Bản án số 157/2026/DS-PT ngày 12/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 157/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 157/2026/DS-PT ngày 12/06/2026 của TAND tỉnh Phú Thọ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Thọ
Số hiệu: 157/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 12/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng giữa bà M và ông T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 157/2026/DS-PT Bản án số 157/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 157/2026/DS-PT Bản án số 157/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

T ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
Bản án số 157/2026/DS-PT
Ngày 12 tháng 6 năm 2026
V/v: Tranh chấp kiện đòi tài sản và yêu
cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng"
CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp- T do- Hnh Phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên t: Ông Nguyễn Duy Sơn.
c Thm pn: Nguyn Thị Thu Hiền Nguyn Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đưng Thái n - Thư ký Tòa án nn dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà:
Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08 12 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Phú Thọ cơ sở 2 xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2026/TLPT-DS ngày
03 tháng 4 năm 2026, về việc: Tranh chấp kiện đòi tài sản yêu cầu bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng”.
Do bản án dân sự thẩm s26/2025/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Th bị kháng cáo giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Đoàn Thị Thanh M, sinh năm 1962; nơi trú: số xxx
đường N, tổ xx, phường Y, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo y quyền của M: Anh Nguyễn Hiệp Lê M1, sinh năm
1999; nơi cư trú: Số xx đường T, phường C, thành phố Hà Nội theo văn bản ủy quyền
lập ngày 08/5/2025, (có mặt).
- Bị đơn: Ông Dương Văn T, sinh năm 1972; nơi trú: Thôn Thanh Lộc,
phường Xuân Hòa, tỉnh Phú Thọ.
Người đại diện theo ủy quyền của Ông Dương Văn T: Trần Thị N, sinh
năm 1996 ông Phạm Tiến T1, sinh năm 1991 đều địa chỉ: Số xxx đường N,
phường V, tỉnh Phú Thọ theo văn bản ủy quyền lập ngày 24/9/2025, (ông T1 mặt,
bà Ngân vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Dương Văn T - Bị đơn.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2025 các đơn khởi kiện bổ sung, trong
quá trình tố tụng, bà Đoàn Thị Thanh M người đại diện theo ủy quyền của bà M
Anh Nguyễn Hiệp M1 thống nhất, trình bày như sau:
Bà Đoàn Thị Thanh M với Trần ThVân Thanh có mối quan hệ bạn đồng
nghiệp với nhau, vào năm 2011 do M T2 nhu cầu mua đất tại khu vực
Ngọc Thanh để đầu tư nên nhờ ông T tìm hộ đất để mua. Sau khi thông tin đất,
ông T M, T2 đã thống nhất thỏa thuận với nhau bằng miệng về việc, ông T
chuyển nhượng cho bà M 10,7ha đất ruộng tại Lô sMC 13, 14, 1 thôn Đại Lộc,
Ngọc Thanh, thành phPhúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc nay phường Xuân a, tỉnh Phú
Thọ (gọi tắt là 10,7ha đất ruộng) với giá 1.100.000.000đ (Một tỷ, một trăm triệu đồng).
Do trước đó, M và ông T có một i việc làm ăn liên kết kinh doanh cùng với nhau
thành công (nhưng không phải lĩnh vực bất động sản) n M đã tin tưởng không
lập Hợp đồng chuyển nhượng đất với ông T bằng văn bản. Ngày 13/5/2011, M
chuyển tiền vào tài khoản nhân của ông T mtại Ngân hàng TMCP Công thương
Việt Nam - Chi nhánh Phúc Yên theo số tài khoản 101010001874425 (cũ), mới
104000129039 ngày 31/7/2009 bằng 02 lệnh chuyển. Cthể: Lần 1: Vào hồi 14 gi
09 phút 25 giây ngày 13/5/2011, bà M chuyển khoản cho ông T 550.000.000đ; Lần
2: Vào hồi 14 giờ 16 phút 59 giây ngày 13/5/2011, M chuyển khoản cho ông T
550.000.000đ.
Do vậy, tổng số tiền, M đã chuyển khoản vào tài khoản cá nhân của ông T
1.100.000.000đ.
Việc giao dịch chuyển nhượng đất giữa M với ông T như trên schứng
kiến của bà Phạm ThTuất, trú tại s12/141 Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận
Long Biên, thành phố Nội nay là phường Bồ Đề, thành phố Nội.
Sau khi chuyển tiền cho ông T, kể t năm 2011 cho đến nay, nhiều lần M
yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ giao đất hoặc trả lại số tiền trên nhưng ông T
không thực hiện việc giao đất cũng không trả lại tiền cho bà M. vậy, bà M
khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông T phải trả lại cho M số tiền 1.100.000.000đ
M đã chuyển khoản cho ông T yêu cầu ông T phải bồi thường thiệt hại bằng giá trị
tiền cho M đối với stiền M đã chuyển khoản tính theo mức lãi suất tiền gửi
của Ngân hàng 0,5%/năm kể từ ngày bà M chuyển khoản 13/5/2025.
Tại phiên tòa, người đại diện theo y quyền của M xác định, số tiền M
yêu cầu ông T phải bồi thường 900.000.000đ kể từ ngày 13/5/2011 cho đến ngày
xét xử thẩm. Do đó, tổng số tiền M yêu cầu Tòa án buộc ông T phải trả lại cho
3
bà M 2.000.000.000đ.
Bà M xác định, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất s 06, t bn
đồ 09, diện tích 6.053m
2
ti Đ, thôn T, N, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc (gi tắt
thửa đất 06) gia ông T vi ông Nguyễn Trng N1 (chng M) thì M không
liên quan gì. Stiền M chuyển cho ông T vào ngày 13/5/2011 tiền riêng của
M T2 (mỗi người 1/2) để đầu riêng; số tiền M T2 góp trên không
phảitài sản chung của gia đình bà M hoặc gia đình bà T2. Trước khi chuyển tiền cho
ông T, T2 M đã thống nhất, bà T2 giao cho M phần tiền góp của mình để
bà M đứng ra chuyển cho ông T. Do giao dịch không thực hiện được nên năm 2015 khi
T2 cần tiền, M đã lấy tiền của mình để trả trước cho T2. vậy, khoản tiền
1.100.000.000đ bà M chuyển cho ông T o ngày 13/5/2011 là tiền riêng của bà M,
T2 không còn liên quan gì đến khoản tiền y nữa.
Bị đơn, Ông Dương Văn T và ni đại din theo y quyền là ông Phạm Tiến T1
và Bà Trần Thị N quá trình t tng thống nhất trình y như sau:
Ông T người đại din theo y quyn tha nhn, vào năm 2011 ông T
nhn ca bà M s tin 1.100.000.000đ bằng hình thức chuyn khoản như lời trình bày
ca M đúng s tht. Tuy nhiên, do ông T nhn s tin trên ca M trong
năm 2011 ông T chuyển nhượng cho v chng M và ông Nguyễn Trng N1 quyn
s dng thửa đt s 06 với giá 2.000.000.000đ. Tại phiên tòa, ông T1, Ngân thng
nhất trình bày số tiền 2.000.000.000đ ông T nhn ca ông N1. C th làm 02 ln: Ln
1: Ngày 08/5/2011, ông T nhn ca ông N1 s tin 1.000.000.000đ (có giấy biên
nhn kèm theo); Ln 2: Ngày 13/5/2011, ông T nhn tin ca ông N1 bằng hình thức
nhn chuyn khon t bà M s tin 1.100.000.000đ.
Ông T thừa nhận, số tiền M chuyển cho ông T trên đến nay ông T không
trả lại cho M khoản tiền này ông T xác định là tiền ông N1 và M thanh toán
cho giao dịch chuyển nhượng quyền sdụng thửa đất 06 giữa ông T với ông N1;
ông T không tài liệu chứng minh giao dịch chuyển nhượng thửa đất 06 liên
quan đến M và số tiền bà M chuyển cho ông T vào ngày 13/5/2011 mục đích
thanh toán cho giao dịch chuyển nhượng thửa đất 06 thay ông N1 nhưng thời điểm
ông T với ông N1 thực hiện giao dịch chuyển nhượng thửa đất 06 y thì hôn nhân
của bà M ông N1 đang tồn tại nên thửa đất được xác định tài sản chung của
ông N1 M. Khoản tiền bà M chuyển cho ông T tài sản chung của bà M và
ông N1; việc M chuyển tiền số tiền 1.100.000.000đ y cho ông T vào ngày
13/5/2011 mục đích thanh toán giao dịch chuyển nhượng thửa đất 06 thay cho ông
N1.
4
Ông T thừa nhận người viết giấy biên nhận ngày 09/12/2013, sau khi viết
giấy ông T đã giao lại cho ông N1 giữ. Tuy nhiên, mục đích của việc viết giấy biên
nhận này để thỏa thuận khoản tiền ông T phải bồi thường cho ông N1
100.000.000đ lý do bà Trịnh Thị S (vợ của ông T) hành vi chặt phá cây của
ông N1 tại thửa đất 06; giấy biên nhận ngày 09/12/2013, ông T viết nội dung đã nhận
của ông N1 đủ số tiền 2.000.000.000đ bán thửa đất 06 được hiểu ông T xác nhận
giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 06 giữa ông T ông N1 đã được
thực hiện xong, hai bên không tranh chấp . Ông T xác định, ông T đã nhận của
vợ chồng ông N1, M tổng stiền 2.100.000.000đ trong đó 1.000.000.00nhận
bằng tiền mặt từ ông N1 o ngày 08/5/2011 1.100.000.000đ nhận bằng chuyển
khoản ngày 13/5/2011 của bà M. Trong tổng số tiền ông T nhận của vợ chồng ông N1,
M như trên thì ông T phải trả phí môi giới cho Tuất là 100.000.000đ nên số tiền
ông T thực lĩnh của vợ chồng bà M, ông N1 2.000.000.000đ đúng với giá trị thửa đất
06 đãn cho ông N1.
Vi yêu cầu khi kin ca M ni dung đề ngh Tòa án buc ông T phi tr li
cho M 1.100.000.000đ tiền M đã chuyển cho ông T ngày 13/5/2011
900.000.000đ tiền bồi thường thiệt hại đối với khoản tiền bà M chuyển cho ông T kể từ
ngày 13/5/2011 đến ngày xét xử thẩm không căn cứ. Do vy, ông T không
đồng ý với yêu cầu khi kin ca bà M. Ông T đề nghị Tòa án đưa ông Nguyễn Trng
N1 chồng ca bà M tham gia t tụng theo quy định pháp luật.
Ông T cũng xác định, gia ông T, M T2 không việc giao dch
chuyn nhượng quyn s dng 10,7ha đất ruộng với giá 1.100.000.00 như lời
trình bày của bà M và người đại din theo y quyn ca bà M. Ông T đ ngh a án
làm giao dch chuyn nhưng quyn s dng 10,7ha đất ruộng và buc bà M,
T2 phi chng minh giao dch chuyn nhượng này vi ông T cũng như đưa ra các
n c c định vic ông T không chịu bàn giao quyn s dng 10,7ha đất ruộng.
Trong trường hp nếu có căn cứ xác đnh hành vi của bà M bà T2 yếu t nh
s vi mc đích chiếm đoạt tài sản ca ông T thì ông T kiến ngh vi Hội đồng xét xử
chuyn h sơ vụ án sang quan điều tra đ làm động cơ, mục đích ca M
bà T2 đối vi ông T và truy cứu trách nhiệm hình s theo quy định pháp luật.
Ngày 03/10/2025, ông T1 người đại diện theo ủy quyền của ông T ngày
25/11/2025, ông T đơn yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của M nội
dung: Yêu cầu Tòa án Công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất 06
giữa ông T vợ chồng ông N1, M hiệu lực pháp luật, từ đó xác định số tiền
1.100.000.00M chuyển khoản cho ông T vào ngày 13/5/2011 tài sản chung
5
của ông N1 M, khoản tiền M chuyển cho ông T tiền tất toán giao dịch
chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa đất 06 còn thiếu thay cho ông N1.
Tòa án tiến hành lấy li khai ca ông Nguyễn Trng N1, ông N1 trình bày n
sau: Ông chồng của Đoàn ThThanh M, trong cuộc sống hàng ngày ông với bà
M thường xuyên những khoản tiền đầu tư, kinh doanh riêng, độc lập, không chung
với nhau. Ông N1 xác định, số tiền bà M chuyển khoản cho ông T vào ngày 13/5/2011
để mua đất ruộng 10.7ha của ông T khoản đầu tư riêng của bà M, không liên quan
đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 06 giữa ông và ông T.
Về Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 06, ông N1 xác định: Do
trước đó, ông N1 với ông T mối quan hệ hội quen biết nhau nên vào khoảng
tháng 5/2011, ông N1 nhận chuyển nhượng của ông T quyền sử dụng thửa đất 06
với giá 2.000.000.000đ; ông N1 người trực tiếp thanh toán cho ông T toàn bộ số
tiền 2.000.000.000đ bằng tiền mặt 02 lần, cụ thể như sau:
- Lần 1: Ngày 08/5/2011, ông N1 trực tiếp giao cho ông T số tiền
1.000.000.000đ có sự chứng kiến của bà Trần Thị Vân Thanh.
Ông N1 và ông T thống nhất, ông T người thực hiện hoàn tất thủ tục chuyển
quyền sử dụng thửa đất 06 sang cho ông N1, khi nào xong thủ tục chuyển quyền s
dụng đất sang tên ông N1 thì ông N1 sẽ thanh toán hết số tiền còn lại của thửa đất 06
cho ông T ông T sẽ trả ông N1 Giấy chứng nhận quyền sdụng thửa đất ông đã
mua của ông T.
- Lần 2: Ngày 29/02/2012, khi ông N1 được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng thửa đất 06, ông T yêu cầu ông N1 phải thanh toán hết số tiền
1.000.000.00còn lại cho ông T. Sau khi nhận đủ tiền của ông N1, ông T đã bàn
giao đất cùng các loại cây cối trồng trên đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa
đất 06 cho ông N1 sử dụng. Ông N1 khẳng định, giữa ông N1 ông T giao dịch
chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 06 đã xong, hai bên không xảy ra tranh chấp
gì.
Năm 2013, Trịnh Thị S (là vợ của ông T) hành vi chặt phá một số cây
bạch đàn trồng trên thửa đất 06 của ông N1 nên ông N1 ông T đã thỏa thuận, ông
T phải bồi thường cho ông N1 100.000.00 tiền cây bị Sáu chặt. Ngày
09/12/2013, ông T tự mình viết giấy biên nhận bồi thường cho ông N1
100.000.00 tiền cây bị Sáu chặt phá. Trong nội dung giy biên nhận, ông T
khẳng định, ông T đã nhận của ông N1 đủ 2.000.000.000đ tiền bán thửa đất 06,
không mục nào ông T ghi nhận tiền từ tài khoản do M chuyển khoản. Ông N1
khẳng định, thực tế không việc giao dịch chuyển nhượng thửa đất 06 liên quan
6
đến M nên ông T không thể viết nội dung đối ứng khoản tiền 1.100.000.00
M chuyển khoản cho ông T ngày 13/5/2011 vào trong giấy biên nhận ngày
09/12/2013. Hiện tại, ông T mới chỉ thanh toán tiền bồi thường chặt phá cây của bà
Sáu cho ông N1 được 30.000.000đ số tiền còn lại 70.000.000đ đến nay ông T vẫn
chưa thanh toán nhưng ông N1 không có yêu cầu đề nghị gì.
Do số tiền 1.100.000.000đ, M chuyển khoản cho ông T khoản tiền riêng
của M không liên quan đến giao dịch chuyển nhượng thửa đất 06 của ông N1
với ông T, toàn bộ số tiền ông N1 mua thửa đất 06 của ông T, ông N1 đã thanh toán
cho ông T bằng tiền mặt đầy đ không liên quan gì đến số tiền M chuyển khoản
cho ông T, bản thân ông T cũng tự thừa nhận viết trong giấy biên nhận lập ngày
09/12/2013 nên ông N1 từ chối đề nghị Tòa án không đưa ông N1 vào tham gia tố
tụng trong vụ án.
Tòa án tiến hành lấy lời khai của bà Trần Thị Vân Thanh, bà T2 trình bày:
với Đoàn Thị Thanh M đồng nghiệp, bạn chơi cùng với nhau nên
cũng biết ông Nguyễn Trọng N1 chồng M. Do chơi cùng với M nên
biết, ông N1 bà M hay có những khoản đầu tư riêng. và Ông Dương Văn T
không mối quan hệ quen biết, thông qua việc ông N1 mua thửa đất 06 của ông
T thì mới biết ông T. Việc mua n thửa đất 06 giữa ông N1 và ông T c thnhư
thế nào thì không biết nhưng bà thừa nhận, chứng kiến ngày 08/5/2011,
ông N1 là người trực tiếp giao cho ông T bằng tiền mặt 1.000.000.000đ để thanh
toán thửa đất 06, người chứng kiến việc thỏa thuận của ông T và ông N1 cũng
như trực tiếp tên người làm chứng vào giấy xác nhận, nhận tiền của ông N1
ông T. Ngoài ra, tại buổi thỏa thuận ngày hôm đó, thấy ông N1 ông T thống
nhất, khi nào làm xong giấy tờ ông N1 sẽ thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt cho ông
T toàn bsố tiền còn thiếu của thửa đất 06, việc thanh toán số tiền sau này như thế
nào thì không chứng kiến nên bà không biết. Bản thân chỉ người chứng kiến
việc giao nhận tiền giữa ông N1 và ông T vào ngày 08/5/2011, không được hưởng
lợi bất kỳ số tiền nào trong số tiền 1.000.000.000đ của ông N1 giao cho ông T.
Bà thừa nhận, năm 2011, và bà M có bàn nhau mua chung 10,7ha đất ruộng
của ông T với giá 1.100.000.000đ. Do tin tưởng ông T nên bà với M ông T chỉ
thỏa thuận việc chuyển nhượng mua bán đất với nhau bằng miệng không làm
Hợp đồng chuyển nhượng bằng văn bản. Số tiền trên M mỗi ngườip một
nửa 550.000.000đ. và M thống nhất, một người đứng ra chuyển tiền cho
ông T nên đã đưa cho M 550.000.00để bà M chuyển khoản trực tiếp cho
ông T. Khi đi chuyển tiền, yêu cầu bà M phải ghi và xác nhận vào 01 giấy nộp
7
tiền ngày 13/5/2011 thể hiện việc nộp hộ vào tài khoản ông T để bà gim căn
cứ đã góp tiền chung mua đất với M. Ny 13/5/2011, bà M đã chuyển khoản
cho ông T 1.100.000.000đ tiền mua đất vào tài khoản nhân của ông T mở tại
Ngân hàng TMCP ng thương Việt Nam Chi nhánh Phúc Yên. Sau này, do
cần tiền thấy việc mua đất của ông T không thuận lợi nên năm 2015 đã nói
chuyện với M trả cho số tiền đã giao cho M trên, tính đến nay đã
nhận đủ của M 550.000.000đ, giữa và M không tranh chấp đối với số
tiền bà giao cho bà M chuyển cho ông T. Bản thân bà cũng được nghe bà M nói lại v
việc đã nhiều lần yêu cầu ông T trả lại số tiền 1.100.000.000đ nhưng ông T đều trốn
tránh không chịu trả. khẳng định, số tiền 1.100.000.000đ M chuyển khoản cho
ông T vào ngày 13/5/2011, nguồn gốc là tiền của bà và bà M góp lại, không liên quan
đến tiền của gia đình bà hay gia đình bà M. Bà xác định, bà không có quyền lợi gì đối
với số tiền bà giao cho bà M để bà M chuyển khoản cho ông T nên bà đề nghị Tòa án
không triệu tập đưa tham gia tố tụng trong vụ án giải quyết tranh chấp giữa
M ông T.
Vi nội dung trên, tại Bản án dân s thẩm s: 26/2025/DS-ST ngày 28
tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vc 8 Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 166, khoản 2 Điều 468 429, 584, 589 Bộ luậtn sự; khoản
1 Điều 147; 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị Thanh M đối với Ông Dương
Văn T về việc, yêu cầu ông T phải trả lại bà M 1.100.000.000đ.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị Thanh M đối với Ông
Dương Văn T, về việc yêu cầu ông T bồi thường thiệt hại cho M 900.000.000đ
tính theo giá trị tiền i, với mức lãi suất 5%/năm trên số tiền bà M đã chuyển khoản
cho ông T từ ngày 13/5/2011 cho đến ngày xét xử sơ thẩm đã hết thời hiệu.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về án phí, về lãi suất tuyên
quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử thẩm, ngày 10/12/2025, Ông Dương Văn T kháng cáo nội
dung đnghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sthẩm. Tại phiên tòa phúc
thẩm, người đại diện theo ủy quyền của M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
người đại diện theo ủy quyền của Ông Dương Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo
đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án dân sự thẩm với các do: (1)
Không đưa ông Nguyễn Trọng N1 vào tham gia tố tụng với cách là người
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vi phạm thủ tục tố tụng; (2) không thụ yêu cầu
8
phản tố của bị đơn không đúng pháp luật; (3) xác định sai quan hệ pháp luật tranh
chấp vụ án phát sinh từ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên xác định
quan htranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giải quyết hậu
quả của hợp đồng vô hiệu; (4) đánh giá chứng cứ chưa khách quan, đầy đủ không phù
hợp pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,
không chấp nhận kháng cáo của Ông Dương Văn T; ginguyên Bản án n sự
thẩm số: 26/2025/DS-ST ngày 10 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 -
Phú Thọ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà
và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của Ông Dương Văn T trong thời hạn luật
định, đơn hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
[2.1]. Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, Đoàn
Thị Thanh M yêu cầu Ông Dương Văn T trả lại số tiền 1.100.000.000đ do M đã
chuyển vào tài khoản của ông T ngày 13/5/2011 mục đích để mua 10,7ha đất ruộng
yêu cầu ông T phải bồi thường thiệt hại cho M 900.000.000đ là tiền lãi tính
theo mức lãi suất tiền vay của Ngân hàng 05%/năm, kể từ ngày M chuyển khoản
13/5/2011 đến ngày xét xử sơ thẩm.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án xác định quan
hệ tranh chấp trong vụ án này tranh chấp kiện đòi tài sản yêu cầu bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng. Hiện nay, Ông Dương Văn T là bị đơn đang t tại
phường Xuân Hòa, tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm
của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh nh Phúc nay là Tòa án nhân dân
khu vực 8 Phú Ththeo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1
Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xét xử sơ thẩm, Ông Dương Văn T
kháng cáo, vụ án được Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ , giải quyết theo trình tự
phúc thẩm đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật T tụng
dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ông Dương Văn
T luôn cho rằng đây là vụ án về tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
9
dụng đất giải quyết hậu quả Hợp đồng hiệu thấy rằng: Tài liệu trong hồ
vụ án và lời khai của các đương sự có đủ cơ sở xác định giữa ông T với bà M chưa có
việc ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; phía M cho rằng chuyển
cho ông T số tiền 1.100.000.000đ mục đích tiến tới việc chuyển nhượng diện tích
10,7ha đất ruộng. Tuy nhiên vì giao dịch không thực hiện được nên nhiều lần yêu cầu
ông T trả lại tiền nhưng ông T không trả nên khởi kiện yêu cầu ông T trả lại số tiền
này; còn phía ông T thừa nhận nhận của M số tiền 1.100.000.000đ nhưng
không phải mục đích chuyển nhượng diện tích 10,7ha đất ruộng như M trình bày
mà là bà M chuyển số tiền này để thực hiện cho giao dịch chuyển nhượng thửa đất số
06 thay ông N1. Hiện nay việc chuyển nhượng thửa đất số 06 giữa ông N1 với ông T
đã thực hiện xong nên ông T không trả lại M số tiền 1.100.000.00. Xét thấy
giữa ông T với M không giao kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nên không việc tranh chấp về các điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Bản chất thực sự của vụ án này xác định số tiền 1.100.000.000đ M chuyển cho
ông T phải thực hiện nghĩa vụ thay cho ông N1 đối với giao dịch chuyển nhượng
thửa đất số 06 giữa ông N1 với ông T hay không. Trường hợp sở xác định số
tiền 1.100.000.000đ M chuyển cho ông T thay ông N1 để thực hiện giao dịch
chuyển nhượng thửa đất số 06 giữa ông N1 với ông T thì không chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của M ngược lại; còn Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 06 giữa
ông N1 với ông T đã thực hiện xong, các bên tham gia kết hợp đồng không
tranh chấp với nhau. Do vậy, Tòa án cấp thẩm xác định quan hệ pháp luật:
Tranh chấp kiện đòi tài sản là phù hợp quy định của pháp luật nên việc người đại diện
theo ủy quyền của ông T cho rằng đây vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất và giải quyết hậu quả hợp đồng không được Hội đồng xét xử chấp
nhận.
[2.2]. V thời hiệu khởi kiện:
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ông Dương Văn T đề nghị
Hội đồng xét xử áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của M thấy
rằng: Bà Đoàn Thị Thanh M yêu cầu Tòa án buộc Ông Dương Văn T trả lại số tiền
1.1000.000.000đ, M đã chuyển khoản vào tài khoản của ông T, được xác định
quan hệ tranh chấp kiện đòi tài sản. Căn cứ vào quy định tại Điều 155 Điều 166
Bộ luật Dân sự thì yêu cầu khởi kiện của M không phải tranh chấp phát sinh t
hợp đồng hay quan hệ nghĩa vụ, do đó không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu
cầu khởi kiện của bà M phù hợp với quy định tại Điều 429 Bộ luật Dân sự.
Đối với yêu cầu buộc Ông ơng Văn T phải bồi thường thiệt hại cho M số
10
tiền 900.000.000đ được xác định quan hệ tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng. Theo quy định tại Điều 185 Bộ luật Tố tụng Dân sự và Điều 588 Bộ luật Dân sự,
thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp bồi thường thiệt hại 03 năm kể từ thời điểm
người bị thiệt hại biết hoặc phải biết quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm
phạm. Ngày 13/5/2011, M chuyển tiền cho ông T đến ngày bà M khởi kiện, thời
hạn đã quá 03 năm. Quá trình ttụng, M không tài liệu, chứng cứ để chứng
minh ông T hành vi thừa nhận nghĩa vụ, thương lượng hoặc thực hiện một phần
việc khắc phục thiệt hại hay thuộc trường hợp được coi là sự kiện bất khả kháng hoặc
trở ngại khách quan theo quy định tại Điều 157 Bộ luật Tố tụng Dân sự tinh thần
hướng dẫn tại điểm 2 Mục 3 Công văn số: 02/TANDTC - PC ngày 02/8/2021 của
Tòa án nhân dân tối cao đlàm sở tính lại thời hiệu khởi. Ngoài ra M thừa
nhận, sau khi chuyển tiền cho ông T, không thấy ông T giao đất hay trả lại tiền, bà M
đã nhiều lần đôn đốc yêu cầu ông T phải thực hiện nghĩa vụ giao đất hay trả lại tiền.
Do vậy đsở định, M biết quyền lợi lợi ích của mình bị xâm phạm
ngay sau khi M chuyển tiền cho ông T vào năm 2011. Tại phiên tòa, người đại
diện theo ủy quyền của ông T yêu cầu Hội đồng xét xử áp dụng thời hiệu khởi kiện
đối với vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định, thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu
bồi thường thiệt hại của M đối với ông T đã hết theo quy định của Điều 184 Bộ
luật Tố tụng Dân sự.
[3]. Xét yêu cầu phản tố của Ông Dương Văn T:
Ngày 03/10/2025, ông T1 là người đại diện theo ủy quyền của ông T bị đơn
đơn yêu cầu phản tố; ngày 25/11/2025 Tòa án tiếp tục nhận được đơn yêu cầu
phản tố của ông T. Nội dung phản tố của ông T1 và ông T cùng đề nghị Tòa án, Công
nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 06 hiệu lực pháp luật và
xác định khoản tiền M chuyển khoản cho ông T ngày 13/5/2011 là tiền thanh toán
giao dịch chuyển nhượng quyền sử dng thửa đất 06.
t thấy: M khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông T trả lại cho M số tiền
1.100.000.00 tiền M đã chuyển khoản cho ông T ngày 13/5/2011 để mua
10,7ha đất ruộng u cầu ông T phải bồi thường thiệt hại 900.000.000đ dựa vào
mức lãi suất tiền vay của Ngân hàng 05%/năm đối với số tiền ông T nhận chuyển
khoản từ bà M; phía ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà M cho rằng,
số tiền M chuyển khoản cho ông T vào ngày 13/5/2011 i sản chung của M
với ông N1; việc M chuyển tiền cho ông T, mục đích để thanh toán giao dịch
chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 06 thay cho ông N1 nên đề nghị Tòa án Công
nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất 06 hiệu lực pháp luật xác
11
định khoản tiền bà M chuyển khoản cho ông T ngày 13/5/2011 là tiền thanh toán thửa
đất 06.
Vbản chất, yêu cầu của ông T và ông T1 đưa ra trên là nhằm bảo vquyền
lợi của bị đơn đối với yêu cầu của M mục đích loại trừ khả năng Tòa án
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên được xác định yêu cầu phản tố
theo quy định tại khoản 2 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên, quá trình giải
quyết ván từ giai đoạn a án th vụ án cho đến khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử,
Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với ông T rất nhiều lần nhưng ông T không đến Tòa án
làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án (vắng mặt không có lý do chính đáng). Tòa án
cũng không nhận được bất kỳ văn bản nào của ông T trình y ý kiến của mình liên
quan đến yêu cầu khởi kiện của M. Ngày 26/8/2025, Tòa án tiến hành mở phiên
họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ a giải; ngày
03/10/2025, ông T1 ngày 25/11/2025, ông T mới đơn yêu cầu phản tố gửi đến
Tòa án. Kèm theo đơn phản tố, ông T ông T1 không nộp bất kỳ tài liệu, chứng cứ
chứng minh M liên quan đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa
đất 06 giữa ông T ông N1 hoặc khoản tiền M chuyển khoản cho ông T ngày
13/5/2011 tiền thanh toán thửa đất 06. Ngoài ra, đơn phản tố của ông T ông T1
nộp đến Tòa án thuộc trường hợp quá hạn nhưng không do chính đáng về việc
nộp đơn quá hạn. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị
đơn ông T ông T1 người đại diện cho ông T để thụ yêu cầu phản tố phù
hợp với quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[4]. Về nội dung đưa ông Nguyễn Trọng N1 vào tham gia tố tụng:
Ông T đề nghị Tòa án đưa ông Nguyễn Trọng N1 tham gia tố tụng trong vụ án
với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên phía ông T không có
bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh M liên quan đến giao dịch chuyển
nhượng quyền sử dụng thửa đất 06 giữa ông T với ông N1 hoặc tài liệu, chứng cứ
chứng minh số tiền M chuyển cho ông T ngày 13/5/2011 là tiền thanh toán thửa
đất 06 thay ông N1; Ông N1 M cũng không thừa nhận, M liên quan đến
giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 06 giữa ông N1 và ông T, khoản tiền
M chuyển khoản cho ông T tiền M thanh toán thửa đất 06; phía ông N1 từ
chối tham gia tố tụng đối với vụ án và ông N1 không được hưởng quyền lợi hay phải
thực hiện nghĩa vụ gì trong vụ án này khi Tòa án chấp nhận hoặc bác bỏ yêu cầu khởi
kiện của M. Do vậy, Tòa án cấp thẩm không đưa ông N1 vào tham gia tố tụng
với cách người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với vụ án này phù hợp
với quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
12
[5]. t yêu cầu khởi kin của bà Đoàn Th Thanh M u cầu kháng cáo
của Ông Dương Văn T; Hội đng xét x pc thm thy rằng:
c tài liệu, chứng cứ trong hồ v án được các đương s tha nhn có
đủ sở c định ny 13/5/2011, bà Đoàn Thị Thanh M đã chuyển cho Ông
Dương Văn T số tiền 1.100.000.000đ; phía M xác định, do chuyển số tiền trên
vào tài khoản của ông T , năm 2011 M ng T2 ông T thỏa thuận với
nhau bằng miệng về việc, ông T chuyển nhượng cho M T2 diện ch 10,7ha
đất ruộng với giá 1.100.000.000đ; kể từ năm 2011 đến nay, ông T không bàn giao đất
và cũng không trả lại tiền cho bà M nên bà đề nghTòa án buộc ông T phải trả lại toàn
bộ số tiền trên cho M; còn phía ông T người đại diện theo ủy quyền của ông T
thừa nhận, ngày 13/5/2011 ông T nhận chuyển khoản của M số tiền như M
trình bày trên đúng. Tuy nhiên, ông T cho rằng, do ông T nhận tiền của M
vào ngày 13/5/2011 là vì, o tháng 5/2011 ông T ông N1 (là chồng của M)
giao dịch chuyển nhượng với nhau thửa đất 06 với giá 2.000.000.00, số tiền M
chuyển vào tài khoản của ông T ngày 13/5/2011, ông T xác định khoản tiền thanh
toán giao dịch chuyển nhượng thửa đất 06 của ông T thời điểm ông N1 ông T
giao dịch chuyển nhượng thửa đất 06, M ông N1 đang tồn tại hôn nhân nên số
tiền M chuyển khoản cho ông T được xác định i sản chung của vợ chồng dựa
vào quy định chế độ tài sản trong Luật Hôn nhân gia đình để tham chiếu đến số tiền
chuyển khoản của M trên mục đích thanh toán thay ông N1 đối với giao dịch
chuyển nhượng thửa đất 06. Do vậy, sau khi nhận tiền của M, ông T không trả lại
cho M. Ông T xác định, khoản tiền M chuyển cho ông T ngày 13/5/2011 tài
sản của ông nên ông không đồng ý trả lại cho M số tiền ở trên.
Căn cứ vào kết quthu thập i liệu, chứng cứ của Tòa án; lời trình bày của
các bên đương sự; 02 Giấy nộp tiền của M ngày 13/5/2011 tại Ngân hàng TMCP
Công Thương Việt Nam; Giy c nhận nhận tiền ngày 08/5/2011 Giấy biên
nhận viết tay ông T lập ngày 09/12/2013; Ông T thừa nhận, ngày 13/5/2011, ông
nhận của M tổng số tiền 1.100.000.000đ bằng nh thức chuyển khoản điều này
phù hợp với 02 Giấy nộp tiền của bà M ngày 13/5/2011 tại Ngân hàng TMCP Công
Tơng Việt Nam.
Theo quy định ti Điều 92 Bộ lut Tố tụng Dân s thì đây là những tình tiết,
s kin các đương sự đã tha nhận hoặc không phản đi được coi lành tiết
không phải chứng minh. Do vy đủ s đ xác định, ông T có nhận của bà
Đoàn Th Thanh M 1.100.000.000đ bằng hình thức chuyển khoản đến nay vẫn
chưa trả lại cho bà M.
13
Tại Giấy xác nhận ngày 08/5/2011 thể hiện: Năm 2011, ông N1 ông T
giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 06 với giá 2.000.000.000đ; ngày
08/5/2011, ông N1 đã giao cho ông T 1.000.000.00 tiền mua thửa đất 06 sự
chứng kiến của Trần ThThanh n. Trong số tiền ông T nhận của ông N1 ngày
08/5/2011, ông T lý giải thực tế ông T ký giấy biên nhận là nhận của ông N1
1.000.000.000đ nhưng ông phải trả phí môi giới cho Tuất hết 100.000.000đ nên số
tiền thực lĩnh mà ông T nhận của ông N1 900.000.000đ; còn giấy biên nhận ngày
09/12/2013, ông T viết để lại cho ông N1 thực chất chỉ xác nhận ông T đã nhận đủ
từ ông N1 2.000.000.000đ tiền giao dịch chuyển nhượng thửa đất 06, hợp đồng hai bên
đã thực hiện xong không xảy ra tranh chấp . Do vậy, nội dung Giấy biên nhận ngày
09/12/2013 ông T không ghi khoản tiền ông T nhận chuyển khoản từ bà M và giảm
trừ số tiền 100.000.000đ phí thanh toán môi giới cho Tuất. Quá trình giải quyết vụ
án, M và ông N1 không thừa nhận, số tiền M chuyển khoản cho ông T tài sản
chung của ông N1 M; do đó M không liên quan đến giao dịch chuyển
nhượng thửa đất 06 nên M không nghĩa vụ thanh toán tiền mua đất cho ông T
thay ông N1; ông N1 không thỏa thuận với ông T giảm trừ 100.000.00phí môi giới
ông T thanh toán cho bà Tuất nằm trong số tiền ông N1 đã thanh toán cho ông T; phía
ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh số tiền 1.100.000.000đ
ông nhận của M qua hình thức chuyển khoản nằm trong tổng số tiền ông T nhận từ
ông N1 thể hiện trong Giấy biên nhận viết tay ngày 09/12/2013, người đại diện theo ủy
quyền của ông T tại phiên tòa tham chiếu số tiền bà M chuyển khoản cho ông T căn cứ
vào chế độ i sản chung của vợ chồng được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình
để xác định số tiền bà M chuyển khoản là tài sản chung của ông N1 và bà M n nghĩa
vụ thanh toán giao dịch thửa đất 06 buộc M phải chịu chưa thỏa đáng không
cơ sở. Ngoài ra, nếu căn cứ o ý kiến của phía ông T người đại diện của ông T
là giữa ông N1 với ông T có việc chuyển nhượng thửa đất 06, giá thỏa thuận 2 tỷ đồng,
ngày 08/5/2011 ông N1 trả 1 tỷ, đến ngày 13/5/2011 M vợ ông T trả số còn lại 1,1
tỷ đồng là không phù hợp vì: Nếu có việc bà M trả thay ông N1 thì số tiền còn lại bà M
phải trả là 1 tỷ, không phải 1,1 tỷ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông T
người đại diện theo ủy quyền cho rằng tiền môi giới trcho Tuất 100.000.000đ n
số tiền thật sự ông N1 trả 2,1 tỷ nhưng không có tài liệu chứng minh Tuất
cũng không thừa nhận nên không có sở việc trả tiền môi giới n ông N1 phải
thanh toán này.
Hồ vụ án, mặc không thu thập được bản gốc của Giấy biên nhận giao
tiền ngày 08/5/2011 và Giấy biên nhận tiền ngày 09/12/2013 nhưng quá trình tố tụng,
14
các bên đã thừa nhận nội dung ghi trong 02 văn bản y phù hợp với nhau nên việc
không thu thập được bản gốc Giấy biên nhận giao tiền ngày 08/5/2011 Giấy biên
nhận tiền ngày 09/12/2013, không ảnh hưởng gì đến việc xác định sự thật khách quan
của vụ án.
Từ những phân tích trên, có đủ sở xác định số tiền M chuyển khoản cho
ông T vào ngày 13/5/2011 là khoản tiền riêng của M không phải tài sản chung
của ông N1 và bà M, s tiền đó cũng không phải là khoản tiền M thanh toán cho
ông T thay ông N1 đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 06.
Đến nay, số tiền ông T nhận của M, ông T ca trả lại cho M. Điều này đồng
nghĩa với yêu cầu khởi kiện của M cơ sở nên được chấp nhận buộc ông
T phải trả lại bà M 1.100.000.00.
Về yêu cầu bồi thường thiệt hại: M xác định, từ ngày chuyển tiền cho
ông T đến nay, số tiền trên bà M phải đi vay mượn nhiều nơi, hằng tháng phải trả
lãi cho những người M vay nên yêu cầu ông T phải bồi thường cho bà khoản
thiệt hại nh theo giá trị tiền lãi, với mức lãi suất 5%/năm kể từ ngày chuyển khoản
tiền (13/5/2011) cho đến ngày xét xthẩm 900.000.000đ. Ông T không đồng ý
đề nghị Hội đồng xét xáp dụng thời hiệu khởi kiện.
Xét thấy: M chuyển khoản cho ông T số tiền 1,1 tỷ đồng là do M cùng
với bà T2 ông T thỏa thuận mua 10,7ha đất ruộng, nhưng ông T không thừa nhận
số tiền nhận từ M là tiền thanh toán mua 10,7ha đất ruộng. M cũng không
tài liệu, chứng cđể chứng minh số tiền chuyển cho ông T tiền thanh toán
mua 10,7ha đất ruộng của ông T. Ông T đề nghị áp dụng thời hiệu, như nội dung đã
phân tích tại Mục [2.2] ở trên xác định, yêu cầu khởi kiện của bà M về việc, buộc ông
T phải bồi thường M 900.000.000đ đã hết thời hiệu khởi kiện nên yêu cầu đòi bồi
thường thiệt hại của bà M đối với ông T không được chấp nhận.
Từ những phân tích như trên Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: Tòa án cấp
thẩm căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thu thập khách
quan, đúng pháp luật kết hợp với việc xét hỏi công khai tại phiên tòa để quyết định
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị Thanh M đối với Ông Dương Văn T là
căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Do vậy kháng cáo của Ông Dương Văn T
là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Xét đề nghị của người đại diện theo ủy quyền của Ông Dương Văn T
Hủy bản án thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng thấy rằng: Toàn bquan điểm do
người đại diện theo ủy quyền của Ông Dương Văn T đã được Hội đồng xét xử phân
tích, vận dẫn đầy đủ tại các mục [2], [3], [4] như trên. Quá trình giải quyết vụ án, phía
15
người đại diện theo ủy quyền của ông T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để
chứng minh Tòa án cấp thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và vi phạm
này đã xâm phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do vậy yêu cầu đề
nghị hủy bản án của phía Ông Dương Văn T không căn cứ nên không được
chấp nhận.
[7]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của Ông Dương Văn T; giữ
nguyên Bản án dân sự thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Phú Thọ căn
cứ, được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[8]. Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên Ông Dương
Văn T phải chịu án phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 B luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của Ông Dương Văn T; giữ nguyên Bản án dân sự
thẩm số: 26/2025/DS-ST ngày 28 tháng 11 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu
vực 8 - Phú Thọ.
Căn cứ vào Điều 166, Điều 429, Điều 584, Điều 589 ; khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 147; Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị
quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vQuốc hội
quy định về án phí, lệ phí. Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị Thanh M đối với
Ông Dương Văn T vviệc u cầu Ông ơng Văn T phải trả lại M số tiền M
đã chuyển khoản cho ông T o ngày 13/5/2011. Buộc Ông ơng Văn T phải trả lại
Đoàn Thị Thanh M 1.100.000.00 (Một tỷ một trăm triệu đồng).
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Đoàn Thị Thanh M về việc yêu
cầu Ông Dương Văn T bồi thường thiệt hại cho M 900.000.000đ tính theo giá trị
tiền lãi, với mức lãi suất 5%/năm trên số tiền M đã chuyển khoản cho ông T từ
ngày 13/5/2011 cho đến ngày xét xử sơ thẩm do đã hết thời hiệu.
Kể tngày Bản án hiệu lực pháp luật, M đơn đnghị thi hành án mà
ông T không thanh toán cho M số tiền nêu trên thì hằng tháng, ông T còn phải
chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án đối với số tiền chưa thanh toán theo quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với s tiền và thời gian chưa thi hành án.
3. Về án phí: Ông ơng Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc
16
thẩm. Xác nhận Ông Dương Văn T đã nộp đủ stiền 300.000 đồng án phí dân sự
phúc thẩm theo biên lai số 0000252 ngày 13 tháng 01 năm 2026 tại Chi cục thi hành
án dân sự tỉnh Phú Thọ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thoả thuận thi
hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi
hành án được thực hiện theo quy định Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các quyết định khác của Bản án thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
hiu lực pháp luật k t ngày hết thi hạn kháng cáo, kháng ngh.
Bản án phúc thẩm có hiu lực pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Phú Thọ;
- TAND khu vực 8 - Phú Thọ;
- Phòng THADS khu vực 8 - Phú Thọ;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA; Tòa Dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Duy Sơn
17
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 157/2026/DS-PT Bản án số 157/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 157/2026/DS-PT Bản án số 157/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất