Bản án số 178/2026/DS-PT ngày 17/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 178/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 178/2026/DS-PT ngày 17/06/2026 của TAND TP. Hải Phòng về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hải Phòng
Số hiệu: 178/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 178/2026/DS-PT Bản án số 178/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 178/2026/DS-PT Bản án số 178/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 178/2026/DS-PT
Ngày 17-6-2026
V/v tranh chấp về thừa kế tài sản;
Yêu cầu công nhận hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng
đất hợp pháp
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- 
Ông Lưu Văn Tỉnh
:
Bà Đặng Hồ Điệp
Trần Minh Phương
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Trần Trọng An - Thư ký Tòa án nhân
dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Phạm Thị
Quyên - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải
Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 330/TLPT-DS ngày 01 tháng
12 năm 2025 vviệc tranh chấp thừa kế tài sản, hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng bị kháng cáo một phần bị kháng
nghị một phần.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 65/2026/QĐ-PT ngày
24 tháng 01 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 229/2026/QĐ-PT ngày 15
tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Trần Thị T, sinh năm 1960; trú tại: Số nhà B đường B;
khu G, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- 
+ Ông Trần Văn H, sinh năm 1954; Địa chỉ: Số nhà C V, khu B, phường L,
thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Trần Văn H: Bà Đoàn Thị
Kiều T1- Luật sư thuộc Công ty L2 thuộc đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
+ Ông Trần Duy B, sinh năm 1965; địa chỉ: SC V, khu B, phường L,
2
thành phố Hải Phòng; có mặt.
- 
+ UBND phường L; địa chỉ trụ sở: Số C đường N, phường L, thành phố
Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Hữu P - Chủ tịch Ủy ban nhân dân
phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu P: Ông Nguyễn Tác L -
Trưởng phòng K - Hạ Tầng - Đô thị phường L; vắng mặt.
+ Trần Thị H1, sinh năm 1958; địa chỉ: Số nhà H ngõ G V, khu C,
phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Ông Hoàng Văn P1, sinh năm 1949; anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1976;
đều trú tại: Số nhà A N, phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Chị Hoàng Thị H3, sinh năm 1974; Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Số nhà A
N, phường L, thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú hiện nay: Úc; vắng mặt.
+ Chị Hoàng Thị H4, sinh năm 1980; địa chỉ: Số I, phường H, thành phố
Hải Phòng; Chị Hoàng Thị Tuyết H5, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn S, phường N,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông P1, chị H3, anh H2, chị H4, chị T9:
Trần Thị T, sinh năm 1960; trú tại: Số nhà B đường B; khu G, phường L,
thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Trần Thị Đ, sinh năm 1955; địa chỉ: Số nhà C V, khu B, phường L,
thành phố Hải Phòng; có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho Đ: Bà Đoàn Thị Kiều T1 -
Luật sư thuộc Công ty L2 thuộc đoàn luật sư thành phố H; có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của Đ: Anh Trần Văn L1, sinh năm 1987;
Địa chỉ: Số nhà C V, khu B, phường L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Hoàng Thị Ngọc A, sinh năm 1968; địa chỉ: Số C V, khu B, phường
L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
+ Dương Thị B1, sinh năm 1949; địa chỉ: Số nhà D ngõ A V, khu D,
phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1956 Phạm Thị D, sinh năm 1958;
đều trú tại: Số nhà B V, khu B, phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Ông Hoàng Văn S, sinh năm 1967 (đã chết năm 2025) và bà Trần Thị T3,
sinh năm 1968; đều trú tại: Số nhà C V, khu B, phường L, thành phố Hải Phòng;
vắng mặt.
S:
Trần Thị T3, sinh năm 1968; địa chỉ: Số nhà C V, khu B, phường L,
thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Cụ Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1943; địa chỉ: Số nhà C V, khu B, phường L,
3
thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Anh Hoàng Trung Đ2, sinh năm 1992: địa chỉ: Số A V, Tổ dân phố B,
phường L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Anh Hoàng Tuấn A1, sinh năm 1995; nơi ở: Thôn T, phường H, thành phố
Hải Phòng; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn H bị đơn, bà Trần Thị Đ là người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Người kháng nghị: Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp thẩm, nội dung
kháng cáo, kháng nghị:

 P1H3, anh H2H4T9
trình bày: Cụ Trần Văn B2, sinh năm 1921 (chết ngày 30 tháng 5 năm 2002)
cụ Hoàng Thị T4, sinh năm 1921 (chết ngày 28 tháng 11 năm 2012) là vchồng
7 người con, gồm: Ông Trần Văn M, sinh năm 1945 (chết năm 1973);
Trần Thị D1, sinh năm 1940 (chết năm 1946, không chồng con); Trần Thị
T5, sinh năm 1952 (chết ngày 09 tháng 8 năm 2023); ông Trần Văn H; Trần
Thị H1; Trần Thị T ông Trần Duy B. Ngoài ra, các cụ không con nuôi,
con riêng; hai cụ chết không để lại di chúc và không để lại nghĩa vụ về tài sản với
người khác.
Ông M có vợ là bà Dương Thị B1, vợ chồng ông M và B1 không có con
chung. T5 chồng là ông Hoàng Văn P1, vợ chồng bà T5 ông P1 4 người
con, gồm chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị H4, chị Hoàng
Thị Tuyết .
Khi còn sống cụ B2 cụ T4 tạo lập 4 thửa đất, gồm thửa 212 diện tích
392,2m²; thửa 216 diện tích 436,2m² đều tại bản đồ số 33, thửa 217 diện tích
160,1m²; thửa 219 diện tích 154,4m² đều tại bản đồ số 33, khu B, phường L,
thành phố Hải Phòng. Nguồn gốc là của cha ông để lại. Khi ông H lấy bà Đ hai cụ
đã làm cho một nhà tạm trên thửa đất 216 để hai vợ chồng ở. Thửa 212 các cụ đã
làm nhà cấp 4, lợp ngói; năm 1992 nhà xuống cấp nên hai cụ đã đồng ý để cho vợ
chồng ông B, A làm nhà trên đất, tiền để xây dựng nhà của vợ chồng ông B.
Ban đầu thửa 217, 219 là thửa đất ao của Hợp tác xã hai cụ đã xin để sử dụng, sau
đó đã giao cho ông B và ông H mỗi người một nửa để sử dụng. Quá trình sử dụng
đất, vợ chồng ông H, bà Đ đã chuyển nhượng một phần diện tích tại thửa 216 cho
ông Nguyễn Văn T2Phạm Thị D, vợ chồng ông T2, bà D đã xây dựng công
trình trên đất, phần còn lại vchồng ông H và Đ đã xây dựng công trình trên
đất để sử dụng. Thửa 219 vợ chồng ông H, Đ chuyển nhượng cho vợ chồng
ông Hoàng Văn S Trần Thị T3, vợ chồng ông S bà T3 đã dựng các công
trình ổn định. Vợ chồng ông Trần Văn B3 và bà Hoàng Thị Ngọc A, đang quản lý
và sử dụng và xây dựng các công trình trên thửa 212 và thửa 217.
4
Nay khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Chia di sản của hai cụ theo
quy định của pháp luật. Đối với phần diện tích đất mà vchồng ông H đã chuyển
nhượng cho vợ chồng ông T2 vợ chồng ông S, đnghị giải quyết theo quy
định pháp luật.
 trình bày:
Thống nhất với quan điểm của bà T về quan hệ huyết thống, thời điểm chết,
hàng thừa kế của cụ B2 cụ T4. Ông xác định thửa 212 đã được cấp giấy mang
tên bà Hoàng Thị T4 của bố mẹ ông. Năm 1980, địa phương thực hiện chủ
trương đối với gia đình 02 cặp vợ chồng cùng sinh sống trên thửa đất thì sẽ
được cấp đất cho cặp vợ chồng trẻ ra riêng, tạo điều kiện làm ăn kinh tế, thời
điểm đó ông Đ đã kết hôn năm 1976 cùng sinh sống với cụ B2, cụ T4, đáp
ứng điều kiện nên đã làm đơn xin Hợp c cấp đất. Hợp tác đã cấp cho ông
thửa đất ao (nay thửa 217, 219) mang tên ông. Năm 1982, bố mẹ ông cho vợ
chồng ông ra riêng, nên bố mẹ ông đã đổi thửa 217 của ông, cho bố mẹ ông
để lấy thửa 216 sau đó ông đã làm nhà để ở chuyển nhượng mt phần diện tích
tại thửa 216 cho ông T2 D. Ông B3 lấy A cùng với bố mẹ ông, sau đó
vợ chồng ông B3 đã phá nhà của hai cụ làm lại nhà mới để cùng với hai cụ.
Vợ chồng ông B3 còn làm nhà trên thửa 217, còn lại thửa 219 vợ chồng ông bà đã
chuyển nhượng cho vợ chồng ông S, T3 sau đó vợ chồng ông S đã làm nhà
trên thửa đất 219.
Nay T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ ông, ông xác
định di sản thừa kế của bố mẹ ông chỉ thửa 212 để chia trong vụ án này, còn
thửa 216 219 của riêng ông bà, thửa 217 là của ông B3. Ông đề nghị được
hưởng 93,2m² cụ T4 đã cho ông. Đối với một phần diện tích tại thửa 216 ông
đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông T2 thửa 219 chuyển nhượng cho ông S
đề nghị Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông vợ
chồng ông T2, vchồng ông S. Đối với số tiền 172.000.000 đồng tiền bồi thường
ruộng và hoa màu của bố mẹ ông, ông yêu cầu được hưởng.
B3 trình bày:
Nhất trí phần trình bày của T. Ông xác định thửa đất số 212, 216, 217,
219 đều thuộc quyền sử dụng đất của bố mẹ ông. Khi ông lấy bà A đã ng với
hai cụ trên thửa 212 do nhà cũ của hai cụ đã xuống cấp, vợ chồng ông được hai cụ
cho phá bỏ làm nhà mới để vchồng ông cùng với hai cụ, nguồn tiền của
vợ chồng ông. Năm 2013, hai cụ được nhà nước bồi thường tiền ruộng hoa
màu là 172.000.000 đồng, ông là người nhận và đang quản lý số tiền trên.
Nay ông đề nghị chia di sản của hai cụ là các thửa đất số 212, 216, 217, 219
và số tiền nhận đền bù đất nông nghiệp 172.000.000 đồng theo quy định của pháp
luật nhận bằng hiện vật. Tôi đồng ý nhận kỷ phần thừa kế của T, T5,
H1 và đề nghị giao cho ông bằng hiện vật đối với kỷ phần thừa kế của T,
T5, H1. Đối với phần diện tích ông H đã chuyển nhượng, ông đề nghị giải
quyết theo quy định của pháp luật.

 trình bày: Nhất trí lời trình bày của bà T, ông B3.
5
 trình bày: và ông Trần Văn M kết hôn năm 1970, sau
khi kết hôn ông M đi bộ đội đã hy sinh, ông M không con chung
cũng không nhận ai làm con nuôi. Hiện đã kết hôn với người khác nên
không nhận di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4.
 trình bày: Nhất trí lời trình bày của ông B3.
 trình bày: Nhất trí lời trình bày của ông H.
Ông   trình bày: Ngày 14/9/2007, ông bà có
nhận chuyển nhượng diện tích 154,4m² đất ở tại thửa 219, tờ bản đồ số 33 của ông
H và bà Đ với số tiền 400.000.000 đồng, ông bà đã giao 380.000.000 đồng cho vợ
chồng ông H, Đ đã nhận toàn bộ diện tích đất trên đồng thời đã xây dựng
các công trình trên đất để sử dụng. Nay, ông đề nghị Tòa án công nhận hợp
đồng chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông bà với vợ chồng ông H, Đ đối với
diện tích 154,4m² đất tại thửa 219, tờ bản đồ số 33 được lập ngày 14/9/2007
hợp pháp.
Ông   trình bày: Ngày 10/3/2009, ông
nhận chuyển nhượng diện tích 68,5m² đất tại thửa 216, tờ bản đồ số 33 của
ông H, Đ với số tiền 325.000.000 đồng, ông bà đã giao số tiền 315.000.000
đồng cho ông H, bà Đ còn lại 10.000.000 đồng, ông bà giữ lại đến khi ông H bà Đ
làm xong bìa thì sẽ giao nốt stiền trên, vợ chồng ông H đã giao cho ông đất
ông đã xây dựng nhà trên đất đở. Nay, ông bà đề nghị Tòa án công nhận
hợp đồng chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông bà với vợ chồng ông H, bà Đ đối
68,5m² đất ở tại thửa 216, tờ bản đồ số 33 được lập ngày 10/3/2009 là hợp pháp.
,
 Phần đất dôi trong quá trình sử dụng người sử dụng đã
lấn chiếm phần rãnh nước thuộc quyền quản của UBND phường, đề nghị tạm
giao cho họ tiếp tục sử dụng đến khi Nhà nước chính sách, quyết định đối với
phần đất này, thì người sử dụng có nghĩa vụ chấp hành.
    N   khai: Ông làm Chủ tịch UBND
phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay là UBND phường L, thành phố Hải
Phòng) từ năm 1986 đến ngày 31/12/1999 thì nghỉ hưu. Cụ B2, cụ T4 có các thửa
212 thửa 216 tờ bản đồ số 33 do bố mẹ để lại, còn các thửa 217, 219 tờ bản
đồ số 33 nguồn gốc ban đầu thửa đất ao. Trước năm 1980, Hợp tác chia cho
cụ B2, cụ T4 để thả bèo, nuôi lợn làm nghĩa vụ cho nhà nước, quá trình sử dụng
gia đình cụ B2 đã san lấp để làm công trình để ở. Năm 1980 do Đại hội viên
quyết định giao cho xã viên hợp tác nông nghiệp làm đất ở, nên toàn bộ thửa
đất đó của cụ B2 đất không phải nộp phí, thuế. Đối với gia đình cụ B2 do đất
rộng nên không được chia thêm đất, theo chủ trương 2 cặp vchồng cùng một
thửa đất.
 khai: Cụ B2 em ruột ông nội ông,
ông đi bộ đội từ năm 1974 đến năm 1986 ông về chế độ bệnh binh loại 2, ông
tham gia công tác tại địa phương giữ chức bí thư chi bộ từ năm 1986 cho đến năm
2011, ông không tham gia nữa. Cụ B2 trước đó Chủ tịch T, thị H sau đó
nghỉ hưu. Các thửa 217, 219 tbản đồ số 33 nguồn gốc ban đầu là ao thả bèo
6
rau muống, cụ B2 xin địa phương ao đó để nộp thuế cho địa phương. Trước lúc
ông làm thư chi bộ, ông được biết địa phương chủ trương chia đất đối với
những gia đình đông con trai, nhưng gia đình đó thì diện tích đất phải trật thì địa
phương sẽ chia đất để bố mẹ phải làm đơn xin đất, địa phương sxét duyệt,
đất thì được chia tại khu đống mả chay. Ông Hoàng Văn Đ3 khai: Ông em
ruột của bà Hoàng Thị T4, bố mẹ đẻ ra ông B2 nhà cạnh nhau, bà T4 sau khi lấy
ông B2 được bmẹ ông B2 cho đất hiện nay các con đang tranh chấp, còn
các thửa 217, 219 nguồn gốc ban đầu là ao bèo, ông B2 xin hợp tác xã và đã được
giao để thả bèo.
Ông  khai: Ông với cụ B2, cụ T4 quan hệ nội tộc, các thửa
212, 216 cha ông để lại cho cụ B2, cụ T4. Còn thửa 217, 219 ban đầu ao do
cụ B2 xin để thả bèo, nuôi lợn làm nghĩa cho nhà nước, do gia đình cụ B2 đất
rộng nên không được chia thêm đất.
 (nay là ):
Nguồn gốc thửa 212: Thửa đất được hình thành trước ngày 18/12/1980
của ông cha để lại, được đăng ký trên bản đồ 299 và sổ mục kê thể hiện tại tờ bản
đồ số 11, gồm 2 thửa: Thửa 163, diện tích 220m², mang tên ông Trần Văn H (con
trai cụ T4, cụ D2) nhưng thực tế cụ D2 người quản lý, sử dụng; Thửa 180, diện
tích 128m², mang tên ông Trần Văn D2 (Ban). Tổng diện tích 02 thửa đất là
348m², đã cho ông H 93,2m², còn lại 254,8m² của ông D2.
Theo bản đồ năm 1995-1996 sổ mục thể hiện, tại tbản đồ số 7
thửa 259, diện tích 365m² mang tên ông Trần Văn B2, loại đất T.
Theo bản đồ năm 2004-2005 sổ mục thể hiện thửa 212, diện tích
392,2m², mang tên Hoàng Thị T4. Đã được UBND thành phố H cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/8/2007 mang tên Hoàng Thị T4 (là người
đại diện) trong đó 254,8 m² đất 137,4 đất trồng cây lâu năm. sự
biến động về diện tích tờ bản đồ 299 đến bản đồ năm 1995 bản đồ năm 2005,
do gia đình trong quá trình sử dụng đã lấn ra phía nam của thửa đất. Việc tặng
cho ông H diện tích 93,2m² được thể hiện trong hồ cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho bà Hoàng Thị T4 hồ sơ cấp giấy đồng loạt.
Nguồn gốc thửa 216: Căn cứ bản đồ 299, và sổ mục kê thể hiện tại thửa đất
số 179, tờ số 11, diện tích 581m² UBND xã loại đất ao thửa số 181 tờ số 11,
diện tích 139m² không ghi tên, loại đất T8 Theo bản đ1995-1996 smục
thể hiện tại thửa đất số 262, tờ số 7, diện tích 380m² mang tên ông Trần Văn H
loại đất T. Theo bản đ2004-2005 sổ mục thể hiện tại thửa đất số 216, tờ
bản đồ 33, diện tích 436,2m² mang tên bà Trần Thị Đ (vợ ông H) loại đất T; Có sự
biến động về diện tích là do trong quá trình sử dụng đã lấn ao phía nam của thửa
đất.
Nguồn gốc thửa 217: Căn cứ bản đồ 299 sổ mục thể hiện tại thửa đất
số 182, tờ số 11, diện tích 940m² UBND loại đất ao. Theo bản đồ 1995- 1996
thể hiện tại thửa đất số 217, tờ số 7, diện tích 420m² loại đất A (nhưng tại số mục
đăng tên ông Trần Văn H với diện tích 210m² loại đất T), Theo bản đồ
2004-2005 sổ mục thể hiện tại thửa đất số 217, tờ bản đồ 33, diện tích
7
160,1m² mang tên ông Trần Văn B3 loại đất T; có sự biến động về diện tích của 2
thửa 217 và 219 tờ bản đồ địa chính năm 1995 và 2005 là trong quá trình sử dụng,
đo đạc năm 2004-2005 đã tách thửa 266 thành 02 thửa 217 và thửa 219.
Nguồn gốc thửa 219: Theo bản đồ 1995-1996 sổ mục thhiện tại
thửa đất số 266, tờ số 7, diện tích 420m² loại đất A (nhưng tại sổ mục đăng
tên ông Trần Văn H với diện tích 210m² loại đất 1). Theo bản đ2004- 2005
sổ mục thể hiện tại thửa đất số 219, tờ bản đồ 33, diện tích 154,1m² mang tên
ông Trần Văn H loại đất T8
- 
Thửa đất số 212, hiện nay vợ chồng ông B3, A đang quản sử dụng
diện tích đo đạc theo hiện trạng là 417,1m², giá trị quyền sử dụng đất 203,1m² đất
x 35.000.000 đồng/m² = 7.108.500.000 đồng; 51,7m² đất x 25.000.000
đồng/m² = 1.292.500.000 đồng 162,3 đất vườn x 12.000.000 đồng/m² =
1.947.600.000 đồng sử dụng diện tích 9,8m² đất san lấp thuộc quyền quản
của địa phương.
Thửa đất 216, hiện nay ông T2, bà D đang quản sử dụng diện tích đo
đạc theo hiện trạng 64,4m² đất x 35.000.000 đồng/m² = 2.254.000.000 đồng
quản s dụng diện tích 4,8m² đất san lấp thuộc quyền quản của địa
phương;
Ông H, Đ quản lý, sử dụng diện tích đo đạc theo hiện trạng
350,4m² đất ở; trong đó 202,1m² đất x 35.000.000 đồng/m² = 7.073.500.000
đồng 148,3m² đất x 25.000.000 đồng/m² =3.707.500.000 đồng quản sử
dụng diện tích 11,1m² đất san lấp thuộc quyền quản lý của địa phương.
Thửa đất 219, hiện nay ông S, bà T3 quản lý, sử dụng diện tích đo đạc
theo hiện trạng 150,9m² đất x 42.000.000 đồng/m² = 6.337.800.000 đồng
quản lý sử dụng diện tích 32,3m² đất san lấp thuộc quyền quản lý của địa phương;
Thửa đất 217, hiện nay ông B3 A quản , sử dụng diện tích đo
đạc theo hiện trạng 165m² đất x 35.000.000 đồng/m² = 5.775.000.000 đồng
và quản lý sử dụng diện tích 14,4m
2
san lấp thuộc quyền quản lý của địa phương.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông Trần Văn H và người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của ông H trình bày: Thửa đất 212 không phải của cụ B2 cụ T4.
Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận ghi nguồn gốc thửa 212 do ông cha để lại nhưng
nội dung này không chính xác thửa đất 163 diện tích 220m² đứng tên ông H
không phải của ông cha để lại, không phải là di sản thừa kế của ông Trần Văn B2,
ông H không thực hiện cho tặng cụ B2, cụ T4 trước khi cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nên không thể cấp cho cụ T4 với tư cách người đại diện của
những người được thừa kế di sản của cụ Trần Văn B2. Do đó, bị đơn đề nghị Toà
án xem xét về thủ tục cấp đề nghị huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
AK 498695 do UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 28/8/2007 đứng tên
Hoàng ThT4 đối với thửa đất số 212. Trường hợp Toà án không chấp nhận
yêu cầu của bị đơn, đề nghị cho bị đơn được hưởng di sản thừa kế của cụ Trần
Văn B2 và Hoàng Thị T4 theo quy định pháp luật. Đối với các thửa 216, 217, 219
không tài liệu của quan nhà nước gồm quyết định giao đất, sổ mục kê, bản
8
đồ địa chính chứng minh quyền sử dụng của cụ B2, cụ T4. Thửa 217, 219 ban đầu
thửa đất ao của nhà nước, ông H, Đ đã thực hiện việc san lấp, cải tạo thành
đất ở trong nhiều năm thực hiện nghĩa vụ đóng thuế và được công nhận tại bản đồ
đo đạc.
Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền shữu nhà quyền sử dụng
đất ngày 10/3/2009 giữa ông Trần Văn H Trần Thị Đ với ông Nguyễn Văn T2
Phạm Thị D Hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng
đất ngày 14/9/2007 giữa ông Trần Văn HTrần Thị Đ với ông Hoàng Văn S
Trần Thị T3 được xác lập trên sở tự nguyện giữa các bên, các bên đã bàn giao
giá trị chuyển nhượng bằng tiền và bàn giao nhà đất thực tế không phát sinh tranh
chấp gì. Gia đình ông T2 D, ông S T3 sau khi nhận chuyển nhượng đã thực
hiện thủ tục đăng địa chính tại địa phương. Tức các bên đã hoàn thành hai
phần ba nghĩa vụ cần được công nhận tính pháp của Hợp đồng. Đối với phần
đất ruộng được bồi thường 172.000.000 đồng, đề nghị được nhận bằng tiền theo
quy định pháp luật.
P1H3, anh H2H4,
T9 là T, ông B3, B1 đều thống nhất đề nghị chia di sản thừa kế đối với
số tiền được bồi thường phần đất ruộng của cụ B2, cụ T4 172.000.000 đồng
theo quy định pháp luật (bà T đề nghị chia bằng tiền mặt). Các ông bà khẳng định
thửa 212, 216, 217, 219 đều di sản thừa kế của hai cụ để lại đnghị giao
bằng hiện vật cho ông B3 quản lý, sử dụng.
Tại Bản án dân sự thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025
của Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng căn cứ vào các điều 147, 157, 158,
165 và 166, khoản 2 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 357, 468, 611,
612, 613, 649, 650, 651 660 của Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị T.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 Phạm Thị D.
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa
ông Trần Văn H, Trần Thị Đ và ông Nguyễn Văn T2, bà Phạm Thị D đối với
diện tích 64,4m² đất trị giá 2.254.000.000 đồng quyền sở hữu các tài sản,
công trình trên thửa số 216, tờ bản đồ số 33, V, khu B, phường L, thành phố Hải
Phòng hiệu là S3.1 được giới hạn bởi các điểm A6, A7, A23, A21 đến A6
được lập ngày 10/3/2009 hợp pháp. Tạm giao phần diện tích 4,8m² đất dôi
hiệu S3.1¹ cho ông T2, D sử dụng. Khi quan nhà nước thẩm quyền
quyết định đối với phần đất này, ông T2, bà D phải có nghĩa vụ chấp hành.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Hoàng Văn S, bà Trần ThT3. Công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nquyền sử dụng đất giữa ông
Trần Văn H, bà Trần Thị Đ và ông Hoàng Văn S, bà Trần Thị T3 đối với diện tích
150,9m² đất trị giá 6.337.800.000 đồng quyền sở hữu các tài sản, công trình
trên thửa số 219, tờ bản đồ số 33, V, khu B, phường L, thành phố Hải Phòng
hiệu là S5 được giới hạn bởi các điểm A1, A2, A3, A25 đến A1 được lập ngày
9
14/9/2007 hợp pháp. Tạm giao phần diện tích 32,3m² đất dôi hiệu S5¹
cho ông S, T3 sử dụng. Khi quan nhà nước thẩm quyền quyết định đối
với phần đất này, ông S, T3 phải nghĩa vụ chấp hành. (Phần hiện trạng giao
đất có sơ đồ kèm theo)
2. Xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Trần Văn B2 ngày 30/5/2002,
của cụ Hoàng Thị T4 là ngày 28/11/2012.
3. Xác định hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế của cụ Trần
Văn B2, gồm: Cụ Hoàng Thị T4, Trần Thị T5 (chết năm 2023 chồng và 04
con là chị H3, anh H2, chị H4, chị T9 được hưởng thay T5), ông Trần Văn H,
Trần Thị H1, Trần Thị T ông Trần Duy B. Xác định hàng thừa kế thứ
nhất được hưởng di sản của cụ Hoàng Thị T4, gồm: T5 (chết năm 2023
chồng và 04 con chH3, anh H2, chị H4, chị T9 được hưởng thay T5), ông
Trần Văn H, bà Trần Thị H1, bà Trần Thị T và ông Trần Duy B.
4. Về án trích công sức của vợ chồng H, bà Đ tiền công quản lý, duy trì, tôn
tạo là 3.000.000.000 đồng, tương ứng 120m².
5. Xác nhận di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để chia theo quy định pháp
luật: Sau khi áng trích công sức di sản để chia cụ B2, cụ T4 32.660.900.000
đồng.
6. Di sản thừa kế của cụ B2 16.330.450.000 đồng, chia 6 kỷ phần, gồm
cụ T4, T5 (chết năm 2023 chồng 04 con chị H3, anh H2, chị H4, chị
T9 được hưởng thay T5), ông H, H1, T, ông B. Như vậy mỗi kỷ phần
được hưởng 2.721.741.666 đồng Di sản của cụ T4 19.052.191.666 đồng, cụ T4
cho ông H 93,2m² trị giá 3.262.000.000 đồng. Như vậy, di sản của cụ T4 n lại
15.790.191.666 đồng được chia làm 5 kỷ phần, gồm T5 (chết năm 2023
chồng 04 con chị H3, anh H2, chị H4, chị T9 được hưởng thay T5) ông
H, H1, T, ông B. Mỗi kỷ phần được hưởng trị giá 15.790.191.666 đồng/5 =
3.158.038.333 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của T, H1, con T5 về việc
tặng kỷ phần thừa kế được hưởng cho ông B. Tổng trị giá ông B được hưởng
23.519.119.996 đồng.
7. Về hiện trạng giao đất:
7.1. Giao cho ông Trần Văn HTrần Thị Đ sử dụng diện tích 350,4m²
đất trị g10.781.000.000 đồng quyền sở hữu các tài sản, công trình trên
thửa số 216, tờ bản đồ số 33, V, khu B, phường L, thành phố Hải Phòng hiệu
S2 được giới hạn bởi các điểm A5, A6, A21, A23, A22, A11, A12, A13, A14,
A15, A16, A17, A18, A19, A20 đến A5. Tạm giao phần diện tích 11,1m² đất dôi
ký hiệu S2.1¹ cho ông H, bà Đ sử dụng. Khi quan nhà nước có thẩm quyền
quyết định đối với phần đất này, ông H, bà Đ phải có nghĩa vụ chấp hành.
7.2. Giao cho ông Trần Văn B3 Hoàng Thị Ngọc A sử dụng diện tích
417,1m² (trong đó 254,8m² đất 162,3m² đất vườn) trị giá
10.348.600.000 đồng quyền sở hữu các tài sản, công trình trên thửa số 212, tờ
bản đồ số 33, V, khu B, phường L, thành phố Hải Phòng hiệu S1 được giới
hạn bởi các điểm A7, A8, A7, A8, A9, A10, A11, A22, A23 đến A7. Tạm giao
phần diện tích 9,8m² đất dôi hiệu S1' cho ông B3, A sử dụng. Khi
10
quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông B3, bà A phải
có nghĩa vụ chấp hành.
7.3. Giao cho ông Trần Văn B3 Hoàng Thị Ngọc A sử dụng diện tích
165m² đất ở có trị giá 5.775.000.000 đồng và quyền sở hữu các tài sản, công trình
trên thửa số 217, tờ bản đồ số 33, V, khu B, phường L, thành phố Hải Phòng
hiệu là S4 được giới hạn bởi các điểm A24, A25, A3, A4 đến A24. Tạm giao phần
diện tích 14,4 đất dôi hiệu S4' cho ông B3, A sử dụng. Khi quan
nhà nước thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông B3, A phải
nghĩa vụ chấp hành. (Phần hiện trạng giao đất có sơ đồ kèm theo).
7.4. Giao cho ông Trần Văn B3 số tiền 172.000.000 đồng (ông B3 đang
quản lý). Căn cứ vào diện ch đất được công nhận, được chia, các đương sự
trách nhiệm liên hệ với quan thẩm quyền để được hướng dẫn cấp giấy
chứng nhận QSD đất theo quy định.
8. Về trả chênh lệch giá trị tài sản: Ông Trần Văn H phải trả cho ông Trần
Văn B3 số tiền 7.223.514.001 đồng Kể từ ngày người được thi hành án đơn
yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án thẩm còn tuyên về án phí dân sự thẩm, quyền kháng
cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 08/10/2025 bđơn ông Trần Văn H người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Đ kháng cáo một phần Bản án dân
sự thẩm số 40/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân
khu vực 8 - Hải Phòng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo
hướng:
- Đề nghị tuyên diện tích đất tại các thửa đất số 216, 217, 219 một phần
thửa đất số 212 (hồ năm 1980 thửa số 163) thuộc tờ bản đồ số 33, địa chỉ:
Khu B, phường L, thành phố Hải Phòng không phải di sản thừa kế của cụ Trần
Văn B2 và cụ Hoàng Thị T4, xác định các thửa đất trên thuộc quyền sdụng của
ông Trần Văn HTrần Thị Đ.
- Đề nghị công nhận tính hợp pháp của giao dịch chuyển nhượng đất giữa
ông Trần Văn H, Trần Thị Đ ông Nguyễn Văn T2 Phạm Thị D đối với
diện tích đất 68,5m² tại thửa số 216, tờ bản đồ số 33, số nhà B V, phường L, thành
phố Hải Phòng được lập ngày 10/3/2009 do tài sản thuộc quyền sử dụng của ông
H bà Đ nên ông H bà Đ có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản.
- Đề nghị công nhận tính hợp pháp của giao dịch chuyển nhượng đất giữa
ông Trần Văn H, Trần Thị Đông Hoàng Văn S Trần Thị T3 đối với diện
tích đất 154,1m² tại thửa số 219, tờ bản đồ số 33, số nhà B V, phường L, thành
phố Hải Phòng được lập ngày 14/9/2007 do tài sản thuộc quyền sử dụng của ông
H bà Đ nên ông H bà Đ có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản.
- Đề nghị hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 498695 do
UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 28/8/2007 đứng tên Hoàng Thị
11
T4 đối với thửa số 212, tờ bản đồ số 33; địa chỉ: Khu B, phường L, thành phố Hải
Phòng.
- Đề nghị Tòa án xem xét công sức tôn tạo, làm tăng giá trị tài sản của thửa
đất s217, 219, thuộc tờ bản đồ số 33, địa chỉ: Khu B, phường L, thành phố Hải
Phòng từ đất ao thành đất ở như hiện nay.
Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 kháng nghị một phần bản án thẩm
theo Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ/VKSKV ngày 07/10/2025 với
nội dung:
1. Tòa án vi phạm về thu thập, đánh giá chứng cứ về nguồn gốc đất, công
sức san lấp đất ao: Theo tài liệu lưu giữ tại chính quyền địa phương, ông H
khai đứng tên tại sđịa chính đối với các thửa đất số 217, 219 nhưng a án chỉ
căn cứ vào lời khai của những người làm chứng và các cán bộ qua từng thời kỳ để
công nhận thửa đất 217, 219 là của cụ B2, cụ T4 được Hợp tác xã giao đất là đánh
giá chứng cứ không khách quan, toàn diện, đầy đủ. Mặt khác nguồn gốc thửa 216,
217, 219 đất ao nhưng Tòa án không thu thập chứng cứ về việc san lấp ao, thời
gian san lấp, nguyên vật liệu sử dụng tiền công san lấp tự áng trích công
sức quản di sản cho ông H, Đ 3.000.000.000 đồng tương ứng 120m
2
vi
phạm trong việc thu thập, đánh giá chứng cứ.
Vi phạm trong việc xác minh đất nông nghiệp giá trị đất nông nghiệp
được đền bù là di sản thừa kế: Đối với số tiền đề bù đất nông nghiệp, ông B3 trình
bày thời điểm chia đất, gia đình ông gồm có 04 khẩu được chia đất gồm cụ B2, cụ
T4, ông B3 con gái ông B3 nhưng Tòa án chưa xác minh làm tại thời điểm
chia đất, hộ gia đình cụ B2 gồm mấy nhân khẩu được chia đất, diện tích đất nông
nghiệp được chia bao nhiêu mét vuông bị đối trừ diện tích đất nông nghiệp
vào đất hay không để căn cứ xác định diện tích đất di sản thừa kế của cụ
B2, cụ T4 để lại bao nhiêu mét vuông). Tòa án không xác minh thu thập chứng
cứ để xác định số tiền cụ B2, cụ T4 được đền thực tế bao nhiêu, ai người
nhận tiền, số tiền 172.000.000 đồng ông B3 nhận đền liên quan đến con gái
ông B3 hay không là vi phạm trong việc thu thập và đánh giá chứng cứ.
2. Vi phạm giải quyết vượt quá phạm vi ủy quyền của đương sự: Chị
Hoàng Thị H3 y quyền cho T tham gia tố tụng tại Tòa án, không ủy quyền
các vấn đề khác nhưng Tòa án căn cứ vào lời trình bày của bà T nhận định chị H3
cho ông B3 suất thừa kế mình được hưởng vượt quá phạm vi ủy quyền của chị
H3, không đảm bảo quyền lợi của chH3.
3. Vi phạm trong xác định giá trị di sản: Nguồn gốc thửa 216 một phần
đất ao, một phần là đất ở; thửa 217, 219 là đất ao nhưng bản án nhận định toàn bộ
thửa 216, 217, 219 đất theo bản đđịa chính 2004-2005 và tính theo giá trị
đất ở mà không xem xét nguồn gốc đất ao và hạn mức công nhận đất ở là vi phạm
quy định tại khoản 2 Điều 138, 141 Luật Đất đai.
4. Vi phạm trong áp dụng pháp luật: Bản án xác định thửa 212, 216, 217,
219 di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại, không công nhận thửa đất 216, 219
tài sản của vợ chồng ông H, bà Đ nhưng lại công nhận 02 hợp đồng chuyển
12
nhượng quyền sử dụng đất vi phạm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật
về chủ thể có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
5. Vi phạm giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự: Tại phiên
tòa bị đơn ông H bổ sung yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế giá trị đất nông
nghiệp của cụ B2, cụ T4. Yêu cầu phản tố này chưa được thụ nhưng Hội đồng
xét xử chấp nhận yêu cầu chia 172.000.000 đồng tiền đền giá trị đất nông
nghiệp do ông B3 đang quản vi phạm giải quyết vượt qyêu cầu khởi kiện
của đương sự theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Trần Văn H người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Trần Thị Đ thay đổi một phần nội dung kháng cáo: Thửa
217, 219 ban đầu là thửa đất ao của nnước, ông H, Đ đã thực hiện việc san
lấp, cải tạo thành đất trong nhiều năm thực hiện nghĩa vđóng thuế được
công nhận tại bản đồ đo đạc. Thửa đất 217 có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng đất
của ông H nhưng sau đó ông H đổi đất cho ông B3 để quản lý, sử dụng thửa 216.
Theo bản đồ 1995-1996, bản đồ năm 2004- 2005 sổ mục được lưu giữ tại
chính quyền địa phương đều thể hiện thửa đất 216, 219 đều đăng quyền sử
dụng đất đứng tên ông Trần Văn H (năm 2004-2005 thửa 216 đứng tên Trần
Thị Đ, vợ ông H). Như vậy, thửa 216, 219 thuộc quyền sử dụng đất của ông H, bà
Đ.
Đối với thửa 212, 217 đứng tên quyền sử dụng đất của ông B3 nhưng tại
phiên tòa ông Bình công N đây đất của cụ T4, cụ B2 để lại nên đnghị Tòa án
chia di sản thừa kế của hai cụ để lại theo quy định pháp luật. Đối với phần đất
ruộng được bồi thường 172.000.000 đồng, đề nghị được nhận bằng tiền theo quy
định pháp luật. Trường hợp Tòa án chia thừa kế cho ông H được hưởng phần di
sản thừa kế thửa 212, 217 tiền bồi thường phần đất ruộng của cụ B2, cụ T4
172.000.000 đồng theo quy định pháp luật thì ông H tự nguyện tặng cho phần
di sản thừa kế ông được hưởng cho ông B3 quản lý, sử dụng không đề nghị
tính phần công sức đóng góp đối với di sản thừa kế hai cụ để lại.
Ông đề nghị được hưởng 93,2m² (là một phần thửa 212) cụ T4 đã cho
ông. Đối với một phần diện tích tại thửa 216 ông đã chuyển nhượng cho vợ chồng
ông T2 thửa 219 chuyển nhượng cho ông S đề nghị Tòa án công nhận hợp
đồng chuyển nhượng giữa vợ chồng ông và vợ chồng ông T2, vợ chồng ông S.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng
thay đổi một phần yêu cầu kháng nghị đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản
án sơ thẩm.
Nguyên đơn Trần Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông
Trần Duy B và người được ủy quyền của ông P1, chị H3, anh H2, chH4, chị T9
T, ông B, B1 vẫn giữ nguyên yêu cầu như cấp thẩm, đề nghị Tòa án
chia di sản thừa kế đối với số tiền được bồi thường phần đất ruộng của cụ B2, cụ
T4 172.000.000 đồng theo quy định pháp luật (bà T đề nghị chia bằng tiền
mặt). Các đồng thừa kế đề nghị giao số tiền 172.000.000 đồng cho ông B. Các
ông khẳng định thửa 212, 216, 217, 219 đều di sản thừa kế của hai cụ để lại
và đề nghị giao bằng hiện vật cho ông B quản lý, sử dụng.
13

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa phúc
thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư Tòa án đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã chấp hành thực hiện đúng
các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với nội dung kháng cáo, kháng nghị: Đề nghị Hội đồng xét xphúc
thẩm áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 147
BLTTDS; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc
Hội quy định về mức thu, miễn giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí
Toà án, xử:
Chấp nhận kháng nghị của VKSND khu vực 8, TP Hải Phòng, chấp nhận
một phần kháng cáo của ông H, Đ sửa bản án thẩm s40 ngày 26/9/2025
của TAND Khu vực 8, TP Hải Phòng theo hướng:
Xác định thửa đất 216 thửa đất 219 thuộc quyền sử dụng của ông Trần
Văn H Trần Thị Đ nên không phải di sản của cụ B2, cụ T4 để chia thừa
kế theo pháp luật.
Chấp nhận sự tnguyện của ông H về việc không nhận kỷ phần di sản của
cụ B2, cụ T4 mà ông được hưởng mà để lại chia cho các đồng thừa kế khác.
Về án phí: Do sửa bản án nên đương sự không phải chịu án phí phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về tố tụng:
[1] Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn yêu cầu độc lập của người quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xác
định đây là quan hệ pháp luật “tranh chấp về thừa kế tài sản, hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”. Tại thời điểm thụ lý, bị đơn cư trú tại Khu B, phường
T, thành phố H, tỉnh Hải Dương (nay phường T, thành phố Hải Phòng) nên vụ
án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương (nay
Tòa án nhân dân khu vực 8 Hải Phòng) theo quy định tại khoản 3, khoản 5
Điều 26, Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2
Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/5/2025 của Quốc hội. Do vụ án kháng
cáo nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2]  Tại phiên tòa, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân phường L, ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng
Thị H3, chị Hoàng Thị H4, Dương Thị B1, ông Nguyễn Văn T2, Phạm Thị
D, bà Trần Thị T3 đều vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều
296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xtiếp tục tiến hành xét xử theo
thủ tục chung.
[3] Kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H, người quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan bà Trần Thị Đ kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 -
14
Hải Phòng đúng quy định pháp luật nên được xem xét giải quyết theo thủ tục
phúc thẩm.
[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo ông Trần Văn H, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Đ công nhận thửa 212, 217 di sản
thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại rút một phần kháng cáo vviệc xác định một
phần thửa đất số 212 (hồ năm 1980 thửa số 163) thuộc tờ bản đồ số 33
thửa đất 217 không phải di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại, đề nghị Tòa án
xem xét công sức tôn tạo, làm tăng giá trị tài sản của thửa đất số 217, 219, thuộc
tờ bản đồ số 33 từ đất ao thành đất hủy Giấy chứng nhận quyền sdụng đất
số AK 498695 do UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 28/8/2007 đứng
tên bà Hoàng Thị T4 đối với thửa số 212, tờ bản đồ số 33; địa chỉ: Khu B, phường
L, thành phố Hải Phòng. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng thay đổi
một phần yêu cầu kháng nghị, không kháng nghị trong việc vi phạm trong việc
xác minh đất nông nghiệp và giá trị đất nông nghiệp được đền bù là di sản thừa kế
vi phạm giải quyết vượt quá phạm vi khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ B2,
cụ T4 để lại số tiền bồi thường giá trị đất nông nghiệp 172.000.000 đồng theo
quy định pháp luật, vi phạm giải quyết vượt quá phạm vi ủy quyền của chị Hoàng
Thị H3 ủy quyền cho T, vi phạm trong xác định giá trị thửa 216, 217, 219
đất tính theo giá trị đất không xem xét nguồn gốc đất ao hạn mức
công nhận đất ở. Đối với các yêu cầu kháng nghị khác được giữ nguyên đề
nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án thẩm. Xét thấy việc thay đổi, rút yêu
cầu kháng cáo, kháng nghị không vượt quá phạm vi kháng cáo, kháng nghị ban
đầu nên căn cứ Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu
cầu thay đổi, rút một phần kháng cáo, kháng nghị của ông H, Đ Viện Kiểm
sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng.
- Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Trần Thị Đ kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu
vực 8 - Hải Phòng:
[5] Về phạm vi yêu cầu khởi kiện yêu cầu chia số tiền đền đất nông
nghiệp của cụ B2, cụ T4: Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu chia di sản thừa
kế của cụ B2, cụ T4 các thửa đất 212, 216, 217, 219, người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan vợ chồng ông T2, D vợ chồng ông S, T3 yêu cầu độc lập
công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông H,
Đ và vợ chồng ông bà hợp pháp. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông H bổ sung yêu
cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại là số tiền bồi thường giá
trị đất nông nghiệp 172.000.000 đồng theo quy định pháp luật các đồng thừa
kế là T, bà H1, ông B đều đồng ý chia số tiền trên. Xét thấy, số tiền bồi thường
giá trị đất nông nghiệp của cụ B2, cụ T4 172.000.000 đồng thuộc phạm vi di
sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại nên Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết trong cùng
vụ án là phù hợp, không vượt quá phạm vi yêu cầu của đương stheo Điều 244
Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[6] Về phạm vi ủy quyền của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, chồng
các con của Trần Thị T5 là ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh
Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị H4, chị Hoàng Thị Tuyết H5 đều Giấy y
15
quyền cho Trần Thị T, chị H3 (hiện đang ttại Úc) y quyền cho T
tham gia tố tụng tại Tòa án. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T xác định phạm vi nhận
uỷ quyền của chị H3 cũng như phạm vi nhận uquyền của ông P1, anh H2, chị
H4, chị T9, nhất trí cho ông B suất thừa kế mà mình được hưởng và các suất thừa
kế những người ủy quyền cho được hưởng, các đương phía nguyên đơn
không kháng cáo. Do đó, việc Tòa án cấp thẩm chấp nhận văn bản ủy quyền
của ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị
H4, chị Hoàng Thị Tuyết H5 cho Trần Thị T đúng quy định theo Điều 135,
Điều 138 .
[7] Về yêu cầu chia thừa kế tài sản là thửa 212, 216, 217, 219:
[7.1] Về thời điểm mở thừa kế thời hiệu khởi kiện vụ án: Cụ Trần Văn
B2 chết ngày 30/5/2002 cụ Hoàng Thị T4 chết ngày 28/11/2012 nên thời điểm
mở thừa kế của cụ B2 là ngày 30/5/2002, của cụ T4 là ngày 28/11/2012. Theo quy
định tại Điều 623 Bộ luật Dân sự, thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ B2,
cụ T4 vẫn còn.
[7.2] Về hàng thừa kế, người thừa kế: Lời khai của các đương sự đều xác
nhận: Cụ B2 cụ T4 vợ chồng hợp pháp 07 người con chung là: ông
Trần Văn M (chết năm 1973, không vợ, con), Trần Thị D1 (chết năm 1946,
không có chồng, con), bà Trần Thị T5 (chết năm 2023); ông Trần Văn H; bà Trần
Thị H1; Trần Thị T ông Trần Duy B. Ngoài ra, các cụ không con nuôi,
con riêng. Bố mcác cụ đều chết trước các cụ. Đây tình tiết skiện được các
đương sự thừa nhận, không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân
sự.
[7.2.1] Cụ B2 chết m 2002, không để lại di chúc nên hàng thừa kế thứ
nhất của cụ B2 gồm 06 kỷ phần cụ T4, T5 (chồng các con của bà T5
ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị H4,
chị Hoàng Thị T9 được hưởng), ông H, bà H1, bà T, ông B.
[7.2.2] Cụ T4 chết năm 2012, không đlại di chúc nên hàng thừa kế thứ
nhất của cụ T4 gồm 05 kỷ phần là T5 (chồng các con của T5 ông
Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng n H2, chị Hoàng Thị H4, ch
Hoàng Thị T9 được hưởng), ông H, bà H1, bà T, ông B.
[7.3] Về nguồn gốc đất và tài sản chung của cụ B2 và cụ T4:
[7.3.1] Đối với thửa 212: Căn cứ vào tài liệu xác minh tại chính quyền địa
phương thể hiện: Theo bản đồ năm 1995-1996 và sổ mục kê thể hiện: tờ bản đồ s
7 thửa 259, diện tích 365m² mang tên ông Trần Văn B2, loại đất T. Theo bản
đồ năm 2004-2005 sổ mục thể hiện: thửa 212, diện tích 392,2m², mang tên
Hoàng Thị T4 đã được UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất ngày 28/8/2007 mang tên Hoàng Thị T4 (là người đại diện). Mặc tại
sổ mục 299 thể hiện ông H đứng tên nhưng bản đồ giải thửa năm 1995 -1996,
bản đồ giải thửa năm 2004- 2005 smục kê, thửa 212 đều đứng tên cụ B2 (cụ
Trần Văn D2). Mặt khác, theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa
đất 212 cấp cho Hoàng Thị T4 (đứng tên đại diện), tại đơn xin cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất xác nhận của Ủy ban nhân dân phường T: 
16

2

  
180 DT 128m
2
mang tên  
2

con ông H        
2
    
137,4m
2

. Tại phiên tòa, ông H các đồng thừa kế đều xác nhận thửa đất
212 di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại. Việc Tòa án cấp thẩm xác định
thửa đất 212 là tài sản chung của cụ B2, cụ T4 là đúng quy định pháp luật.
[7.3.2] Đối với thửa đất số 216, 219: Theo bản đồ 1995-1996, bản đồ năm
2004- 2005 sổ mục được lưu giữ tại chính quyền địa phương đều thể hiện
thửa đất 216, 219 đều đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên ông Trần Văn H (năm
2004-2005 thửa 216 đứng tên Trần Thị Đ, vợ ông H). Sau khi đăng khai
quyền sử dụng đất, vợ chồng ông H, Đ đã quản lý, sử dụng thửa đất 216, 219
từ năm 1995 sinh sống ổn định, xây nhà trên một phần thửa đất 216, vợ chồng
cụ B2, cụ T4 còn sống không ý kiến gì. Ngày 14/9/2007 vợ chồng ông H
chuyển nhượng cho vợ chồng ông S T3 thửa đất 219 diện tích 150,1 m²;
ngày 10/3/2009 vợ chồng ông H chuyển nhượng cho vợ chồng ông T2 D một
phần thửa đất 216. Thời điểm đó, cụ T4 còn sống, cụ các đồng thừa kế của cụ
B2 đã biết việc ông H chuyển nhượng đất, bên nhận chuyển nhượng đã quản lý,
sử dụng, xây nhà trên đất không ý kiến gì, không tranh chấp. Do đó,
căn cứ xác định thửa đất 216, 219 là tài sản chung của ông H, bà Đ.
[7.3.3] Theo sổ sách lưu giữ tại địa phương, không tài liệu nào thể hiện
thửa 216, 219 đứng tên cụ B2, cụ T4. Tòa án cấp thẩm đã căn cứ vào lời khai
của các anh em họ cụ B2, cụ T4 ông Trần Văn T7, ông Hoàng Văn Đ3, ông
Trần Văn V, lời khai của các cán bộ địa phương thẩm quyền giao đất ông
Nguyễn Văn T6 (nguyên Chủ tịch UBND T từ m 1986 đến ngày
31/12/1999), ông Nguyễn Quốc S1 (nguyên Chủ nhiệm Hợp tác thời kỳ năm
1975 đến năm 1985, đã chết năm 2004) và lời khai của các con cụ T4, cụ B2 là bà
T, H1, ông B để xác định nguồn gốc thửa đất 216, 219 của cụ B2, cụ T4
được Hợp tác giao đất, dẫn đến việc xác định thửa đất 216, 219 di sản thừa
kế của cụ B2, cụ T4 đ lại không đúng, vi phạm đánh giá chứng cứ không
khách quan, toàn diện và đầy đủ.
[7.3.4] Đối với thửa 217: Xác minh tại chính quyền địa phương thể hiện:
Theo bản đồ 1995- 1996, thửa đất số 266, tờ số 7, diện tích 420m² loại đất A
nhưng tại sổ mục đăng tên ông Trần Văn H với diện tích 210m² loại đất T8
Theo bản đồ 2004-2005 sổ mục kê thhiện tại thửa đất số 217, tờ bản đồ 33,
diện tích 160,1m² mang tên ông Trần Văn B3 loại đất T8 Mặc ông H đứng tên
tại sổ mục năm 1995-1996 nhưng sau đó đã thay đổi tên chủ sử dụng đất
khai ông Trần Văn B3. Vợ chồng ông B3 đã quản lý, sử dụng thửa đất 217 từ
thời điểm hai cụ còn sống, xây nhà và sinh sống ổn định trên đất, vợ chồng ông H,
Đ không phản đối gì. Lời khai của ông H xác nhận năm 1982, bố mẹ ông đã
cho vợ chồng ông ra ở riêng nên bố mẹ ông đã đổi thửa đất 217 của ông, bà để đổi
lấy thửa 216 của bố mẹ ông, hiện thửa đất 217 là của ông B3. Lời khai của ông H
phù hợp với sổ sách lưu giữ tại chính quyền địa phương, phù hợp với lời khai ông
B3, bà T, bà H1 về việc thửa đất có nguồn gốc của cụ B2, cụ T4 để lại, sau đó ông
17
B3 đứng tên kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa 217 và hiện vợ chồng ông B3
đang quản lý, sử dụng diện tích đất trên. Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông
B3, T, bà H1 xác nhận thửa 217 di sản của bmẹ đlại, ông Hòa đồng Ý
nên cần xác định thửa 217 là tài sản chung của cụ B2, cụ T4 để lại.
[7.3.5] Từ những phân tích trên đủ sở xác định, thửa đất 212, 217
di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại. Thửa 216, 219 là tài sản chung của vợ
chồng ông H, Đ. Việc Tòa án cấp thẩm xác định cả 02 thửa 216, 219 di
sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại chia 02 thửa đất trên cho các đồng thừa kế
là vi phạm thu thập, đánh giá chứng cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp
của vợ chồng ông H, Đ các đương sự khác trong vụ án. Do đó, cần chấp
nhận một phần kháng nghcủa Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 Hải Phòng,
một phần kháng cáo bị đơn ông H người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đ
về việc xác định thửa đất 216, 219 là tài sản chung của ông H, bà Đ.
[7.3.6] Đối với việc xác định giá trị di sản thừa kế: Theo bản đồ 299 sổ
mục thể hiện thửa 216 một phần đất ao, một phần đất ở, thửa 217, 219,
loại đất ao hợp tác xã; tuy nhiên, theo sổ mục thời kỳ 1995-1996 và bản đồ, sổ
mục 2004-2005 đều thể hiện thửa 216, 217, 219, loại đất thổ cư. Tài liệu lưu
giữ tại địa phương phù hợp với lời khai của các đương sự, lời khai của người làm
chứng là ông Hoàng Văn Đ4, Trần Thị T3 xác nhận trước đây thửa 216, 217,
219 đất ao, sau đó ông H đã san lấp thửa đất 216, 217, 219; đến nay các thửa
216, 217, 219 theo sổ sách lưu giữ tại địa phương đất nên cần công nhận các
thửa 216, 217, 219 là đất ở. Tòa án cấp sơ thẩm xác định thửa đất 216, 217, 219 là
đất ở và tính theo giá trị đất ở là đúng quy định.
[7.3.7] Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ: Thửa đất số 212, hiện nay
vợ chồng ông B3, A đang quản sử dụng diện tích đo đạc theo hiện trạng
417,1m², giá trị quyền sử dụng đất 203,1m² x 35.000.000 đồng/m² =
7.108.500.000 đồng; 51,7m² x 25.000.000 đồng/m² = 1.292.500.000 đồng và
162,3 m² đất vườn x 12.000.000 đồng/m² = 1.947.600.000 đồng sử dụng diện
tích 9,8m² đất san lấp thuộc quyền quản của địa phương. Thửa đất 217, hiện
nay ông B3 và bà A quản lý, sử dụng có diện tích đo đạc theo hiện trạng là 165m
2
,
giá trị quyền sử dụng đất 165m
2
x 35.000.000 đồng/m² = 5.775.000.000 đồng
quản sử dụng diện tích 14,4m
2
san lấp thuộc quyền quản của địa phương.
Như vậy, giá trị diện tích đất thửa 212, 217 là 16.123.600.000 đồng.
[7.3.8] Trên thửa 212, 217, vợ chồng ông B3 xây nhà công trình phụ
trên đất, ông B3 và bà A không yêu cầu giải quyết đối với tài sản trên đất nên Hội
đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[7.4] Về công sức san lấp đất ao: Tại cấp sơ thẩm c đương sự không cung
cấp được cụ thể việc san lấp, Toà án cũng không xác minh thu thập giá trị công
sức san lấp áng trích công sức quản di sản cho ông H, Đ 3.000.000.000
đồng tương ứng 120m
2
quá cao so với công sức ông H, Đ được hưởng. Tuy
nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, vợ chồng ông H không yêu cầu giải quyết về công
sức nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết về công sức quản lý, tôn tạo
di sản thừa kế của vợ chồng ông H, Đ. Tại cấp phúc thầm, ông B3 trình bày
năm 1991, ông đã mua cát san lấp thửa 212 để xây nhà; đến năm 2000, ông đã san
18
lấp thửa 217 để xây nhà trọ nên ông yêu cầu tính công sức tôn tạo, quản di sản
thừa kế tuy nhiên tại cấp thẩm, vợ chồng ông B3 không yêu cầu tính công sức
tôn tạo, quản di sản thừa kế đối với thửa 212, 217 nên Hội đồng xét xphúc
thẩm không xem xét, giải quyết do không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm theo
Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[7.5] Đối với số tiền 172.000.000 đồng: Quá trình giải quyết vụ án, ông B3
trình bày thời điểm chia đất, gia đình ông gồm 04 khẩu được chia đất gồm cụ
B2, cụ T4, ông B3 con gái ông B3. Tuy nhiên, ông B3 không xuất trình được
tài liệu chứng minh. Tại cấp sơ thẩm, các đương sự đều thừa nhận số tiền
172.000.000 đồng tiền bồi thường đất nông nghiệp của cụ B2, cụ T4 đlại;
hiện ông B3 đang người quản số tiền trên. Do đó, cần xác định số tiền
172.000.000 đồng bồi thường đất nông nghiệp di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4
để lại.
[8] Về chia di sản thừa kế: Tổng giá trị di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 đối
với thửa 212, 217 16.123.600.000 đồng số tiền 172.000.000 đồng
16.295.600.000 đồng nên di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 mỗi người để lại
8.147.800.000 đồng.
[8.1] Di sản thừa kế của cụ B2 là 8.147.800.000 đồng nên cần chia cho 06
kỷ phần cụ T4, T5, ông H, H1, T, ông B3, mỗi kỷ phần thừa kế được
hưởng là 1.357.966.667 đồng.
[8.2] Di sản thừa kế của cụ T4 8.147.800.000 đồng + 1.357.966.666
đồng = 9.505.766.667 đồng nên cần chia cho 05 kỷ phần T5, ông H, H1,
bà T, ông B3, mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng là 1.901.153.333 đồng
[8.3] Như vậy, T5, ông H, bà H1, T, ông B3 mỗi người được hưởng
là 3.259.120.000 đồng. Bà T5 chết năm 2023 sau thời điểm cụ B2, cụ T4 chết nên
chồng các con của T5 ông Hoàng Văn P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng
Văn H2, chị Hoàng Thị H4, chị Hoàng Thị T9 được hưởng kỷ phần thừa kế của
T5 được hưởng của cụ B2 cụ T4 3.259.120.000 đồng, mỗi người được
hưởng là 651.824.000 đồng.
[8.4] Hiện nay, vợ chồng ông B3, bà A đã xây dựng nhà và tài sản trên thửa
212, 217 ông B3 đề nghị Tòa án chia thừa kế bằng hiện vật. Quá trình giải
quyết vụ án, ông H, H1, bà T, hàng thừa kế thứ nhất của bà T5 đồng ý giao cho
vợ chồng ông B3, A quản lý, sdụng số tiền 172.000.000 đồng tiền bồi
thường đất nông nghiệp của cụ B2, cụ T4 để lại, thửa 212, 217 cùng tài sản gắn
liền với đất không đề nghị thanh toán giá trị kphần thừa kế nên ghi nhận sự
tự nguyện trên, giao cho vợ chồng ông B3, A quản lý, sử dụng thửa 212, 217
và tài sản trên đất (có sơ đồ kèm theo) và số tiền 172.000.000 đồng.
[9] Về công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ
chồng ông H, Đ vợ chồng ông T2, D, vợ chồng ông S, T3: Ngày
14/9/2007 vợ chồng ông H chuyển nhượng cho vợ chồng ông S T3 thửa đất
219 diện tích 150,1 trị giá 400.000.000 đồng, ông S đã thanh toán
380.000.000 đồng, còn lại 20.000.000 đồng cho đến khi bìa đỏ sẽ giao nốt.
Ngày 10/3/2009 vợ chồng ông H chuyển nhượng cho vợ chồng ông T2 D một
19
phần thửa đất 216 kích thước chiều rộng 4,15m, chiều dài 16,5m, trị giá
325.000.000 đồng, ông T2 đã thanh toán 315.000.000 đồng, còn lại 10.000.000
đồng đến khi a đỏ sẽ giao nốt. Như vậy, thời hạn thực hiện hợp đồng được
hai bên xác định cho đến khi thực hiện xong thủ tục cấp GCNQSDĐ nên đây
giao dịch đang được thực hiện. Về nội dung, hình thức hợp đồng phù hợp với quy
định Bộ luật Dân sự năm 2015 nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 là đúng quy
định tại điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy, tuy thời
điểm các bên thực hiện việc chuyển nhượng, bị đơn ông H, Đ chưa được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Hợp đồng chuyển nhượng chưa được
công chứng, chứng thực, không tuân thủ về hình thức theo khoản 1 Điều 502 Bộ
luật Dân sự năm 2015, đến nay bên mua chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất nhưng nội dung thỏa thuận trong hợp đồng hoàn toàn tnguyện,
không vi phạm quy định pháp luật, không trái đạo đức hội, hai bên đã thỏa
thuận vị trí, kích thước, diện tích, giáp ranh của thửa đất, bên bán vợ chồng
ông H, Đ quyền sdụng, định đoạt thửa 216, 219 nên ông quyền
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên bán đã giao đất, bên mua đã thực hiện trên
2/3 nghĩa vtrả tiền nhận đất, xây nổn định, sinh sống trên đất từ khi mua
đến nay, không tranh chấp gì. Do đó, cần xác định 02 hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng ông H, bà Đ cho vợ chồng ông T2, bà D
vợ chồng ông S, T3 phát sinh hiệu lực theo Điều 129 Bộ luật Dân sự năm
2015. Tòa cấp thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan là vợ chồng ông T2, bà D, vợ chồng ông S, bà T3 công nhận hiệu lực
02 Hợp đồng chuyển nhượng trên là đúng quy định pháp luật.
[10] Ông H khai thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất năm
2006, cụ T4 đã cho ông H diện tích 93,2m² (một phần thuộc thửa 212), sau đó ông
đã nhập diện tích 93,2m
2
vào thửa 216 hiện vợ chồng ông H đang quản lý, sử
dụng một phần thửa 216 diện tích theo đo đạc hiện trạng 350,4m² đất ở. Do
ông H đã chuyển nhượng một phần diện tích thửa 216 cho vợ chồng ông T2,
D, chuyển nhượng toàn bộ thửa 219 cho vợ chồng ông S, T3 nên diện tích đất
còn lại 350,4m² đất (bao gồm diện tích 93,2m² cụ T4 đã cho ông H), ông H đề
nghị Tòa án giao cho vợ chồng ông quản lý, sử dụng diện tích 350,4m² đất nên
cần chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông H, giao cho ông Trần Văn H
Trần Thị Đ sử dụng diện tích 350,4m² đất trị giá 10.781.000.000 đồng
quyền shữu các tài sản, công trình trên thửa số 216, tờ bản đồ số 33, V, khu B,
phường L, thành phố Hải Phòng hiệu S2 (có đkèm theo). Tạm giao
phần diện tích 11,1m² đất dôi dư ký hiệu S2.1¹ (có sơ đồ kèm theo) cho ông H, bà
Đ sử dụng. Khi quan nhà nước thẩm quyền quyết định đối với phần đất
này, ông H, bà Đ phải có nghĩa vụ chấp hành.
[11] Về yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt
GCNQSDĐ) của bị đơn người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn:
Theo hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Tòa án cấp sơ thẩm thu
thập thì thửa đất 212 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 498695
do UBND thành phố H, tỉnh Hải Dương cấp ngày 28/8/2007 đứng tên Hoàng
Thị T4 đứng tên đại diện. Như đã phân tích trên, thửa đất 212 tài sản chung
của cụ B2, cụ T4. Thời điểm cấp GCNQSDĐ cho cụ T4 thì cụ B2 đã chết. Mặc
20
hồ cấp GCNQSDĐ không văn bản xác nhận về hàng thừa kế của cụ B2
nhưng GCNQSDĐ cấp cho cụ T4 đứng tên người đại diện, không phải cấp
riêng cho chủ sử dụng đất là cụ T4 nên không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp
ích của các đương sự khác. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H các đương sự
không yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Hội đồng xét xử
không xem xét, giải quyết.
[12] Tòa cấp sơ thẩm đã xác định thửa đất 216, 219 là di sản thừa kế của cụ
B2, cụ T4 để lại vi phạm đánh giá, thu thập chứng cứ không khách quan, toàn
diện đầy đủ. Mặt khác, T5 người được hưởng thừa kế theo pháp luật của
cụ B2, cụ T4, T5 chết sau thời điểm hai cụ chết nên chồng các con T5
được hưởng kỷ phần thừa kế của T5, tuy nhiên cấp thẩm chỉ chia thừa kế
cho các con của bà T5 là không đúng quy định pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích hợp pháp của chồng bà T5. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa cấp sơ thẩm đã
thẩm định diện tích đất tài sản trên đất nhưng Quyết định thành lập Hội đồng
định giá biên bản định giá chỉ định giá giá trị của thửa đất 212, 216, 217, 219
không định giá giá trị tài sản trên đất thiếu sót. Tuy nhiên những vi phạm,
thiếu sót trên không ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi ích hợp pháp của
các đương snên cần rút kinh nghiệm đối với Tòa án cấp thẩm trong việc xác
minh, thu thập, đánh giá chứng cứ trong việc giải quyết vụ án.
[13] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Trần Thị Đ và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng,
cần sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm về chia di sản thừa kế và phần án phí dân
sự thẩm theo khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân stheo hướng
chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản
tố của bị đơn ông H, chấp nhận toàn byêu cầu độc lập của người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan ông T2, bà D và ông S, bà T3
[14] Về án phí dân sự thẩm: Hàng thừa kế thnhất của T5, ông P1,
ông H, ông B3, H1, T phải chịu án phí dân sự thẩm đối với kỷ phần thừa
kế được hưởng. Vợ chồng ông H, bà Đ phải chịu án phí dân sự thẩm do toàn
bộ yêu cầu độc lập của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được chấp nhận.
Tuy nhiên, ông P1, ông H, ông B3, bà H1, bà T, bà Đ là người cao tuổi, có đơn đề
nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm nên miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông
bà. T5 người cao tuổi, được miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm hàng
thừa kế thứ nhất của T5 đã cho kỷ phần thừa kế được hưởng cho ông B3 (là
người cao tuổi, được miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm) nên hàng thừa kế của
T5 chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2, chị Hoàng Thị H4, chị Hoàng
Thị T9 được miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm. Trả lại 300.000 đồng tiền tạm
ứng án phí cho bà Trần Thị T3 do yêu cầu độc lập của bà T3 và ông Hoàng Văn S
được chấp nhận.
[15] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận
nên bị đơn ông Trần Văn H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Đ
không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
21
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 2 Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều
309, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H, người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Thị Đ kháng nghị của Viện Kiểm sát
nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng
Sửa một phần Bản án dân sự thẩm s40/2025/DS-ST ngày 26 tháng 9
năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng
Căn cứ vào các điều 147, 157, 158, 165 166, khoản 2 Điều 228 của Bộ
luật Tố tụng dân sự; các điều 357, 468, 611, 612, 613, 649, 650, 651 660 của
Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T về
phân chia di sản thừa kế:
1.1. Xác định di sản thừa kế của cụ B2, cụ T4 để lại là:
- Thửa đất số 212, tờ bản đồ số 33, diện tích đo đạc theo hiện trạng
417,1m², bao gồm 254,8m² đất ở và 162,3 m² đất vườn.
- Thửa đất 217 diện tích đo đạc theo hiện trạng là 165m
2
đất ở.
- Số tiền bồi thường đền đất nông nghiệp của cụ B2, cụ T4 để lại
172.000.000 đồng
1.2. Về phân chia di sản thừa kế:
- Giao cho ông Trần Văn B3 Hoàng Thị Ngọc A quản lý, sử dụng
diện tích 417,1m² (trong đó 254,8m² đất 162,3m² đất vườn) trị giá
10.348.600.000 đồng và quyền sở hữu các tài sản, công trình trên thửa số 212, tờ
bản đồ số 33, V, khu B, phường L, thành phố Hải Phòng hiệu S1 được giới
hạn bởi các điểm A7, A8, A39, A40, A9, A10, A11, A22, A23, A7. Tạm giao
phần diện tích 9,8m² đất dôi hiệu S1
1
được giới hạn bởi các điểm A3, A4,
A5, A6, A8, A7, A3 cho ông B3, A sử dụng. Khi quan nhà nước thẩm
quyền quyết định đối với phần đất này, ông B3, bà A phải có nghĩa vụ chấp hành.
- Giao cho ông Trần Văn B3 Hoàng Thị Ngọc A quản lý, sử dụng
diện tích 165m² đất trị giá 5.775.000.000 đồng quyền sở hữu các tài sản,
công trình trên thửa số 217, tờ bản đồ số 33, V, khu B, phường L, thành phố Hải
Phòng hiệu S4 được giới hạn bởi các điểm A33, A34, A35, A36, A33. Tạm
giao phần diện tích 14,4 đất dôi hiệu S4
1
được giới hạn bởi các điểm
A33, A36, A31, A32, A33 cho ông B3, A sdụng. Khi quan nhà nước
thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông B3, A phải nghĩa vụ chấp
hành (có sơ đồ kèm theo).
- Giao cho ông Trần Văn B3 số tiền 172.000.000 đồng (ông B3 đang quản
lý).
22
2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông H:
2.1. Công nhận một phần thửa đất 216, diện tích đo đạc theo hiện trạng
350,4m² đất ở tại thửa đất số 216, tờ bản đồ số 33 tại khu B, phường L, thành phố
Hải Phòng thuộc quyền sử dụng đất của vợ chồng ông H, bà Đ.
2.2. Giao cho ông Trần Văn HTrần Thị Đ sử dụng diện tích 350,4m²
đất (bao gồm cả diện tích 93,2m
2
cụ T4 đã cho ông H), trị giá 10.781.000.000
đồng và quyền sở hữu các tài sản, công trình trên thửa số 216, tờ bản đồ số 33, V,
khu B, phường L, thành phố Hải Phòng hiệu S2 được giới hạn bởi các điểm
A24, A25, A21, A23, A22, A11, A12, A13, A14, A15, A16, A17, A18, A19,
A20, A24. Tạm giao phần diện tích 11,1m² đất dôi hiệu S2¹ được giới hạn
bởi các điểm A1, A2, A25, A24, A1 cho ông H, bà Đ sử dụng. Khi quan nhà
nước thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông H, Đ phải nghĩa
vụ chấp hành (có sơ đồ kèm theo).
Các đương sự được giao đất trách nhiệm liên hvới quan thẩm
quyền thực hiện trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy
định pháp luật.
3. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T2 Phạm Thị D:
Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất giữa
ông Trần Văn H, Trần Thị Đ và ông Nguyễn Văn T2, Phạm Thị D được lập
ngày 10/3/2009 đối với diện tích 64,4m² đất trị giá 2.254.000.000 đồng
quyền shữu các tài sản, công trình trên thửa số 216, tờ bản đồ số 33, V, khu B,
phường L, thành phố Hải Phòng hiệu S3 được giới hạn bởi các điểm A25,
A7, A23, A21, A25 hợp pháp. Tạm giao phần diện tích 4,8m² đất dôi dư
hiệu S3¹ được giới hạn bởi các điểm A3, A7, A25, A2, A3 cho ông T2, D sử
dụng. Khi Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông
T2, bà D phải có nghĩa vụ chấp hành (có sơ đồ kèm theo).
4. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Hoàng Văn S, bà Trần Thị T3: Công
nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu nquyền sử dụng đất giữa ông
Trần Văn H, Trần Thị Đ ông Hoàng Văn S, Trần Thị T3 được lập ngày
14/9/2007 đối với diện tích 150,9m² đất trị giá 6.337.800.000 đồng và quyền sở
hữu các tài sản, công trình trên thửa số 219, tờ bản đồ số 33, V, khu B, phường L,
thành phố Hải Phòng hiệu S5 được giới hạn bởi các điểm A35, A36, A37,
A38, A35 hợp pháp. Tạm giao phần diện tích 32,3m² đất dôi hiệu S5¹
được giới hạn bởi các điểm A31, A36, A37, A38, A26, A27, A28, A29, A30, A31
cho bà Trần Thị T3 và hàng thừa kế thứ nhất của ông Hoàng Văn S là bà Trần Thị
T3, cụ Nguyễn Thị Đ1, anh Hoàng Trung Đ2, anh Hoàng Tuấn A1 sử dụng. Khi
quan nhà nước thẩm quyền quyết định đối với phần đất này, ông S, T3
phải có nghĩa vụ chấp hành (có sơ đồ kèm theo).
5. Về án phí dân sự thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự thẩm cho ông
H, ông B3, H1, T, Đ2, ông P1, chị Hoàng Thị H3, anh Hoàng Văn H2,
chị Hoàng Thị H4, chị Hoàng Thị Tuyết . Trả lại 300.000 đồng tiền tạm ứng án
phí cho bà Trần Thị T3 đã nộp theo Biên lai số 0003084 ngày 12/4/2024 tại Chi
23
cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương (nay Phòng Thi
hành án dân sự khu vực 8 – Hải Phòng).
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Trần Văn H, người quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP Hi Phòng;
- TAND khu vc 8 - Hi Phòng;
- Phòng THADS khu vc 8 - Hi Phòng;
- Lưu: HCTP, hồ sơ vụ án.
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 178/2026/DS-PT Bản án số 178/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 178/2026/DS-PT Bản án số 178/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất