Bản án số 504/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 504/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 504/2026/DS-PT ngày 27/05/2026 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 504/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/05/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 504/2026/DS-PT Bản án số 504/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 504/2026/DS-PT Bản án số 504/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
————————
Bản án số: 504/2026/DS-PT
Ngày 27-5-2026
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
——————————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Bằng
Các Thẩm phán:Bà Phan Thị Tuyết Mai
Bà Võ Bích Hải
- Thư phiên tòa: Ông Kim Mộc Nam Thư Tòa án nhân dân thành
phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Xuân Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 244/2026/TLPT-DS ngày 13 tháng
02 năm 2026 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 614/2026/QĐ-PT ngày
15 tháng 4 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn Đ, sinh năm 1986 (có mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn:
1. Ông Võ Văn C (C1), sinh năm 1942 (có mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của ông C: Ông Văn D, sinh năm 1969 (có
mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ.
2. Bà Trương Thị B, sinh năm 1947 (có mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ.
2
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Võ Thị H, sinh năm 1954 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ.
2. Bà Võ Thị M, sinh năm 1961 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp P, xã P, thành phố Cần Thơ.
3. Bà Võ Thị H1, sinh năm 1983 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp H, xã A, thành phố Cần Thơ.
4. Ông Võ Quốc B1, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ
5. Bà Đoàn Thị Thu H2 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ.
6. Bà Ngô Thị Ánh N, sinh năm 1986 (có mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ.
7. Bà Võ Thị Quỳnh H3, sinh năm 2007 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ.
8. Ông Võ Văn D, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã A, thành phố Cần Thơ.
- Người kháng cáo: Ông Võ Văn C là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông
Võ Văn Đ trình bày:
Ông Đ cháu nội của ông Văn N1 (sinh năm 1930, chết năm 2013).
Cha ruột của ông Đ đã chết từ năm 1989 nên từ nhỏ ông sống cùng được ông
N1 trực tiếp nuôi dưỡng.
Năm 2008, ông N1 cho ông Đ các thửa đất số 449, 33, 41 768 cùng tờ
bản đồ số 04, tổng diện tích 14.700m², tọa lạc tại ấp C, X, huyện K, tỉnh Sóc
Trăng, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 574897 do Ủy ban nhân
dân huyện K cấp ngày 24/12/1999 đứng tên ông Văn N1. Việc cho đất được
các thành viên trong gia đình biết đồng ý ông Đ người trực tiếp chăm
sóc ông N1 đến cuối đời.
Từ khi được cho đất, ông Đ quản lý, sử dụng ổn định. Trong đó, tại thửa
đất số 41 một liếp tre xiêm diện tích khoảng 218,7m² (ngang khoảng 9m, dài
khoảng 24,3m), thuộc một phần diện tích 1.300m². Trước đây ông N1 trồng tre
trên liếp đất này chỉ chừa lối đi rộng khoảng 2m để đi ra các thửa đất liền kề.
3
Sau khi ông N1 mất, ông Đ đốn tre để sử dụng thì Trương Thị B cho rằng
phần liếp tre này thuộc quyền sử dụng của vợ chồng bà do đã đổi đất với ông N1
trước đây. Từ đó phát sinh tranh chấp.
Ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án:
1. Công nhận phần đất trồng tre diện tích 218,7m², thuộc một phần thửa
đất số 41, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp C, X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, theo
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 574897 do UBND huyện K cấp ngày
24/12/1999 cho ông Võ Văn N1, thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông
Văn Đ.
Phần đất có tứ cận:
- Đông giáp thửa 40 và 93, dài khoảng 7,5m;
- Tây giáp thửa 42, dài khoảng 6,5m;
- Nam giáp thửa 40, phần còn lại thửa 41 và thửa 33, dài khoảng 24,3m;
- Bắc giáp thửa 93, phần còn lại thửa 41 và thửa 42, dài khoảng 24,3m.
2. Buộc ông Văn C Trương Thị B giao trả phần đất nêu trên cho
ông Đ.
Tại đơn phản tố trong quá trình giải quyết vụ án bđơn ông Văn C
và bà Trương Thị B trình bày:
Năm 1995, để thuận tiện cho việc canh tác, vợ chồng ông đổi đất
với ông Văn N1. Theo đó, ông bà giao cho ông N1 một liếp đất ngang 9m,
dài 42m nhận lại từ ông N1 phần đất ngang 9m, dài khoảng 27m, thuộc các
thửa đất số 41 và 42, tờ bản đồ số 04, tại ấp C, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Sau khi đổi đất, ông quản , sử dụng ổn định, liên tục từ năm 1995
đến nay, trên đất có trồng tre và dừa do ông bà tự trồng. Do chưa làm thủ tục cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nay phát sinh tranh chấp với cháu nội
của ông N1 là ông Đ.
Ông C và B yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đối với phần đất
đã nhận đổi tông N1 năm 1995, chiều ngang 9m, chiều dài khoảng 27m,
hiện thuộc các thửa đất số 41 và 42, tờ bản đồ số 04.
Quá trình giải quyết vụ án những người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trình bày:
1. Bà Thị H cho rằng: phần đất tranh chấp thuộc thửa số 41 là của ông
Văn N1; ông Văn C không quản lý, sử dụng phần đất này. Từ trước đến
nay không nghe việc ông N1 ông C đổi đất cho nhau. Người trực tiếp
quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp là ông Võ Văn Đ do được ông N1 cho đất;
trên đất có trồng tre xiêm.
2. Thị M trình bày: M con ruột ông Văn N1, xác nhận
thửa đất số 41 diện tích 1.300m² của ông N1. không yêu cầu hưởng quyền
đối với thửa đất này và đồng ý nhường lại cho ông Võ Văn Đ.
4
Tại Bản án dân sự thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2025
của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Cần Thơ tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Văn Đ.
Buộc bị đơn ông Võ Văn C (Chín) - Trương Thị B Người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan ông n D cùng trách nhiệm trả lại phần đất
198,4m
2
tại thửa số 41, tờ bản đồ số 4, đất toạ lạc tại ấp C, xã A, thành phố Cần
Thơ cho những người thừa kế của ông Văn N1 Thị H, Thị M,
Văn Đ, Võ Quốc B1, Võ Thị H1, phần đất có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa đất số 41 (Văn Đ đang
sử dụng) có số đo là 5,57m + phần giáp với ông Võ Văn D, có số đo là 16,43m +
1,87m.
- Hướng Tây giáp với thửa đất số 33 (Võ Văn Đ đang sử dụng) có số đo là
9,05m + phần giáp với ông Đặng Văn H4 có số đo là 1,87m + 13,09m.
- Hướng Nam giáp với ông Võ Văn D, có số đo là 8,31m.
- Hướng Bắc giáp với ông Võ Văn D, có số đo là 9,15m.
Bao gồm các cấy trồng trên phần đất: 5m
2
tre; 03 cây dừa và cây cau.
(Kèm theo Sơ đồ vị trí phần đất).
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của ông Văn Đ đối với
yêu cầu Toà án buộc ông Văn C (Chín), Trương Thị B, ông Văn D phải
trả lại cho nguyên đơn phần đất 3,9m
2
tại thửa số 41, tờ bản đồ số 4, đất toạ lạc
tại ấp C, A, thành phố Cần Thơ. Nguyên đơn Văn Đ quyền khởi kiện
lại theo quy định pháp luật.
3. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Võ Văn C (Chín)
Trương Thị B về việc yêu cầu Tòa án Công nhận diện tích đất đã đổi với ông
Văn N1 vào năm 1995 diện tích chiều ngang 03 tầm (9m), chiều dài khoảng
09 tẩm (27m). Nay thuộc thửa đất số 41 tờ bản đồ 04, đất tọa lạc tại ấp C, A,
thành phố Cần T.
4. Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ chịu chi ptố tụng
quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 23/9/2025 bị đơn ông Văn C đơn kháng cáo toàn bộ bản án
dân sthẩm nêu trên yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: sửa án
thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp
nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, công nhận cho bị đơn được quyền sử dụng
phần đất tranh chấp.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên đơn khởi kiện, bị
đơn vẫn giữ nguyên đơn phản tố đơn kháng cáo. Các đương sự không thoả
thuận được với nhau về nội dung tranh chấp.
Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ cho rằng:
- Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các
quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền
5
nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng của
bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Văn C nộp trong thời hạn quy định
tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được chấp nhận xem xét theo
trình tự, thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của ông Võ Văn C, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ ván lời trình bày
thống nhất của các đương sự xác định phần đất tranh chấp diện tích 198,4m²
thuộc thửa số 41, tờ bản đồ số 04, tọa lạc tại ấp C, A, thành phố Cần Thơ,
nguồn gốc do ông Văn N1 quản lý, sử dụng được cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất số P574897 do Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày
24/12/1999 đứng tên ông Võ Văn N1. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng
minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Bị đơn ông Văn C Trương Thị B cho rằng vào năm 1995
việc đổi đất với ông Văn N1, theo đó ông C giao cho ông N1 một liếp đất
ngang 09m, dài khoảng 42m nhận lại phần đất hiện đang tranh chấp ngang
09m, dài khoảng 27m; từ đó đến nay sử dụng ổn định nên yêu cầu công nhận
quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp. Tuy nhiên, ngoài lời trình bày
của mình thì ông C, B không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng
minh việc đổi đất nêu trên như giấy tờ chuyển nhượng, giấy đổi đất, giấy tay
hoặc tài liệu thể hiện việc đăng biến động quyền sdụng đất theo quy định
pháp luật.
[2.3] Mặt khác, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00035/QSDĐ cấp
ngày 13/7/1994 cho ông Văn C chỉ thể hiện quyền sử dụng đối với các thửa
đất số 42 96; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Văn D
cũng chỉ thể hiện thửa đất số 97, không thửa đất số 41 đang tranh chấp. Bản
vẽ sơ đồ trong các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cũng thể hiện
thửa đất số 41 nằm ngoài phần diện tích đất được Nhà nước công nhận quyền sử
dụng cho ông C và ông D. Từ năm 1994 đến khi ông Văn N1 được cấp giấy
chứng nhận năm 1999 cho đến thời điểm phát sinh tranh chấp, phía ông C
ng không thực hiện thủ tục khai, đăng biến động hoặc yêu cầu quan
thẩm quyền công nhận phần đất cho rằng đã đổi từ năm 1995. Điều này cho
thấy lời trình bày của bị đơn về việc đổi đất không căn cứ vững chắc để
chấp nhận.
[2.4] Ngược lại, tài liệu, chứng cứ trong h thể hiện phần đất tranh
chấp vẫn thuộc thửa số 41 do ông Văn N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất chưa bị quan thẩm quyền thu hồi, điều chỉnh hay hủy bỏ.
6
Các lời khai của người làm chứng gồm ông Nguyễn Văn N2, Nguyễn Thị T,
ông Nguyễn Văn T1 đều xác nhận phần đất tranh chấp của ông Văn N1
quản lý, sử dụng; sau khi ông N1 chết thì ông Văn Đ tiếp tục quản lý, chăm
sóc, canh tác và không ai nghe việc ông N1 đổi đất cho ông C. Nội dung này còn
phù hợp với xác nhận của Ban nhân dân ấp Cứ Mạnh ngày 24/10/2024 về quá
trình sử dụng đất của ông Võ Văn Đ từ năm 2008 đến nay.
[2.5] Ngoài ra, bị đơn cho rằng phần đất thửa s33 ông Văn Đ
đang sử dụng phần đất dùng để đổi cho ông Văn N1. Tuy nhiên, căn cứ
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P574897 cấp cho ông Văn N1 thì
thửa đất số 33 hình thể vuông vức, diện tích 4.100m², không thể hiện bị cắt
giảm hoặc thay đổi hình thể do việc đổi đất như lời bị đơn trình bày. vậy
không sở xác định giữa ông Văn N1 ông Văn C việc đổi đất
thực tế.
[2.6] Tại cấp thẩm, Tòa án đã đánh giá đầy đủ, khách quan các chứng
cứ trong hồ vụ án, xác định bị đơn không chứng minh được yêu cầu phản
tố của mình theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; đồng thời đủ
căn cứ xác định phần đất tranh chấp vẫn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông
Văn N1. Do ông Văn N1 đã chết nên cấp thẩm buộc ông Văn C,
Trương Thị B và ông Văn D giao trả phần đất tranh chấp cho các đồng
thừa kế của ông Văn N1 cùng quản lý, sử dụng căn cứ, đúng quy định
pháp luật.
[2.7] Tại giai đoạn phúc thẩm, ông Võ Văn C không cung cấp được tài
liệu, chứng cứ mới m thay đổi bản chất vụ án; các nội dung kháng cáo chỉ
lặp lại lời trình bày đã được cấp thẩm xem xét, đánh giá đầy đủ. Do đó,
không căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Văn C, cần giữ nguyên bản
án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[2.8] Về án phí dân sự phúc thẩm: do ông Văn C người cao tuổi
có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Võ Văn C.
3. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2025/DS-ST ngày 11 tháng 9
năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Cần Thơ.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: miễn toàn bộ cho ông Võ Văn C.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật
7
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Cần Thơ;
- TAND Khu vực 10 – Cần Thơ;
- Phòng THADS Khu vực 10 - Cần Thơ;
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Hữu Bằng
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 504/2026/DS-PT Bản án số 504/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 504/2026/DS-PT Bản án số 504/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất