Bản án số 147/2026/DS-PT ngày 05/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 147/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 147/2026/DS-PT ngày 05/06/2026 của TAND TP. Đà Nẵng về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 147/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/06/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: DSPT
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 147/2026/DS-PT Bản án số 147/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 147/2026/DS-PT Bản án số 147/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
——————————
Bản án số: 147/2026/DS-PT
Ngày: 05/6/2026
V/v: “Tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; tuyên bố
hợp đồng hiệu, giải quyết hậu quả
của hợp đồng vô hiệu”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoài Sơn
Các thẩm phán: Ông Trương Chí Trung
Ông Nguyễn Ngọc Anh
- Thư phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chiên - Thư Tòa án nhân dân thành phố
Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Lê Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét
xử phúc thẩm công khai
vụ án thụ số 41/2026/TLPT-DS ngày 17/3/2026, về việc
Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tuyên bố hợp đồng vô hiệu,
giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu”.
Do Bản án dân sự số 07/2026/DS-ST ngày 15/01/2026 Tòa án nhân dân Khu
vực 7 - Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 112/2026/QĐPT-DS ngày
02/4/2026; Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 190/2026/QĐPT-DS ngày
17/4/2026 Quyết định tạm ngừng phiên toà số 217/2026/QĐ-TA ngày 14/5/2026
giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1961 và bà Võ Thị K, sinh năm 1966.
Cùng địa chỉ: Thôn D, xã T, thành phố Đà Nẵng.
+ Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Nguyễn M, sinh năm
1989; địa chỉ: Thôn D, T, thành phố Đà Nẵng, (theo Hợp đồng uỷ quyền ngày
21/9/2021). Có mặt.
2
+ Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn N: Ông Văn T, sinh năm
2000; địa chỉ: Số A đường B, tổ dân phố T Thôn D, T, thành phố Đà Nẵng, (theo
Hợp đồng uỷ quyền ngày 13/5/2026). Có mặt.
+ Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn N: Ông Nguyễn
Thành C ông Châu Ngọc P - Luật của Công ty L1 thuộc Đoàn luật thành
phố Đ. Địa chỉ: Số A đường B, tổ dân phố T, phường H, thành phố Đà Nẵng. Ông P
vắng mặt, ông C có mặt.
- Bị đơn: Ông Võ H, sinh năm 1958 và Doãn Thị Thùy N1, sinh năm 1958.
Cùng địa chỉ: Thôn C, P, thành phố Đà Nẵng. Ông H có mặt, N1 đơn đề nghị
xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Duy P1, sinh năm 1984 ông Duy P2, sinh năm 1988. Cùng
địa chỉ: Thôn C, P, tỉnh Quảng Nam. Ông P1 ông P2 đơn đề nghị xét xử vắng
mặt.
+ Ngân hàng Thương mại Cổ phần L2, do ông Vũ Quốc K1, chức vụ: Tổng
giám đốc đại diện theo pháp luật. Địa chỉ: Tòa nhà T, số B, đường T, phường H, Thành
phố Nội. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Nhật H1, chức vụ:
Quyền Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần L2 - Chi nhánh Q. Người đại diện
theo ủy quyền lại: Ông Thành Đ, ông Nguyễn Hoài B, chức vụ: Cán bộ Ngân
hàng Thương mại Cổ phần L2 - Chi nhánh Q. Địa chỉ liên hệ: Số A đường N, phường
H, thành phố Đà Nẵng. Ông Đ có mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Văn N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án dân sự sơ thẩm nội dung vụ án như sau:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình ttụng, nguyên đơn ông
Nguyễn Văn N, Thị K người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn,
Nguyễn Võ Hà M trình bày:
Ngày 15/10/2003, vợ chồng ông Nguyễn Văn N, bà Thị K có nhận chuyển
nhượng của vợ chồng ông H, Doãn Thị Thùy N1 diện tích đất 145m² (5m x
29m) trong tổng diện tích 670m², thuộc thửa đất 421, tờ bản đồ số 09, mục đích s
dụng đất: đất vườn, thời hạn sử dụng lâu dài hộ ông H đã được Ủy ban
nhân dân (UBND) thị T (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sdụng đất (GCNQSDĐ)
số 1435530 ngày 06/10/1997 với số tiền 8.000.000đồng. Ông N, bà K đã giao đủ tiền,
nhưng chưa nhận đất, chưa sử dụng đất.
Sau khi chuyển nhượng, ông H giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho
ông N, K bà M người trực tiếp làm đi làm thtục tách thửa. Tuy nhiên, UBND
T nói đất quy hoạch dự án treo nên không thực hiện việc tách thửa hẹn khi
nào hết quy hoạch thì sẽ tách thửa. Sau đó, bà trả lại giấy chng nhận quyền sử dụng
đất cho ông H, N1. Khi chính quyền địa phương cho tách thửa thì ông H, N1
không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên gia đình bà không thực hiện việc
3
tách thửa được. Sau đó, gia đình ông H chuyển nhượng đất cho con trai ông Duy
P1 thì ông N, bà K không biết. Khi ông N, K tiếp tục yêu cầu tách thửa thì ông H
nói sổ đỏ ông P1 đã thế chấp ngân hàng vay tiền, phải trả tiền cho ngân hàng để lấy sổ
đỏ ra tách thửa thì gia đình ông N, bà K không thể thực hiện được.
Trong quá trình tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Duy P2
trình bày: Việc ba mẹ ông bán đất ông không biết và không có liên quan nên đề nghị
Tòa án giải quyết theo quy đinh của pháp luật.
Vì vậy, ông Nguyễn Văn N, bà Võ Thị K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
giữa ông H, bà Doãn Thị Thùy N1 với ông Nguyễn Văn N, bà Võ Thị K theo giấy
chuyển nhượng đất ngày 15/10/2003. Nếu tuyên bố hợp đồng hiệu thì giải quyết
hậu quả của hợp đồng vô hiệu và buộc ông H, bà N1 phải bồi thường thiệt hại với số
tiền là 600.000.000đồng.
* Theo bản tự khai trong quá trình tố tụng, bị đơn ông H, Doãn Thị
Thùy N1 trình bày:
Năm 2003, vợ chồng ông bà có chuyển nhượng cho vợ chồng ông Nguyễn Văn
N, bà Thị K một miếng đất trong vườn nhà, ngang 5m x dài 29m, diện tích 145m²,
với số tiền là 8.000.000đồng, bên mua chịu làm giấy tờ. Đến năm 2012, vợ chồng ông
N, bà K bán lại cho ông Lâm Tấn L, Thị P3 với giá tiền 120.000.000đồng (thỏa
thuận bên bán chịu làm giấy tờ) nhưng sau đó cũng không làm được giấy tờ.
Khi con trai ông là Võ Duy P1 đi chấp hành án về có trao đổi với vợ chồng ông
N, bà K để lại đất và trả lại tiền cho ông N, bà K. Ông có vay mượn tiền đem lên nhà
nói chuyện trả dần cho ông N, K nhưng ông N, K không chịu nên ông cũng
không biết làm cách nào. Năm 2019, con ông Duy P1 cần tiền làm ăn nhưng ông
không vay được tiền Ngân hàng nên gia đình ông mới tặng cho toàn bộ diện tích đất
670m² thuộc thửa đất 421, tờ bản đồ 09 cho Võ Duy P1. Ông P1 đã tách làm hai thửa
đất và thế chấp vay tiền ngân hàng. Vì vậy, hiện nay không thể nào giao đất cho ông
N, K được nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Nếu hợp đồng hiệu
thì giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, vợ chồng ông đồng ý trả lại tiền bồi
thường cho ông N, bà K theo quy định của pháp luật.
* Trong quá trình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Duy
P1 trình bày:
Năm 2003, ba, mẹ ông là ông Võ H, bà Doãn Thị Thùy N1 có bán đất cho ông
Nguyễn Văn N, Võ Thị K (là cô, dượng ruột ông P1). Tại thời điểm ông H, bà N1
bán đất cho ông N, bà K ông không có ở nhà nên không biết. Ông thấy việc mua bán
không ràng, không đủ sở pháp nên đnghị Tòa án giải quyết theo quy định
của pháp luật.
* Trong quá trình tố tụng, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Duy
P2 trình bày:
4
Việc ba mẹ ông bán đất ông không biết và không có liên quan nên đề nghị Tòa
án giải quyết theo quy đinh của pháp luật.
* Theo đơn trình bày quá trình tố tụng, người đại diện hợp pháp của Ngân
hàng TMCP L2, ông Lê Thành Đ, ông Nguyễn Hoài B trình bày:
Ông Võ Duy P1 vay vốn tại Ngân hàng TMCP B1 - Chi nhánh Q (nay là Ngân
hàng TMCP L2 - Chi nhánh Q) theo Hợp đồng tín dụng số HDTD48020200308
ngày 18/11/2020 với số tiền là 1,7 tỷ đồng. Tài sản đảm bảo cho các khoản vay trên
quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở trên hai thửa đất số 1372, số 1373, tờ bản đồ số 9,
tại thôn C, T, huyện P, tỉnh Quảng Nam (cũ). Hiện nay, tài sản đảm bảo liên
quan đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, Doãn Thị
Thùy N1 với ông Nguyễn Văn N, bà Thị K thì Ngân hàng có ý kiến như sau:
Đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông H, Doãn
Thị Thùy N1 với ông Nguyễn Văn N, Thị K ngày 15/10/2003 Ngân hàng không
biết về giao dịch này.
Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Võ H, bà Doãn Thị Thùy N1
với ông Nguyễn Văn N, Thị K chỉ lập hợp đồng viết tay, bên nhận chuyển
nhượng cũng không ký vào hợp đồng không được công chứng, chứng thực theo
quy định của pháp luật. Đất chuyển nhượng được cấp cho hộ gia đình, khi chuyển
nhượng các thành viên trong hộ đã đủ 15 tuổi nhưng không có ý kiến của họ. Vì vậy,
việc chuyển nhượng này là không hợp pháp.
Hiện nay, đất chuyển nhượng đã được tặng cho ông Duy P1 ông P1 đã
được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật. Ông
Võ Duy P1 thế chấp tài sản là đất đai vay tiền ngân hàng, việc thế chấp đã được đăng
tại quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật. Do đó, kính
đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Với nội dung nêu trên tại Bản án dân sự số 07/2026/DS-ST ngày 15/01/2026
Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đà Nẵng đã xử và quyết định:
Căn cứ vào: các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 227, 228, 271, 273, 280 Bộ luật Tố
tụng dân sự; các Điều 131, 133, 136, 139, 145, 146, 304, 400, 691, 692, 695, 696, 697,
705, 706, 707 và 711 Bộ luật dân sự năm 1995; các Điều 31, 75 Luật Đất đai năm
1993; Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Toà
án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết vụ án dân sự, hôn
nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận u cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn N,
Thị K về việc: Yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng đất viết tay
“Giấy chuyển nhượng đất”, lập ngày 15/10/2003 đối với diện tích đất 145m² tại thửa
đất 421, tờ bản đồ số 9, được cấp giấy chứng quyền sử dụng đất cho hộ ông Võ H, do
5
UBND thị xã T cấp ngày 06/10/1997. (Hiện nay được tách thành thửa đất số 1373, tờ
bản đồ 09, diện tích 260,5m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV
433264, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Q cấp ngày 08/10/2020 cho ông
Duy P1).
Về giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu: Buộc ông H, Doãn Thị Thùy
N1 nghĩa vliên đới trả lại cho ông Nguyễn Văn N, bà Thị K số tiền chuyển
nhượng đất đã nhận 8.000.000đồng bồi thường thiệt hại số tiền
208.054.900đồng. Tổng cộng là 216.054.900đồng.
Ngoài ra, còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá, án phí và quyền kháng cáo.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Văn N và người đại diện theo ủy quyền
của nguyên đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn b
yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy bản án thẩm, do Tòa án cấp thẩm
chưa xem xét tính hợp pháp của việc tặng cho thửa đất giữa vợ chồng ông H,
Doãn Thị Thùy N1 ông Võ Duy P1, việc tách thửa thế chấp tài sản của ông P1
cho Ngân hàng L2, chưa giải quyết toàn diện vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo uỷ quyền Luật bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn N giữ nguyên kháng cáo, đề nghị sửa bản án
thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc công
nhận hiệu lực của giao dịch dân sự về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
ông H, Doãn Thị Thùy N1 với ông Nguyễn Văn N, Thị K theo Giấy
chuyển nhượng đất ngày 15/10/2003 được nhận diện tích đất 145m² tại thửa đất
421, tbản đồ số 9 theo thoả thuận chuyển nhượng. Nếu không đề nghị huỷ Bản án
sơ thẩm với lý do chưa xem xét tính hợp pháp của việc tặng cho thửa đất giữa ông
H, Doãn Thị Thùy N1 ông Duy P1, việc tách thửa thế chấp tài sản của
ông P1 cho Ngân hàng TMCP L2 - Chi nhánh Đ1 là chưa giải quyết toàn diện vụ án.
* Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng
phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai
đoạn phúc thẩm là đảm bảo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết: Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự; Điều 116, khoản 2 Điều 129, khoản 1 Điều 502 Bộ luật Dân snăm 2015 Án
lệ số 55/2022/AL ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn N, sửa Bản án dân sự số
07/2026/DS-ST ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đà Nẵng.
+ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, bà Võ Thị K
đối với ông H, Doàn Thị Thùy N2 về việc Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất”.
6
Công nhận hiệu lực của giao dịch dân sự về việc chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông H, Doãn Thị Thùy N1 với ông Nguyễn Văn N, Thị K theo
Giấy chuyển nhượng đất ngày 15/10/2003.
+ Không chấp nhận yêu cầu một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn
N, Thị K về việc buộc ông H, Doàn Thị Thùy N2 giao diện tích đất 145m²
tại thửa đất số 1373, tờ bản đồ 9, diện tích 260,5m² được Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 433264 ngày 08/10/2020 đứng
tên ông Võ Duy P1.
+ Buộc ông Võ H, bà Doãn Thị Thùy N1 có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Văn
N, bà Võ Thị K giá trị quyền sử dụng đất là 424.109.800đồng.
- Án phí chi phí tố tụng: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà Doãn Thị Thùy N1 và người có quyền
lợi, nghĩa vliên quan ông Duy P1, ông Duy P2 đơn đề nghị xét xử vắng
mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng
mặt các đương sự trên.
[1.2] Ngày 14/5/2026, Hội đồng xét xử phúc thẩm tạm ngừng phiên t theo
Quyết định số 217/2026/QĐPT-DS với do cần đợi đương sự cung cấp tài liệu, chứng
cứ bản gốc Giấy cam kết và thoả thuận ngày 11/11/2022” để đối chiếu với bản phô
“Giấy cam kết thoả thuận ngày 11/11/2022” (Bút lục số 33), nhưng đại diện theo
uỷ quyền của ông Nguyễn Văn N, bà Võ Thị K không cung cấp được bản gốc giấy tờ
nêu trên. Đồng thời, tại giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, các đương sự đều xác
định “Giấy cam kết thoả thuận ngày 11/11/2022” các bên lập xác nhận
nhưng không có giá trị pháp lý.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1]. Ông Võ H, Doãn Thị Thùy N1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho
ông Nguyễn Văn N, Thị K theo giấy viết tay GIẤY CHUYỂN NHƯỢNG
ĐẤT" ngày 15/10/2003 với nội dung: Ông H, bà N1 chuyển nhượng cho em là ông N,
K (bà K em ruột ông H) một diện tích đất 145m² (5m x 29m) thuộc thửa đất số
421, tờ bản đồ số 9 được cấp GCNQSDĐ số I435530 cấp ngày 06/10/1997 cho hộ ông
H, với giá tiền 8.000.000đồng (tám triệu đồng); ông N, K làm thủ tục giấy tờ.
Theo đó, ông N và bà K đã giao đủ số tiền chuyển nhượng 8.000.000đồng và ông H,
N1 đã giao cho ông N, bà K diện tích đất chuyển nhượng. Các bên đều thừa nhận
việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao nhận tiền xong, nên giao dịch dân
sự trên đã thực hiện trên thực tế.
7
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Duy P1, ông Võ Duy P2 là các
con của ông H, bà N1 cho rằng việc cha mẹ chuyển nhượng quyền sdụng đất nêu
trên các ông không biết và không đồng ý, thì thấy rằng: Thửa đất số 421, tờ bản đồ số
9, được cấp GCNQSDĐ số 1435530 cấp ngày 06/10/1997 cho hộ ông Võ H là tài sản
chung của hộ gia đình ông H, N1 chỉ chuyển nhượng một phần diện tích trong tổng
diện tích 670m
2
cấp cho hộ nên vẫn thuộc phạm vi quyền tài sản của ông H, N1
trong khối tài sản chung hộ gia đình.
Mặc dù, giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nêu trên của các bên không
tuân thủ vhình thức, thủ tục thực hiện hợp đồng về quyền sdụng đất không
chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực cho phép của quan nhà
nước thẩm quyền và các điều kiện khác theo quy định tại khoản 1 Điều 502 Bluật
dân sự năm 2015. Nhưng căn cứ vào quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật
dân sự năm 2015Án lệ s55/2022/AL ngày 07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán
Toà án nhân dân Tối cao thì ông N, bà K đã giao đủ số tiền chuyển nhượng
8.000.000đồng cho ông H, N1; còn ông H, N1 đã giao quyền sử dụng đất cho
ông N, bà K để thực hiện thủ tục tách thửa nhưng chưa thực hiện được do vướng quy
hoạch là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ nên giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất giữa ông H, N1 với ông N, K theo Giấy chuyển nhượng đất ngày 15/10/2003
có hiệu lực.
[2.2] Tuy nhiên ngày 22/02/2019, hộ ông H đã tặng cho toàn bộ thửa đất nêu
trên cho con ông Duy P1 được ông P1 tách thành 02 thửa đất, trong đó
diện tích đất 145m² ông N Kiểm nhận chuyển nhượng. Việc ông P1 được tặng
cho tài sản tách thửa đất được thực hiện đảm bảo quy định của pháp luật đến
ngày 13/11/2020, ông P1 đã dùng tài sản trên thế chấp tại Ngân hàng TMCP B1 (nay
là Ngân hàng TMCP L2 - Chi nhánh Q) để vay tiền và có đăng ký giao dịch đảm bảo.
vậy, ông N K yêu cầu được nhận diện tích đất 145m² đã nhận chuyển nhượng
không phù hợp, cần buộc ông H N1 phải trả cho ông N K giá trị
quyền sử dụng đối với diện tích đất 145m
2
theo Chứng thư thẩm định giá số
523/CTTĐG-VFC ngày 05/12/2023 của Công ty Cổ phần T1 với số tiền
424.109.800đồng là phù hợp.
[2.3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo
của ông Nguyễn Văn N, bà Võ Thị K. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân
sự, sửa Bản án dân sự số 07/2026/DS-ST ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân khu
vực 7 - Đà Nẵng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng.
[3] Về chi phí thẩm định, định giá: Ông H, Doãn Thị Thùy N1 có nghĩa
vụ hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn N, bà Võ Thị K số tiền là 8.678.000đồng.
[4] Về án phí dân sự thẩm: Ông H, Doãn Thị Thùy N1 phải chịu án
phí theo quy định, nhưng ông H, bà N1 thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định
tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý
sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông H, N1 được miễn tiền án phí dân sự
thẩm.
8
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do chấp nhận kháng cáo nên ông Nguyễn Văn
N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn N;
Sửa Bản án dân ssố 07/2026/DS-ST ngày 15/01/2026 của Tòa án nhân dân
Khu vực 7 - Đà Nẵng.
Căn cứ vào: các Điều 147, 148, 157, 158, 165, 166, 296 Bộ luật Tố tụng dân sự;
các Điều 116, 129, 502 Bộ luật Dân sự năm 2015 Án lsố 55/2022/AL ngày
07/9/2022 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N, bà Võ Thị K
về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đối với ông Võ H,
Doàn Thị Thùy N2.
2. Công nhận giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông
H, Doãn Thị Thùy N1 với ông Nguyễn Văn N, Thị K theo Giấy chuyển
nhượng đất ngày 15/10/2003 có hiệu lực pháp luật.
3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn N, Võ Thị K về việc buộc
ông Võ H, Doàn Thị Thùy N2 phải giao 145m² đất tại thửa đất số 1373, tờ bản đồ
9, diện tích 260,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sCV 433264 ngày
08/10/2020 đứng tên ông Võ Duy P1.
4. Buộc ông H, Doãn Thị Thùy N1 trả cho ông Nguyễn Văn N,
Thị K giá trị 145m² đất là 424.109.800đồng (Bốn trăm hai mươi bốn triệu một trăm lẽ
chín nghìn tám trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi
thi hành xong tất cả các khoản tiền, hằng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2
Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
5. Vchi phí thẩm định, định giá: Ông H, Doãn Thị Thùy N1 nghĩa
vụ hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn N, Thị K số tiền 8.678.000đồng (Tám
triệu sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng).
5. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ H, bà Doãn Thị Thùy N1 được miễn tiền án
phí dân sự sơ thẩm.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn N không phải chịu án phí.
9
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng
chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu
thi hành án dân sự được thực hiện theo định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND TP Đà Nẵng;
- TAND Khu vưc 7;
- Phòng THADS Khu vưc 7;
- THADS TP Đà Nẵng;
- Phòng GĐ, KT, TT và THA;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Tổ nghiệp vụ;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Hoài Sơn
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 147/2026/DS-PT Bản án số 147/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 147/2026/DS-PT Bản án số 147/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất