Bản án số 440/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 440/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 440/2026/DS-PT ngày 23/06/2026 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 440/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Huỳnh Tấn B kiện Tranh chấp thừa kế với bà Huỳnh Thị M
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 440/2026/DS-PT Bản án số 440/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 440/2026/DS-PT Bản án số 440/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 440/2026/DS-PT
Ngày: 23-6-2026
V/v Tranh chấp di sản thừa kế”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Đào
Ông Phạm Thành Dương
Thư phiên tòa: Nguyễn Thanh Minh - Thư Tòa án nhân dân
Thành phố Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2026, tại Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Nai
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 338/2026/TLPT-DS ngày 02 tháng
6 năm 2026 về việc: “Tranh chấp di sản thừa kế”.
Do Bản án thẩm số: 499/2025/DS-ST ngày 29-12-2025 của Tòa án
nhân dân Khu vực 1- Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 423/2026/QĐ-PT
ngày 03 tháng 6 năm 2026 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Tấn B, sinh năm 1959.
Địa chỉ: Số A, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(nay là số A, tổ A, khu phố T, phường T, Thành phố Đ).
2. Bị đơn:
2.1. Bà Huỳnh Thị M, sinh năm 1949.
Địa chỉ: 1, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(phường T, Thành phố Đ).
2.2. Bà Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1964.
Địa chỉ: D, p B, G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay T, Thành phố
Đ).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà M, bà C: Ông Si Minh A, sinh năm
1974. Địa chỉ: 1, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay tổ
A, khu phố T, phường T, Thành phố Đ). (Văn bản uỷ quyền ngày 05/6/2025)
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Huỳnh Tấn Đ, sinh năm 1953.
2
Địa chỉ: 1, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
là phường T, Thành phố Đ).
3.2. Ông Huỳnh Tấn T, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Số B, đường D, ấp B, T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay
H, Thành phố Đ).
3.3. Ông Huỳnh Tấn K, sinh năm 1962.
Địa chỉ: Số A, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
(nay là phường T, Thành phố Đ).
3.3. Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố B (nay Trung tâm Phát
triển quỹ đất chi nhánh B1).
Địa chỉ trụ sở: Số B đường V, khu phố G, phường T, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai (nay là phường T, Thành phố Đ).
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Huỳnh Tấn B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện qtrình tố tụng nguyên đơn ông Huỳnh
Tấn B trình bày:
Cha ông tên Huỳnh Văn T1 đã chết năm 1997 mẹ ông tên Cao Thị H
đã chết năm 1988, cha mẹ ông tất cả 06 người con gồm: Huỳnh Tấn B, sinh
năm 1959; Huỳnh Thị M, sinh năm 1949; Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1964;
Huỳnh Tất Đ1, sinh năm 1953; Huỳnh Tấn T, sinh năm 1957; Huỳnh Tấn K,
sinh năm 1962.
Trước khi chết cha mẹ ông có tạo lập được phần diện tích khoảng
4.695m
2
toạ lạc tại khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ). Khi chết cha mẹ ông không để lại di chúc. Đến ngày
02/6/2000 sáu anh chị em ngồi lại với nhau lập bản cam kết Hội đồng gia
tộc theo di nguyện của cha mẹ lúc còn sống chia cho mỗi người con một
miếng đất đã đo ghi diện tích trong bản cam kết gia tộc gồm Huỳnh Thị
M, Huỳnh Tấn Đ, Huỳnh Tấn T, Huỳnh Tấn B, Huỳnh Tấn K, Huỳnh Thị Kim
C. Tổng diện tích cha mẹ cho là 4.695m
2
. Trong cuộc họp có anh Huỳnh Tấn T
thư ghi cho mỗi người một bản cam kết chữ tên của 06 anh chị
em để ra Ủy ban nhân dân xã ký chứng thực để làm Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất. Phần diện ch đất của tôi được cha mẹ cho tôi đã làm thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Riêng diện tích đất 500m
2
cha mẹ nói lúc
còn sống của chung, anh chị em nào sử dụng thì thông báo cho nhau trong
đó 01 trại nuôi heo xây tường gạch lát nền tông 01 ao nuôi khoảng
150m
2
. Lúc cha mẹ cho 500m
2
trại heo, trại cá có con bác ruột, con cô ruột, con
cậu ruột có đất giáp ranh đều biết.
Vào tháng 4/2020 Ủy ban nhân dân thành phố B Quyết định thu hồi
đất để làm đường ven sông ban đền đến từng nhà để khai thì 04 anh em
ông mới biết Huỳnh Thị M, Huỳnh Thị Kim C đã làm giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất nhập vào diện tích đất của hai người. Cụ thể, bà M được cấp
200m
2
, bà C được cấp 300m
2
thuộc thửa đất số 19, tờ bản đồ số 26, toạ lạc tại
phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay phường T, Thành phố Đ). Bản
3
cam kết gia tộc về việc thống nhất để 500m
2
còn lại làm của chung thì hiện nay
đã bị thất lạc ông cũng không tìm thấy.
Phần diện tích ao cá, chuồng heo 500m
2
hiện nằm trong diện giải toả
bồi thường của dự án đường ven sông Đ, dự án công viên và bờ kè sông T. Vào
ngày 04/3/2021, bà M bà C có đến Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố B để
nhận tiền bồi thường. Tôi yêu cầu M, C chia một phần giá trị bằng
tiền phần đất bị giải toả có giá trị 1.700.000.000 đồng, nhưng bà M bà C không
đồng ý nên tôi đã làm đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa
(nay Toà án nhân dân khu vực 1 Đồng Nai). Do vụ án đang được thụ
giải quyết nên ông B đã đề nghị Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố B gi
lại stiền 200.000.000 đồng để chờ kết quả giải quyết ván tranh chấp di sản
thừa kế mới xử lý số tiền trên.
Tại đơn khởi kiện ông B yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Huỳnh Thị
M, bà Huỳnh Thị Kim C chia cho ông 1 giá trị tài sản là tiền bồi thường do giải
toả của một phần thửa đất số 19, 20 tờ bản đồ số 26 toạ lạc tại phường B, thành
phố B, tỉnh Đồng Nai, yêu cầu được chia 250.000.000 đồng).
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/9/2023 ông Huỳnh Tấn B yêu cầu
Huỳnh Thị M chia cho ông một phần số tiền bồi thường đất bị giải toả
100.000.000 đồng và yêu cầu bà Huỳnh Thị Kim C chia cho ông một phần tiền
bồi thường đất bị giải tỏa 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Tổng
cộng là 200.000.000 đồng.
Tại phiên toà, ông Bửu G nguyên yêu cầu khởi kiện như tại đơn khởi
kiện bổ sung ngày 15/9/2023 yêu cầu bà M C mỗi phải chia cho ông
100.000.000 đồng, tổng cộng là 200.000.000 đồng.
* Tại bản tự khai các lời khai tiếp theo tại tòa cũng như tại phiên tòa
thẩm bị đơn Huỳnh Thị M người đại diện theo uỷ quyền ông Si
Minh A trình bày:
Cha tên Huỳnh Văn T1 đã chết năm 1997 và mẹ tên Cao Thị H đã
chết năm 1988, Cha mẹ tất cả 06 người con gồm: Huỳnh Tấn B, sinh
năm 1959; Huỳnh Thị M, sinh năm 1949; Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1964;
Huỳnh Tất Đ1, sinh năm 1953; Huỳnh Tấn T, sinh năm 1957; Huỳnh Tấn K,
sinh năm 1962.
Quá trình chung sống cha mẹ tạo lập được khối tài sản chung phần
diện tích khoảng 4.695m
2
toạ lạc tại khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai (nay là phường T, Thành phố Đ). Khi chết cha mẹ bà không để lại di
chúc. Đến ngày 02/6/2000 các anh chị em có ngồi lại với nhau lập bản cam kết
Hội đồng gia tộc theo di nguyện của cha mẹ c còn sống chia cho mỗi
người con một miếng đất đã đo ghi diện tích trong bản cam kết gia tộc gồm
Huỳnh Thị M, Huỳnh Tấn Đ, Huỳnh Tấn T, Huỳnh Tấn B, Huỳnh Tấn K,
Huỳnh Thị Kim C. Tổng diện tích cha mcho 4.695m
2
. Theo đó chị em họp
lại với nhau vào 02/6/2000 thống nhất mỗi người được ởng một phần diện
tích cụ thể được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất khoảng 1.132m
2
toạ
4
lạc tại khu phố C phường B, thành phố B (nay phường T, Thành phố Đ)
sau đó bà đã nộp hồ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số BR 265425 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày
19/3/2014. Bà sử dụng ổn định từ đó đến nay không có ai tranh chấp. Đến ngày
24/4/2021, Nhà nước thu hồi 253,3m
2
để làm bờ đường ven sông Đ, đã
đồng ý với chủ trương của Nhà nước đồng ý nhận số tiền đền theo quy
định của Nhà nước.
Nay bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
B xác định mấy chị em đều đã được cha mcho diện tích đất cụ thể
đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại bản cam kết hội đồng
gia tộc thì sáu chị em cũng đều ký tên xác nhận và đều đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
* Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo tại Tòa cũng như tại phiên tòa
thẩm bị đơn Huỳnh Thị Kim C người đại diện theo ủy quyền ông Si
Minh A trình bày:
Cha tên Huỳnh Văn T1 đã chết năm 1997 và mẹ tên Cao Thị H đã
chết năm 1988, cha mẹ bà có tất cả 06 người con gồm: Huỳnh Tấn B, sinh năm
1959; Huỳnh Thị M, sinh năm 1949; Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1964; Huỳnh
Tất Đ1, sinh năm 1953; Huỳnh Tấn T, sinh năm 1957; Huỳnh Tấn K, sinh năm
1962.
Quá trình chung sống cha mẹ tạo lập được khối tài sản chung phần
diện tích khoảng 4.695m
2
toạ lạc tại khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh
Đồng Nai (nay là phường T, Thành phố Đ). Khi chết cha mẹ bà không để lại di
chúc. Đến ngày 02/6/2000 các anh chị em ngồi lại với nhau lập bản cam kết
Hội đồng gia tộc theo di nguyện của cha mẹ c còn sống chia cho mỗi
người con một miếng đất đã đo ghi diện tích trong bản cam kết gia tộc gồm
Huỳnh Thị M, Huỳnh Tấn Đ, Huỳnh Tấn T, Huỳnh Tấn B, Huỳnh Tấn K,
Huỳnh Thị Kim C. Tổng diện tích cha mcho 4.695m
2
. Theo đó chị em họp
lại với nhau vào 02/6/2000 thống nhất mỗi người được hưởng một phần diện
tích cụ thể được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất khoảng 821,2m
2
toạ
lạc tại khu phố C phường B, thành phố B (nay phường T, Thành phố Đ)
sau đó bà đã nộp hồ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền shữu nhà tài sản khác
gắn liền với đất số BC 790590 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày
28/9/2010. Bà sử dụng ổn định từ đó đến nay không có ai tranh chấp. Đến năm
2021, Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất của để làm bờ đường ven
sông Đ, bà đã đồng ý với chủ trương của Nhà nước và đồng ý nhận số tiền đến
5
bù theo quy định của Nhà nước.
Nay bà không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
B xác định mấy chị em đều đã được cha mcho diện tích đất cụ thể
đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại bản cam kết hội đồng
gia tộc thì sáu chị em cũng đều ký tên xác nhận và đều đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất.
* Tại bản tự khai ngày 08/6/2021 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Huỳnh Tấn T trình bày:
Cha ông tên Huỳnh Văn T1 đã chết năm 1997 mẹ ông tên Cao Thị H
đã chết năm 1988, Cha mẹ ông có tất cả 06 người con gồm: Huỳnh Tấn B, sinh
năm 1959; Huỳnh Thị M, sinh năm 1949; Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1964;
Huỳnh Tất Đ1, sinh năm 1953; Huỳnh Tấn T, sinh năm 1957; Huỳnh Tấn K,
sinh năm 1962.
Trước khi chết cha mẹ ông có tạo lập được phần diện tích khoảng
4.695m
2
toạ lạc tại khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay
phường T, Thành phố Đ). Khi chết cha mẹ ông không để lại di chúc. Đến ngày
02/6/2000 sáu anh chị em ngồi lại với nhau lập bản cam kết Hội đồng gia
tộc theo di nguyện của cha mẹ lúc còn sống là chia cho mỗi người con một
miếng đất đã đo ghi diện tích trong bản cam kết gia tộc gồm Huỳnh Thị
M, Huỳnh Tấn Đ, Huỳnh Tấn T, Huỳnh Tấn B, Huỳnh Tấn K, Huỳnh Thị Kim
C. Tổng diện tích cha mẹ cho 4.695m
2
. Diện tích đất của các anh chị em
được nhận đã được ghi tại Bản cam kết gia tộc theo đó Huỳnh Thị M
được sử dụng diện tích 1.132m
2
, Huỳnh Thị Kim C được sử dụng diện tích
821,2m
2
những người còn lại được sử dụng diện tích như đã ghi trong Bản
cam kết hội đồng gia tộc mỗi người gimột bản. Do vậy ông đnghị Tòa án
xử theo diện tích đã ghi trong Bản cam kết hội đồng gia tộc bị đơn cung
cấp.
* Tại bản tự khai ngày 08/6/2021 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Huỳnh Tấn Đ trình bày:
Cha ông Huỳnh Văn T1 mất năm 1997, mẹ Cao Thị H, mất năm
1988, cha mẹ đất 4.695m
2
đã chia cho anh chị em. Riêng đất khoảng
500m
2
chuồng heo ao sử dụng chung cho các anh chị em. Do vậy ông
đề nghị Toà vẫn chia theo diện tích đã ghi trong biên bản cam kết Hội đồng gia
tộc.
* Tại bản tự khai ngày 08/6/2021 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Huỳnh Tấn K trình bày:
Cha mẹ ông có 06 người con gồm: Huỳnh Tấn B, sinh năm 1959; Huỳnh
Thị M, sinh năm 1949; Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1964; Huỳnh Tất Đ1, sinh
năm 1953; Huỳnh Tấn T, sinh năm 1957; Huỳnh Tấn K, sinh năm 1962. Trước
khi mất cha mtôi phân chia phần diện tích đất khoảng 4.695m
2
cho sáu
người con, không di chúc để lại. Tuy nhiên mông Cao Thị H mất năm
1988, đến năm 1997 bố ông Huỳnh Văn T1 mất. Đến ngày 02/6/2000 sáu anh
chị em ông ngồi lại làm bản cam kết hội đồng gia tộc thống nhất chia cho mỗi
người với số diện tích đã ghi trong bản cam kết hội đồng gia tộc mà mỗi người
6
tên thống nhất theo đó Huỳnh Thị M được sử dụng diện tích
1.132m
2
, Huỳnh Thị Kim C được sử dụng 821,2m
2
, những người còn lại được
sử dụng diện tích đã ghi trong bản cam kết hội đồng gia tộc mỗi người giữ
một bản. Do vậy, theo ông T2 xét xử theo diện tích đã ghi trong bản cam kết
hội đồng gia tộc mà bị đơn cung cấp.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trung tâm Phát triển quỹ đất
thành phố B (nay Trung tâm Phát triển quỹ đất Chi nhánh B1 không ý
kiến trình bày.
Tại Bản án Dân sự thẩm số: 499/2025/DS-ST ngày 29-12-2025 của
Tòa án nhân dân Khu vực 1- Đồng Nai căn cứ các Điều 609, 610, 612, 613,
623, 649, 651 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh
Tấn B đối với yêu cầu bà Huỳnh Thị M, bà Huỳnh Thị Kim C phải chia 1/6 giá
trị bồi thường đối với số tiền 200.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử thẩm ngày 12/01/2026, nguyên đơn ông Huỳnh Tấn B
kháng cáo đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn .
kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Đồng Nai tham
gia phiên tòa phúc thẩm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy
định của pháp luật từ khi thụ đến khi xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
đúng thành phần, đảm bảo tư khách quan, trình tự phiên tòa được Hội đồng
xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Thư thực hiện
đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Các đương sự đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình theo quy định
của pháp luật.
Về đề xuất đường lối giải quyết vụ án: Tòa án cấp thẩm đã xét xử
đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp kháng cáo của ông Huỳnh
Tấn B giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng o của ông Huỳnh Tấn B làm trong
thời hạn luật định, ông B được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên được xem xét
theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Nội dung tranh chấp: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1915 (đã chết
7
năm 1997) Cao Thị H, sinh năm 1924 (đã chết năm 1988), ông T1 và bà
H tất cả 06 người con gồm: Huỳnh Tấn B, sinh năm 1959; Huỳnh Thị M,
sinh năm 1949; Huỳnh Thị Kim C, sinh năm 1964; Huỳnh Tất Đ1, sinh năm
1953; Huỳnh Tấn T, sinh năm 1957; Huỳnh Tấn K, sinh năm 1962, cha mẹ ông
T1 H đều đã chết, ông T1, H không con riêng nào khác. Nguồn gốc
của diện tích đất thuộc 01 phần thửa số 19, 20 tờ bản đồ số 26 phường B, thành
phố B (nay phường T, Thành phố Đ) của ông Huỳnh Văn T1 và Cao
ThH để lại. Năm 1988 H chết, năm 1997 ông T1 chết không để lại di chúc.
Ngày 02/6/2000, 06 người con của ông T1 và H ông Huỳnh Tấn B,
Huỳnh Thị M, bà Huỳnh Thị Kim C, ông Huỳnh Tấn Đ, ông Huỳnh Tấn T, ông
Huỳnh Tấn K đã thống nhất làm Bản cam kết Hội đồng gia tộc phân chia di sản
do ông Huỳnh Văn T1 và bà Cao Thị H để lại diện tích đất khoảng 4.695m
2
,
trong đó các anh em thỏa thuận Huỳnh Thị M được quyền quản sử dụng
diện tích khoảng 1.132m
2
; Huỳnh Thị Kim C được quyền quản lý sử dụng
diện tích đất khoảng 821,2m
2
; ông Huỳnh Tấn K được quyền quản lý sử dụng
diện tích đất khoảng 491,3m
2
; ông Huỳnh Tấn T được quyền quản sử dụng
diện tích đất khoảng 361,8m
2
; ông Huỳnh Tấn B được quyền quản sử dụng
diện tích đất khoảng 433m
2
; ông Huỳnh Tấn Đ được quyền quản sdụng
diện tích đất khoảng 1.125,1m
2
.
[3] Ông B kháng cáo cho rằng bà M, bà C đăng ký kê khai phần diện tích
đất cha mẹ để lại chưa chia 500m
2
vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
của M C. Xét, tại Bản cam kết Hội đồng gia tộc ngày 02/6/2000, các
anh chị em của ông B thống nhất chia cho Huỳnh Thị M diện tích đất
1.132m
2
, bà Huỳnh Thị Kim C diện tích đất là 821,2m
2
, Bản cam kết Hội đồng
gia tộc chữ của anh chị em trong gia đình, được Ủy ban nhân dân
phường B xác nhận. Ngày 19/3/2014 Huỳnh Thị M được Ủy ban nhân dân
thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
tài sản khác gắn liền với đất số BR 265425; ngày 28/9/2010 bà Huỳnh Thị Kim
C được Ủy ban nhân dân thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 790590. Bà C, bà M
sử dụng diện tích đất được chia phù hợp với diện tích đất được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Đến ngày 28/03/2020 Ủy ban nhân dân thành phố B
thông báo thu hồi đất số 837/TB-UBND thu hồi diện tích đất 253.3m
2
thuộc
một phần thửa đất số 19 tờ bản đồ số 16 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất cho M. Ủy ban nhân n thành phB phê duyệt phương án bồi thường
hỗ trợ M số tiền bồi thường 1.080.435.000 đồng. Còn phần diện tích đất
của C đến nay toàn bộ thửa đất số 20 tờ bản đồ số 26 đã được Ủy ban nhân
dân thành phố B thu hồi thực hiện dự án đường ven sông Đ. Như vậy, việc ông
B cho rằng M, C đăng khai phần diện tích đất cha mẹ để lại chưa
chia 500m
2
vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai nhưng không
được bị đơn thừa nhận, ông B cũng không chứng cứ để chứng minh, do
đó Tòa án cấp sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông B là có căn
cứ.
[3] Về áp dụng pháp luật: Bà Cao Thị H, (đã chết năm 1988), ông Huỳnh
Văn T1, (đã chết năm 1997). Nên việc chia thừa kế của bà H và ông T1 phải áp
8
dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 để giải quyết mới đúng quy định, Tòa án cấp sơ
thẩm áp dụng Bộ luật Dân snăm 2015 để giải quyết chia thừa kế không
chính xác, cần rút kinh nghiệm.
[4] Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của nguyên
đơn ông Huỳnh Tấn B giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[5] Án phí dân s sơ thẩm; chi phí t tng: Tòa án cấp thẩm xác đnh
đúng.
[6] Án phí dân s phúc thm: Kháng cáo ca ông Hunh Tn B không
chấp nhận, ông B là người cao tuổi có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí dân
sự phúc thẩm cho ông B.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phù hợp
với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo ca ông Hunh Tn B.
Giữ nguyên Bản án Dân sự thẩm số: 499/2025/DS-ST ngày 29-12-
2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1- Đồng Nai.
Căn cứ các Điều 677, 678, 679 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Nghị
quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án;
1. Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông
Huỳnh Tấn B đối với yêu cầu bà Huỳnh Thị M, bà Huỳnh Thị Kim C phải chia
thừa kế cho ông B số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
2. Về án phí: Miễn án phí dân sự thẩm án phí dân sự phúc thẩm
cho ông Huỳnh Tấn B.
3. Về chi ptố tụng: Ông Huỳnh Tấn B phải chịu 2.235.000 đồng (Hai
triệu, hai trăm ba mươi lăm, nghìn đồng), ông B đã nộp đủ.
4. Án phí dân sphúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông
Huỳnh Tấn B.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND Thành phố Đồng Nai;
- TAND Khu vực 1- Đồng Nai;
- Phòng THADS Khu vực 1-ĐN;
- Các đương sự;
- Lưu: VT; hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đỗ Thị Nhung
9
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Xuân Đào Phạm Thành D Đỗ Thị Nhung
10
11
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Các Thẩm phán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
12
Nguyễn Đình Trung Nguyễn Văn T3 Đỗ Thị N
13
14
15
16
17
18
19
20
21
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 440/2026/DS-PT Bản án số 440/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 440/2026/DS-PT Bản án số 440/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất