Bản án số 594/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 594/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 594/2026/DS-PT ngày 16/06/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 594/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế do cha mẹ chết không để lại di chúc
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 594/2026/DS-PT Bản án số 594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 594/2026/DS-PT Bản án số 594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Bản án số: 594/2026/DS-PT
Ngày: 16/6/2026
V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Tuyết Mai.
Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Thủy. .
Bà Võ Bích Hải.
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Ngọt Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Bà Dương Thanh Giềng- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2026 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 568/2026/TLPT-DS ngày 01 tháng 4 năm
2026 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số
137/2025/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 -
Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 640/2026/QĐ-PT ngày
15 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Đặng Th T, sinh năm: 1953, Căn cước công dân:
************ cấp ngày 01/5/2021.
Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Hồ Thị Thu T1, sinh năm:
1981, Căn cước công dân: ************ cấp ngày 29/12/2022.
Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ. Hợp đồng ủy quyền số công
chứng: 597, ngày 03/4/2023 tại Văn phòng C.
2. Bị đơn: Ông Đặng Văn H, sinh năm: 1963, Căn cước công dân:
************ cấp ngày 12/8/2021.
Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm:
1972, Căn cước công dân: ************ cấp ngày 02/01/2023.
Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ. Hợp đồng ủy quyền số
2
công chứng: 2533, ngày 22/12/2023 tại Văn phòng C.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Đặng Thị B, sinh năm: 1966, Căn cước công dân: ************,
cấp ngày 25/10/2022.
3.2. Bà Đặng Thị Đ, sinh năm: 1970, Căn cước công dân: ************,
cấp ngày 01/5/2021.
Cùng địa chỉ: khu vực P, phường T, thành phố Cần T.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Hồ Thị Thu T1, sinh năm:
1981, Căn cước công dân: ************ cấp ngày 29/12/2022.
Địa chỉ: khu V, phường T, thành phố Cần Thơ. Hợp đồng ủy quyền số
công chứng: 597, ngày 03/4/2023 tại Văn phòng C.
3.3. Ông Đặng Văn L, sinh năm: 1961, Căn cước công n
************.
3.4. Ông Trương Văn G.
Cùng địa chỉ: khu vực P, phường T, thành phố Cần T.
Người kháng cáo: Bị đơn Đặng Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 06/6/2023 qua các bản tự khai, biên bản hòa
giải, nguyên đơn bà Đặng Thị T, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Đặng Thị B, Đặng Thị Đ thống nhất trình bày: Ông Đặng Văn L1 (sinh năm
1924, chết năm 1997) Phạm Thị T3 (sinh năm 1923, chết năm 2005)
chung sống với nhau có 05 người con gồm: Đặng Thị T, Đặng Văn L, Đặng Văn
H, Đặng Thị B, Đặng Thị Đ. Ngoài ra, không có người con chung, con riêng nào
khác. Ông L1 và T3 chết không để lại di chúc. Di sản thừa kế ông L1
T3 để lại gồm Thửa đất số 77, diện tích theo giấy chứng nhận 877m
2
, loại
đất LNK. Diện tích qua đo đạc thực tế là 1041,6m
2
, loại đất CLN và Thửa đất số
582, diện tích còn lại 3240m
2
. Các thửa đất trên thuộc tờ bản đồ số 8, tọa lạc
ấp P, T, huyện T, tỉnh Cần Thơ nay khu vực P, phường T, thành phố Cần
Thơ, do hộ ông Đặng Văn L1 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
000347 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10/7/1998. Ngoài hai thửa đất
trên, nguyên đơn còn cung cấp thêm thông tin cho rằng ông Đặng Văn L1
đứng tên sổ mục kê thửa đất số 578, diện tích 3560m
2
, loại đất LUC nhưng trong
sổ mục ghi nhầm thành tên Đặng Văn L2”. Diện tích qua đo đạc thực tế
3404,2m
2
, thửa đất này năm 2010 các nguyên đơn chưa khởi kiện yêu cầu giải
quyết do hết thời hiệu khởi kiện. Trước đây, vào năm 2010 các đương sự đã
khởi kiện tranh chấp chia di sản thừa kế tại Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt.
Theo bản án dân sự thẩm số 13/2013/DS-ST ngày 26/9/2013 Tòa án đã giải
3
quyết chia 50% di sản, còn lại 50% di sản tạm giao cho các đương sự tiếp tục sử
dụng do hết thời hiệu chia thừa kế 10 năm theo quy định của Bộ luật dân sự
2005. Sau đó, do Bộ luật dân sự 2015 quy định mới, thời hiệu chia thừa kế
30 năm nên nay các nguyên đơn tiếp tục khởi kiện để yêu cầu chia 50% di sản
còn lại bản án trước đây chưa chia. Cụ thể, nay bà Đặng Thị T, Đặng Thị B,
Đặng Thị Đ yêu cầu chia thửa 77, 578 582 thành 05 kỹ phần bằng nhau, mỗi
người nhận 01 kỹ phần bằng hiện vật. Đối với căn nhà phthờ trên thửa 77,
T, B, Đ không yêu cầu chia đồng ý giao cho ông Đặng Văn H tiếp tục
quản lý sử dụng.
- Bị đơn ông Đặng Văn H người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn
Văn T2 trình bày: Về hàng thừa kế di sản thừa kế, bị đơn thống nhất như
nguyên đơn trình bày, ông L1 T3 chết không để lại di chúc. Ông Đặng
Văn H không đồng ý chia di sản thừa kế theo yêu cầu của nguyên đơn, đồng thời
đơn phản tố cho rằng thửa đất số 77 582 đã được giải quyết xong bằng
Bản án dân sự thẩm số 13/2013/DS-ST ngày 26/9/2013 của Tòa án nhân dân
quận Thốt Nốt, trong đó Tòa án đã tuyên xbác yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn đối với thửa 77. Nay nếu có chia thửa 77 và phần còn lại của thửa 582 thì bị
đơn yêu cầu tính công sức bồi đắp, tôn tạo làm tăng giá trị đất của ông H, tương
đương 01 kỹ phần. Đối với thửa 578 bị đơn thống nhất xác định ông Đặng Văn
L2 đứng tên sổ mục kê thửa 578 chính ông Đặng Văn L1. Do smục ghi
nhầm tên ông L1 thành ông L2. Bị đơn không đồng ý chia thửa 578 bởi vì nguồn
gốc đất của ông L1, T3 đã cho ông H sử dụng từ khoảng năm 1980, trên
thực tế hiện trạng thửa đất 578 do ông H đang sử dụng, quá trình sử dụng thì
ông H đi đăng ký khai cấp giấy tuy nhiên Ủy ban nhân dân quận T lại cấp
giấy sai vị trí thửa đất, cụ thể thừa 578 ông H đang sdụng lại cấp thành thửa
576 giấy chứng nhận quyền sdụng đất số CQ00115 cấp ngày 29/4/2010. Trên
thực tế thửa 576 là do ông L đang sử dụng. Nếu xác định thửa 578 là di sản thừa
kế thì ông H được cấp giấy nhưng lại không đất trong khi ông H đã sử dụng
thửa 578 cách nay trên 40 năm. Ngoài ra, bị đơn yêu cầu Tòa án xác định thêm
thửa 577 là di sản thừa kế của ông L1, bà T3. Thửa 577 này do ông Đặng Văn L
đứng tên trên giấy nhưng thực tế đất do T đang sử dụng. Tuy nhiên, ngày
27/8/2025 bị đơn có đơn yêu cầu rút lại đối với phần yêu cầu phản tố này để giải
quyết thành một vụ kiện khác.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn L trình bày: Ông
L đồng ý chia di sản thừa kế của cha mẹ là Đặng Văn L1, Phạm Thị T3 để lại tại
thửa 77, 578 582 nnguyên đơn yêu cầu. Cha mẹ chết không để lại di chúc
nên ông yêu cầu được nhận 01 kỹ phần theo quy định pháp luật. Về việc bị đơn
4
cho rằng đất bị cấp sai vị trí: Thửa 576 là của ông L đang sử dụng nhưng lại do
ông H đứng tên trên giấy chứng nhận, thửa 577 do ông L đứng tên nhưng thực
tế lại do Đ đang sử dụng. Thửa 578 cha mẹ đã cho ông H sử dụng tkhoảng
năm 1980 cho đến nay, ông H khai bị cấp nhầm thành thửa 576, còn thửa
578 thì vẫn do cha đứng tên trong sổ mục kê.
- Đối với người quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn G:
Theo bị đơn trình bày thì ông H đang cho ông G thuê thửa đất s578 582
canh tác từ năm 2014 đến nay. Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng ông G không
có mặt tại Tòa để trình bày ý kiến.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên Toà án nhân dân khu vực 4 -
Cần Thơ đưa vụ án ra xét xử, tại bản án thẩm số: 137/2025/DS-ST ngày 31
tháng 10 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ đã tuyên như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không chấp nhận yêu cầu
phản tố của bị đơn.
1. Chia di sản thừa kế của ông Đặng Văn L1 Phạm Thị T3 bao
gồm các thửa đất số 77, 582 do hộ ông Đặng Văn L1 đứng tên, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 000347 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp
ngày 10/7/1998 thửa 578 do ông Đặng Văn L2 (Đặng Văn L1) đứng tên sổ
mục kê. Các thửa đất trên thuộc tờ bản đồ số 8, tọa lạc ấp P, xã T, huyện T, tỉnh
Cần Thơ nay là khu vực P, phường T, thành phố Cần T cụ thể như sau:
- Ông Đặng Văn H được chia diện tích đất 671,3m
2
đất CLN tại thửa 77 (vị
trí ký hiệu A) và 3.404,2m
2
đất LUC tại thửa 578.
- Đặng Thị T Đặng Thị B được chia chung diện tích đất 370,3m
2
đất CLN tại thửa 77 (vị trí hiệu B) và 2160m
2
đất BHK tại thửa 582 (ký hiệu
là 582
1
).
- Đặng Thị Đ được chia diện tích đất 1080m
2
đất BHK tại thửa 582
(chia chung với T, B trong tổng diện tích 3.240m
2
hiệu thửa
582
1
).
Đối với các tài sản gắn liền trên phần đất của ai được chia thì người đó
quyền sở hữu.
Buộc ông Đặng Văn H phải trách nhiệm giao cho Đặng Thị T, Đặng
Thị BĐặng Thị Đ diện tích đất 3.240m
2
tại thửa 582 (ký hiệu là 582
1
).
Vị trí, kích thước, diện tích đất cụ thể của các thửa đất nêu trên được xác
định căn cứ theo Bản trích đo địa chính số 750/VPĐKĐĐ Bản trích đo địa
chính số 751/VPĐKĐĐ do Văn phòng đăng đất đai Sở Tài nguyên Môi
trường thành phố C lập ngày 19/9/2024 (đính kèm).
5
2. Buộc ông Đặng Văn H phải trách nhiệm trả giá trị đất cho Đặng
Thị T Đặng Thị B stiền 217.608.000 đồng (Hai trăm mười bảy triệu, sáu
trăm lẻ tám ngàn đồng); trả cho Đặng Thị Đ số tiền 182.864.000 đồng (Một
trăm tám mươi hai triệu, tám trăm sáu ơi bốn ngàn đồng); trả cho ông Đặng
Văn L số tiền 614.864.000 đồng (Sáu trăm mười bốn triệu, tám trăm sáu mươi
bốn ngàn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, trường hợp ông Đặng Văn H chậm trả đối với số tiền trên thì
ông H phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền thời gian chậm
trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự 2015.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về yêu cầu chia di
sản thừa kế tại thửa 577 do bị đơn rút lại yêu cầu phản tố.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi pthẩm định quyền kháng
cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án thẩm, bị đơn đơn kháng cáo đối với bản án
sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía nguyên đơn, T Đ yêu cầu nhận các thửa đất tại các vị tcụ
thể như sau:
Công nhận cho Đ phần đất tại các vị trí D I theo đồ đo đạc hiện
trạng thửa đất số 327/VPDK DV ngày 10/6/2026 của Văn phòng đăng đất
đai thành phố C.
Công nhận cho B phần đất tại các vị trí E J theo đồ đo đạc hiện
trạng thửa đất số 327/VPDK DV ngày 10/6/2026 của Văn phòng đăng đất
đai thành phố C.
Công nhận cho T phần đất tại các vị trí F K theo đồ đo đạc hiện
trạng thửa đất số 327/VPDK DV ngày 10/6/2026 của Văn phòng đăng đất
đai thành phố C.
Phía bị đơn yêu cầu được nhận hiện vật sẽ trả giá trị kỷ phần thừa kế.
- Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:
Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Hội đồng xét xử
đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ đến
khi xét xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng
các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng. Đơn
kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem hợp lệ về mặt hình
thức.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ cũng
6
như lời khai tại phiên tòa của các đương sự cho thấy cấp sơ thẩm đã xem xét đầy
Nhận thấy cả cụ L1 và cụ T3 chết không để lại di chúc. Các đương sự đều thống
nhất trình bày cụ L1 cụ T3 05 người con gồm Đặng Thị T, ông Đặng
Văn L, ông Đặng Văn H, bà Đặng Thị B, bà Đặng Thị Đ; do đó nguyên đơn yêu
cầu chia di sản thừa kế thành 05 kỷ phần sở chấp nhận. Tài sản thừa kế
gồm thửa 77 một phần các, 827, 578 theo Bản trích đo đạc số 750, 751 ngày
30/7/2024 của Văn phòng đăng đất đai thành phố C. Đối với thửa 77, theo
biên bản xem xét thẩm định ngày 02/12/2024 (BL56-28) thể hiện: Hồng đang sử
dụng 671,3m
2
trong đó có 01 căn nhà phủ thờ và một số cây trồng trên đất; T
B đang sử dụng 370,3m
2
trong đó 01 căn nhà, 01 chuồng nuôi gia súc
tài sản riêng của T, B đang trên đất. Bản án thẩm xác định cần ổn
định chia thửa 77 bằng hiện vật theo như hiện trạng các bên đang sử dụng để
không gây ảnh hưởng đến căn nhà trên đất các bên đang buộc trả lại gtrị
cho các đồng thừa kế còn lại phù hợp. Tuy nhiên tại thửa 77 hai ngôi mộ,
tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định được diện tích để trừ ra khi tính giá trị chia đất
đều này ảnh hưởng đến quyền lợi của những hàng thừa kế khi tính giá trị phải bù
lại. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm các đương sthống nhất với quyết định
của tòa án cấp thẩm về việc chia phần đất tại thửa số 77. Đối với đất tại thửa
578, 827 tổng diện tích là 6.644,2m
2
; chia thành 05 kỷ phần, mỗi phần được
hưởng 1.328,84m
2
. Tòa án cấp thẩm cho rằng phần diện tích tách thửa không
đủ điều kiện theo Quyết định số 20 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Ủy ban
nhân dân thành phố C giao cho bđơn thửa 578, nguyên đơn cùng với Đ,
B thửa 582 buộc bị đơn trả lại giá trị đối với phần diện tích nhận vượt cho
các hàng thừa kế không phù hợp. Theo hiện trạng thì thửa 578 và thửa 827
cặp nhau, việc chia đất phù hợp đảm bảo diện tích tách thửa, do đó cần chia
kỷ phần theo hiện vật để các thừa kế của cụ L1 cụ T3 đều được hưởng là phù
hợp. Như trên phân ch các đương sđồng ý với cách chia tại thửa 77, đối với
thửa 578, 582 chia hiện vật. Do bà H, bà B và ông T đã nhận 1 phần đất tại thửa
77, nên diện tích tại thửa 578 và 827 những người này sẽ được nhận phần ít hơn
các hàng thừa kế còn lại. H, Đ, B yêu cầu khi chia thì đất tại 02 thửa này
thì chia liền kề với nhau, đối với phần của ông H phải đảm bảo cho việc canh tác
đất còn lại. Nhận thấy yêu cầu này của các đương sự phù hợp. Theo đồ đo
đạc hiện trạng thửa đất ngày 09/6/2026 của Văn phòng đăng đất đai thành
phố C. Các vị trí A, B, C, D, E, I, J, F K diện tích cụ thể theo lược đồ. Bên
cạnh đó tại vị trí B+G giáp với phần đất ông H đang sử dụng, đồng thời phần
diện tích đất ông H đã được nhận tại thửa 77 cộng vợi diện tích đất tại vị trí B +
G là đủ kỷ phần của ông H nên giao vị trí này cho ông H. Các vị trí còn lại C+H,
D+I, E+J và F+K khi cộng các diện tích lại đủ kỷ phần của các hàng thừa kế nên
7
lần lượt giao cho ông L, B, Đ, T. Đối với kỷ phần của ông L theo bản
án thảm ông L nhận phần giá trị theo kỷ phần được hưởng, hiện vật giao cho
ông H, ông L không kháng cáo xem như thống nhất với bản án thẩm. Do
đó tiếp tục giao kỷ phần ông L được hưởng cho ông H, buộc ông H trả lại giá trị
tương đương với kỷ phần ông L được hưởng. Bởi các lẽ trên, đề nghị HĐXX áp
dụng khoản 2 Điều 308 BLTTDS, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, sửa
bản án thẩm số 137/2025/DS-ST ngày 31/10/2025 của TAND khu vực 4
Cần Thơ theo hướng phân tích nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chng c đã được thm tra ti tòa phúc thẩm; Căn c vào
kết qu tranh luận trên s xem xét đầy đủ toàn din ý kiến ca Kim sát viên
và những người tham gia t tng khác.
[1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa
kế nhưng phía bị đơn không đồng ý. Vì vậy, cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp
luật “Tranh chấp về thừa kế tài sản” là phù hợp.
[2] Sau khi xét xử thẩm, phía bị đơn đơn kháng cáo trong thời hạn
luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[3] Về thủ tục tố tụng: Người có quyền và nghĩa vụ liên quan ông Lông
G1 vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét
xử tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với các đương sự này.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc được nhận kỷ phần thừa kế
bằng hiện vật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Thứ nhất: Thửa đất 77 582 do hộ ông Đặng Văn L1 đứng tên Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 000347 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp
ngày 10/7/1998. Đối với thửa 582, nguyên đơn cung cấp được văn bản xác
định đoàn đo đạc năm 1990 đã ghi nhầm tên ông L1 thành ông L2 trong sổ mục
kê, đồng thời, thửa 578 vẫn do ông L1 (Liệt) đứng tên sổ mục kê, chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên có cơ sở xác định các thửa đất trên là di
sản thừa kế.
Thứ hai: Bị đơn cho rằng, thửa đất 578, bị đơn đã được cha mẹ cho đất
sử dụng từ khoảng năm 1980 đến nay, tuy nhiên bị đơn chỉ trình bày miệng chứ
không giấy tờ, chứng cứ chứng minh được cha mẹ tặng cho thửa 578. Thấy
rằng, thửa 578 hiện nay vẫn do ông L1 (Liệt) đứng tên sổ mục kê, chưa được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên yêu cầu của bị đơn không đồng ý
chia thừa kế đối với thửa 578 là không có cơ sở chấp nhận.
Thứ ba: Căn cứ vào Bản trích đo địa chính số 750/VPĐKĐĐ do Văn phòng
đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C lập ngày 19/9/2024
8
đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 327/VPDK DV ngày 10/6/2026 của
Văn phòng đăng đất đai thành phố C, tổng diện tích đất của 03 thửa 77, 578,
582 cộng lại 7.685,8m
2
. Đồng thời, theo Biên bản định giá tài sản ngày
02/02/2024 thì loại đất CLN, BHK và LUC có giá bằng nhau là 400.000
đồng/m
2
. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Bản trích đo địa chính số
750/VPĐKĐĐ do Văn phòng đăng đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường
thành phố C lập ngày 19/9/2024, đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 327/VPDK
DV ngày 10/6/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
Thứ tư: Các đương sự thống nhất xác định, người để lại di sản ông Đặng
Văn L1. Ông L1 một người vợ là Phạm Thị T3. Quá trình chung sống giữa
ông L1 T3 tất cả 05 người con chung là: Đặng Thị T, Đặng Văn L,
Đặng Văn H, Đặng Thị B, Đặng Thị Đ. Ngoài ra, không người con chung,
con riêng nào khác. Ông L1 và bà T3 chết không để lại di chúc. Vì vậy, có cơ sở
xác định hàng thừa kế thứ nhất gồm 05 người nên chia di sản thừa kế theo
pháp luật bằng 05 kỹ phần bằng nhau. Như vậy, di sản thừa kế của ông L1,
T3 để lại gồm thửa đất 77; thửa 578 thửa 582, tổng diện tích đất của 03
cộng lại là 7.685,8m
2
, chia làm 05 phần, mỗi phần được hưởng 1.537,16m
2
.
Thứ năm: Bị đơn kháng cáo yêu cầu được nhận hiện vật đối với các thửa
đất 578 và 582, bị đơn trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho các đương sự còn lại,
Hội đồng xét x xét thấy: Các thửa 582, 578 do ông Đặng Văn H đang quản
sử dụng nhưng thửa 582 giáp với thửa 578, mỗi kỷ phần thừa kế sẽ được nhận
diện tích 1.537,16 m
2
, nếu trừ phần diện tích bà T và B đang sử dụng có diện
tích 370,3m
2
tại thửa 77 thì bà T B vẫn đủ điều kiện để nhận kỷ phần bằng
hiện vật nên việc chia kphần thừa kế bằng quyền sử dụng đất cho các đương
sự đều đảm bảo đúng quy định về diện tích được tách thửa theo Quyết định số
44/2025/QĐ-UBND ngày 11/12/2025 của UBND thành phố C. Do đó, Hội đồng
xét xử quyết định công nhận kỷ phần thừa kế cho Đ quyền sử dụng đất tại
các vị trí D I theo đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 327/VPDK DV ngày
10/6/2026 của Văn phòng đăng đất đai thành phố C. Công nhận cho B
phần đất tại các vị trí E và J theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 327/VPDK
DV ngày 10/6/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C công nhận
cho bà T phần đất tại các vị trí F K theo đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số
327/VPDK DV ngày 10/6/2026 của Văn phòng đăng đất đai thành phố C.
Phần diện tích đất còn lại tại các vị trí B, G, C, H theo đồ đo đạc hiện trạng
thửa đất số 327/VPDK DV ngày 10/6/2026 của Văn phòng đăng đất đai
thành phố C công nhận cho ông H ông H trách nhiệm trả lại giá trị cho
ông L được chia giá trị đất 1.537,16 x 400.000 đồng/m
2
= 614.864.000 đồng.
Đối với các tài sản gắn liền trên phần đất của ai được chia thì người đó có quyền
9
sở hữu. Đối với 02 ngôi mộ trên thửa 77 các đương sự không yêu cầu giải quyết.
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp nên Hội đồng xét
xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn
phải chịu án phí phúc thẩm. Tuy nhiên, bị đơn người cao tuổi nên được miễn
án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 được miễn nộp tiền án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường
vụ Quốc hội.
* Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Đặng
Văn H.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 137/2025/DS-ST ngày 31 tháng 10 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 4 - Cần Thơ cụ thể như sau:
1 Chia di sản thừa kế của ông Đặng Văn L1 Phạm Thị T3 bao
gồm các thửa đất số 77, 582 do hộ ông Đặng Văn L1 đứng tên, theo Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số 000347 được Ủy ban nhân dân huyện T cấp
ngày 10/7/1998 thửa 578 do ông Đặng Văn L2 (Đặng Văn L1) đứng tên sổ
mục kê. Các thửa đất trên thuộc tờ bản đồ số 8, tọa lạc ấp P, xã T, huyện T, tỉnh
Cần Thơ nay là khu vực P, phường T, thành phố Cần T cụ thể như sau:
- Công nhận cho ông Đặng Văn H diện tích đất 671,3m
2
đất CLN tại thửa
77 (vị trí ký hiệu A) theo Bản trích đo địa chính số 750/VPĐKĐĐ do Văn phòng
đăng đất đai Sở Tài nguyên Môi trường thành phố C lập ngày
19/9/2024.
- Công nhận cho ông Đặng Văn H diện tích đất 2.403m
2
tại các vtrí B, G,
C và H theo Sơ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 327/VPDK DV ngày
10/6/2026 của Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C.
- Công nhận cho bà Đặng Thị T Đặng Thị B được chia chung diện
tích đất 370,3m
2
đất CLN tại thửa 77 theo Bản trích đo địa chính số
750/VPĐKĐĐ do Văn phòng đăng đất đai Sở Tài nguyên Môi trường
thành phố C lập ngày 19/9/2024.
- Công nhận cho B diện tích đất 1.352,0m
2
tại các vị trí E J theo
đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 327/VPDK DV ngày 10/6/2026 của Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố C.
- Công nhận cho T diện tích đất 1.352,0m
2
tại các vị trí F K theo
10
đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 327/VPDK DV ngày 10/6/2026 của Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố C.
- Công nhận cho Đ diện tích đất 1.537,2m
2
tại các vị tD I theo
đồ đo đạc hiện trạng thửa đất số 327/VPDK DV ngày 10/6/2026 của Văn
phòng đăng ký đất đai thành phố C.
Đối với các tài sản gắn liền trên phần đất của ai được chia thì người đó
quyền sở hữu.
Các đương sự được quyền tự liên hệ với quan thẩm quyền, để thực
hiện thủ tục đăng cấp quyền sdụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đúng với hiện trạng sử dụng đất thực tế theo quy định của pháp luật.
2. Buộc ông Đặng Văn H phải trách nhiệm trả giá trị kỷ phần thừa kế
cho ông Đặng Văn L số tiền 614.864.000 đồng (Sáu trăm mười bốn triệu, tám
trăm sáu mươi bốn ngàn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, trường hợp ông Đặng Văn H chậm trả đối với số tiền trên thì
ông H phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm
trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và 468 của Bộ luật dân sự 2015.
3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn về yêu cầu chia di
sản thừa kế tại thửa 577 do bị đơn rút lại yêu cầu phản tố.
4. Án phí dân sự thẩm: B Đ mỗi người phải nộp 14.297.000
đồng. Bà T, ông H và ông L được miễn án phí.
5. Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí cho bị đơn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi
hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 9 Luật
thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND khu vực 4 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 4 – Cần Thơ;
- THADS thành phố Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phan Thị Tuyết Mai
11
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 594/2026/DS-PT Bản án số 594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 594/2026/DS-PT Bản án số 594/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất