về chia thừa kế tài
sản” của ông Vũ Ngọc H.
2. Trích một phần trong khối di sản của cụ G, cụ N2 cho ông Vũ Ngọc H2,
ông Vũ Ngọc H1 về công tôn tạo, duy trì, bảo quản di sản bằng 01 suất thừa kế
196,86m
2
đất (ông H1, ông H2 mỗi ông được hưởng 1/2).
Ghi nhận sự thoả thuận, tự nguyện của các đương sự đối với 200m
2
đất
nông thôn chia cho ông H1, ông H2 mỗi ông được hưởng 100m
2
đất không
phải thanh toán tiền chênh lệch tiền về tài sản và đất ở cho các đương sự khác.
Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự trong vụ án về không đề nghị chia
di sản thừa kế đối với ngôi nhà các cây cối lâm lộc do cụ G cụ N2 để lại, chia
vào phần của ai thì người đó sử dụng.
- Chia cho ông Ngọc H2 được sử dụng 868,0m
2
đất (trong đó 100m
2
đất nông thôn 768m
2
đất trồng cây lâu năm) các tài sản trên đất tại thửa
đất số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ 299) nay thửa đất số 148, tờ bản đồ 30 (BĐ
VN2000), thuộc thôn K, H, tỉnh Phú Thọ được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3,
3A (giếng), 24, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 1 trong đó bao gồm cả
diện tích đất tài sản trên đất của anh Ngọc B1 con trai ông H2 (có sơ đồ
các cạnh chi tiết kèm theo có ký hiệu S2)
- Chia cho ông Ngọc H được sở hữu, sử dụng 130m
2
đất trồng cây lâu
16
năm, trên đất 05 gian chuồng trại lợp ploximang trị giá 16.950.000đ tại thửa
đất số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ 299) nay thửa đất số 149, tờ bản đồ 30 (BĐ
VN2000), thuộc thôn K, xã H, tỉnh Phú Thọ được giới hạn bởi các điểm 12A, 13,
24, 25, 12A (có sơ đồ các cạnh chi tiết kèm theo có ký hiệu S1).
Buộc gia đình ông Ngọc H1 phải tháo dỡ các tài sản trên đất 05 gian
chuồng trại lợp ploximang trên phần đất các tài sản khác (nếu có) để trả đất
cho ông Ngọc H. Trường hợp ông Ngọc H1 không tự nguyện tháo dtài
sản trên đất để trả đất cho ông H thì bị cưỡng chế, phá dỡ theo quy định của pháp
luật. Mọi chi phí phát sinh từ việc cưỡng chế, phá dỡ này gia đình ông Ngọc
H1 phải chịu.
- Chia cho ông Ngọc H1 được sở hữu, sử dụng 576,9m
2
đất (trong đó
100m
2
đất nông thôn 476,9m
2
đất trồng cây lâu năm) các tài sản trên
đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 36 (BĐ 299) nay là thửa đất số 149, tờ bản đồ
30 (BĐ VN2000), thuộc thôn K, xã H, tỉnh Phú Thọ được giới hạn các điểm 3, 4,
5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 12A, 25, 24, 3A (giếng), 3 (có sơ đồ các cạnh chi tiết kèm
theo có ký hiệu S3).
Chia cho Đ, B 196,86m
2
đất vườn/1 suất thừa kế x 700.000đ/m
2
=
137.802.000đ. Buộc ông Ngọc H2 phải thanh toán cho Đ, B mỗi người
số tiền 137.802.000đ tương đương với 01 suất thừa kế B, Đ được
hưởng.
Buộc ông Vũ Ngọc H1 phải thanh cho bà Vũ Thị Y kỷ phần thừa kế là diện
tích đất 196,86m
2
đất vườn trị giá thành tiền là 137.802.000đ.
Sau khi chia thừa kế cho B, Y, Đ thì diện tích đất phần ông H2
quản còn 178,99m
2
; phần ông H1 còn 84,75m
2
(bao gồm 66,86m
2
đất của ông
H tự nguyện không nhận), nên buộc ông H1, ông H2 thanh toán cho bà T1 số tiền
137.802.000đ (trong đó kỷ phần của ông H2 2/3 x 137.802.000đ = 92.327.000đ
(đã làm tròn số); phần của ông H1 phải thanh toán 1/3 x 137.802.000 =
45.475.000đ (đã làm tròn số).
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Thị Đ, Thị B, Thị T1
ông Ngọc H1 được miễn án phí; Ông Ngọc H2 và Thị Y mỗi
người phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận ông Ngọc H2
đã nộp đủ số tiền 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm theo phiếu thu số 0006840
ngày 17/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ; bà Vũ Thị Y đã nộp đủ số
tiền 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm theo phiếu thu số 0006707 ngày
15/12/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ (do ông Vũ Ngọc H2 nộp thay).
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
17
2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tnguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9
Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của Bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
có hiệu lực pháp luật k t ngày hết thi hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 11 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 10 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Nguyễn Duy Sơn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 165/2026/DS-PT Bản án số 165/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 165/2026/DS-PT Bản án số 165/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất