Bản án số 65/2026/HS-PT ngày 05/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 65/2026/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 65/2026/HS-PT ngày 05/06/2026 của TAND tỉnh Vĩnh Long
Tội danh:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 65/2026/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 05/06/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: bị cáo Võ Ngọc Đ cố ý gây thương tích
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 65/2026/HS-PT Bản án số 65/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 65/2026/HS-PT Bản án số 65/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH VĨNH LONG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 65/2026/HS-PT
Ngày: 05-6-2026
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Dung
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Tôn Văn Thông
- Thư phiên tòa: Dương Thị Thu Nguyệt Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa:
Ông Phan Minh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét
xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ số: 75/2026/TLPT-HS
ngày 05 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo Võ Ngọc Đ do có kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long đối với Bản án hình sự sơ
thẩm số: 18/2026/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực
9 - Vĩnh Long.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Họ tên: Ngọc Đ, sinh ngày 24/02/1989, tại tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh
Vĩnh Long).
Nơi trú: ấp H, M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: công nhân; trình độ
học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Văn Đ1 Hồ Thị L; vợ Nguyễn Thị G bị cáo 02
người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự:
không.
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bcáo: Ông Nguyễn Văn T - Luật Văn phòng Luật
sư Lê Vũ Hồng H thuộc Đoàn luật sư tỉnh V.
Ngoài ra, bị hại Nguyễn Thị G không kháng cáo, không bị kháng nghị
hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, tòa không triệu tập.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Quá trình sống chung, Võ Ngọc Đ nghi ngờ vợ là Nguyễn Thị G, sinh ngày
16/02/1990 ở ấp H, xã M, tỉnh Vĩnh Long ngoại tình, cùng với việc G mượn tiền,
vàng từ cha, mẹ ruột của Đ nhưng không cho Đ biết nên giữa Đ G phát sinh
mâu thuẫn, nhiều lần cự cãi. Đến khoảng tháng 7/2025, G cùng hai con về nhà mẹ
ruột Thị M, sinh năm 1971, ấp T, Đ, tỉnh Vĩnh Long sinh sống. Đồng
nhiều lần gọi điện, nhắn tin kêu Gắm về nhưng G không đồng ý.
Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 27/7/2025, Đ lấy 01 con dao dài 20cm; cán
bằng gỗ màu nâu; lưỡi bằng kim loại màu trắng dài 10cm; nơi rộng nhất lưỡi dao
3,8cm; phần lưỡi dao hai lưỡi được kết với nhau bằng ốc trên đầu lưỡi dao,
lưỡi dao một bề bén hướng ra ngoài, mt bề bén ở giữa rãnh song song, tại nhà Đ
thuộc ấp H, M, tỉnh Vĩnh Long bỏ vào túi quần trước bên phải đi tìm Gắm
nhằm mục đích dùng dao đe dọa yêu cầu G vsống chung. Đồng điều khiển xe
mô tô biển số 71B1– 314.96 đến nhà bà M ấp T, Đ, tỉnh Vĩnh Long tìm G.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ gặp G nói chuyện tại khu vực nhà bếp phía sau.
Tại đây mặt M, Phan Thị Ú, sinh năm 1988; Thị T1, sinh năm
1981, cùng địa chỉ: ấp T, xã Đ, tỉnh Vĩnh Long. Đồng kêu G dẫn hai con về nhà,
lúc này G đang cắm hoa trả lời không đồng ý, kêu Đ đi về. Khi G cầm bình
hoa đi lên khu vực bàn thờ tại nhà trên thì Đ đi theo sau, Đ tiếp tục kêu G về nhà
nhưng G vẫn không đồng ý. Khi G quay trở xuống nhà sau, Đ đi theo phía sau
cách khoảng 30cm, dùng tay phải lấy con dao trong túi quần ra cầm đâm G 02 cái
trúng vào vùng lưng và vai trái làm Gắm té xuống nền nhà nằm ngửa, Đ tiếp tục
đâm nhiều cái liên tiếp trúng vùng tay, bẹn, mặt Gắm. Sau đó, G kêu cứu, M
nghe nên chạy lên căn ngăn, Đ bỏ chạy khỏi nhà khoảng 150 mét thì vứt dao
xuống mương nước phía bên phải cạnh ltông. Gắm được người nhà đưa đi
cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện N1 đến ngày 31/7/2025 thì xuất viện. Sau khi s
việc xảy ra, bà Phan Thị Ú điện thoại trình báo Công an xã Đ, tỉnh Vĩnh Long.
Vật chứng, đồ vật tạm giữ gồm:
- Thu gitại hiện trường: Một (01) con dao dài 20cm cán gỗ màu nâu,
lưỡi dao bằng kim loại bị rỉ sét, lưỡi dao dài 10cm, nơi rộng nhất của lưỡi dao là
3,8cm, phần lưỡi dao gồm hai lưỡi được kết nhau bằng ốc trên đầu lưỡi dao đã bị
gãy bung, hở, lưỡi dao một bbén hướng ra ngoài, một bề bén ở giữa rãnh song
song, bề lưng lưỡi dao dạng răng cưa, mũi dao nhọn bị cong vênh phần nhọn; đã
qua sử dụng.
- Võ Ngọc Đ giao nộp:
3
+ Một (01) xe tô, biển số 71B1 314.96, màu đxám đen, số khung
RLHJC4316AY044210, số máy JC43E1258279; đã qua sử dụng.
+ Một (01) điện thoại nhãn hiệu Samsung màn hình cảm ứng, màu đen bên
trong gắn một sim số 0978950333; đã qua sử dụng.
+ Một (01) giấy đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 71000145, tên chủ sở hữu
Võ Ngọc Đ, địa chỉ: T, Mỏ Cày N, Bến Tre, nhãn hiệu: Honda, số loại: Wave S,
số máy: JC43E1258279, số khung: RLHJC4316AY044210, màu đỏ xám đen,
biển số đăng ký: 71B1 – 314.96.
+ Một (01) quần Jeans nam ngắn chân màu xám xanh dài 50cm, đã qua sử
dụng;
+ Một (01) áo thun màu đen ngắn tay, màu đen, hai tay, cổ áo viền đ
trắng, phía sau lưng chữ “XE MÁY HUỲNH THÀNH, Bạn đồng hành tin cậy,
1800588861 (Miễn phí cước gọi)”, màu trắng đỏ, phía trước ngực bên trái của áo
chữ XE MÁY HUỲNH THÀNH, Bạn đồng hành tin cậy”, màu trắng đỏ; đã
qua sử dụng.
Tại Giấy chứng nhận thương tích số 000683/2025/CN, ngày 26/8/2025 của
Bệnh viện Nguyễn Đình C ghi nhận thương tích của Nguyễn Thị G lúc vào viện
như sau:
- Vết thương giữa lưng khoảng đốt sống T7T8 dài 3 cm, sâu 5 cm, đứt một
phần cơ cạnh sống;
- Vết thương vùng lưng trái dưới xương bả vai dài 3 cm, sâu 5 cm, đứt một
phần cơ lưng rộng;
- Vết thương mặt trước 1/3 trên cẳng tay trái kích thước khoảng 04 cm x 01
cm vừa qua da;
- Vết thương mặt trước trong 1/3 dưới cánh tay trái kích thước khoảng 04
cmx 01 cm vừa qua da;
- Vết thương mặt trước ngoài 1/3 giữa cẳng tay phải kích thước khoảng 04
cmx 01 cm vừa qua da;
- Vết thương mặt sau 1/3 trên cánh tay phải kích thước khoảng 05 cm x 01
cm vừa qua da;
- 02 vết thương ngón 3, 4 tay trái kích thước 01 cm x 01 cm rách da;
- Vết thương cạnh trong khoeo phải kích thước khoảng 03 cmx 01 cm sâu
tới bao cơ;
- Vết thương vai trái ngay cạnh gai vai kích thước khoảng 03 cm x 01 cm
sâu tới xương bả vai;
- 01 vết thương bẹn trái bờ trong gai chậu trước trên kích thước khoảng
03x03cm, sâu khoảng 04cm;
4
- 01 vết thương môi dưới khoảng 04 x 01 cm, bờ sắc gọn.
Bản kết luận giám định số: 165/KLTTCT-TTPYVL, ngày 12/9/2025 của
Trung tâm P xác định:
- Sẹo vùng giữa lưng đốt sống T, T8 kích thước trung bình: 02% Căn cứ
Chương 8, Mục I.2.
- Sẹo vùng lưng trái dưới xương bvai kích thước trung bình: 02% Căn cứ
Chương 8, Mục I.2.
- Sẹo mặt trước trong 1/3 dưới cánh tay trái kích thước trung bình: 02% Căn
cứ Chương 8, Mục I.2.
- Sẹo mặt trước 1/3 trên cẳng tay trái kích thước trung bình: 02% Căn cứ
Chương 8, Mục I.2.
- Sẹo mặt trước ngoài 1/3 giữa cẳng tay phải kích thước trung bình: 02% Căn
cứ Chương 8, Mục I.2.
- Sẹo mặt sau 1/3 trên cánh tay phải kích thước lớn: 03% Căn cứ Chương 8,
Mục I.3.
- Hai sẹo vết thương ngón 3,4 tay trái kích thước nhỏ: Mỗi sẹo 01% Căn cứ
Chương 8, Mục I.1.
- Sẹo cạnh trong khoeo phải kích thước lớn: 03% Căn cứ Chương 8, Mục
I.3.
- Sẹo vai trái ngay cạnh vai gai kích thước trung bình: 02% Căn cứ Chương
8, Mục I.2.
- Sẹo bẹn trái kích thước trung bình: 02% Căn cứ Chương 8, Mục I.2.
- Sẹo môi dưới kích thước nhỏ: 03% Căn cứ Chương 8, Mục I.1 phần
Nguyên tắc.
- Căn cứ Thông 22/2019/TT - BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ
lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp
y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị G tại thời
điểm giám định là: 22% (hai ơi hai phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại
Thông tư.
- Trường hợp với thương tích như trên nếu không cấp cứu kịp thời thì không
dẫn đến tử vong.
Kết luận giám định vật gây thương tích số: 384/KLTTCT-TTPYVL ngày
28/11/2025 của Trung tâm P xác định:
- Con dao dạng hai lưỡi kép song song gửi giám định vật sắc nhọn phù
hợp với thương tích cho bị hại Nguyễn Thị G như ghi nhận trong Giấy chứng nhận
thương tích số: 000683/2025/CN, ngày 26/8/2025 của Bệnh viện N1. chế hình
thành từng vết thương do vật sắc nhọn gây ra.
5
Kết luận giám định số: 240/KL-KTHS-KV3, ngày 29/10/2025 của Phòng K
Công an tỉnh V xác định con dao đặc điểm nêu trên không thuộc danh mục
trong Thông 75/2024/TT-BCA, ngày 15/11/2024 của Bộ C1 quy định chi tiết
một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
Bị cáo và bị hại đều đồng ý với các kết luận giám định.
Quá trình điều tra, bị cáo Võ Ngọc Đ đã thành khẩn khai báo hành vi phạm
tội, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác. Bị cáo đã
thực hiện bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị G số tiền 10.000.000 đồng chi phí
điều trị, bị hại G không yêu cầu bồi thường khác và đơn xin giảm nh
hình phạt cho bị cáo Đ.
Ngày 26/12/2025, quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh V ra Quyết định
xử vật chứng số: B4996 đã trả cho bị cáo Đ 01 xe tô, 01 điện thoại di
động, 01 giấy đăng xe mô tô, xe gắn máy có đặc điểm nêu trên. Các vật chứng
còn lại được tiếp tục tạm giữ.
Tại Bản án hình sự thẩm số: 18/2026/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long đã quyết định:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a
Khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 65 của
Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Đ 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách 04 (năm) tính từ ngày tuyên án thẩm, ngày 24 tháng
3 năm 2026.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử
vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.
Ngày 07 tháng 4 năm 2026, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9
- Vĩnh Long ban hành quyết định kháng nghị phúc thẩm số 01/QĐ-VKSKV9 ngày
07/4/2026 với nội dung:
- Kháng nghị một phần Bản án hình sự thẩm số 18/2026/HS-ST ngày
24/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long để sửa một phần Bản án
sơ thẩm về hình phạt.
- Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm vụ án theo
hướng xác định bị cáo phạm tội tình tiết tăng nặng Cố tình thực hiện tội phạm
đến cùng” theo điểm e khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội có tính
chất côn đồ theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, áp dụng
hình phạt tù và không cho bị cáo Võ Ngọc Đ được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo xin giữ nguyên bản án sơ thẩm, cho bị cáo
hưởng án treo.
6
Luật Nguyễn Văn T bào chữa cho bị cáo Ngọc Đ trình bày: Luật sư
chỉ tranh luận tình tiết có tính chất côn đồ còn các vấn đề khác đã được tranh luận
tại phiên tòa thẩm. Mâu thuẫn giữa bị cáo bị hại đã từ trước, không
phải là mâu thuẫn nhỏ nhặt, không tự bộc phát, không vô cớ nên bị cáo thực hiện
hành vi phạm tội không thuộc trường hợp tính chất côn đồ việc này phù hợp
với quy định được hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá hành vi của
bị o không tính chất côn đồ phù hợp quy định pháp luật. Đnghị Hội đồng
xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận
kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ
luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 -
Vĩnh Long. Sửa Bản án thẩm số 18/2026/HS-ST ngày 24/3/2026 của Tán
nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long.
Về hình phạt: Căn cứ điểm đ khoản 2 (thuộc trường hợp quy định tại các
điểm a, i khoản 1) Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm e
khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung
năm 2017, năm 2025.
Xử phạt bị cáo Võ Ngọc Đ 02 (hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Các nội dung khác không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật k
từ thời điểm hết thời hạn có kháng cáo, kháng nghị.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn
cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến
của Kiểm sát viên, bị cáo, Luật sư, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh
Long trong hạn luật định, phù hợp quy định Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình
sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Lời khai của bị cáo Đ tại phiên tòa phúc thẩm, phù hợp lời khai của bị
cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của bị hại,
người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Xuất
phát tmâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân nên vợ chồng bị cáo Đ chị Nguyễn
Thị G sống ly thân, chị G đã bỏ đi về sinh sống cùng với mruột nhưng khoảng
7
20 giờ ngày 27/7/2025 tại ấp T, xã Đ, tỉnh Vĩnh Long, bị cáo Đ mang theo dao là
hung khí nguy hiểm đến nhà bà Lê Thị M, đâm chị G tổng cộng 10 lần trúng vào
vùng lưng, tay, bẹn, mặt của Nguyễn Thị G gây thương ch với tổng tlệ tổn
thương thể 22%. Do đó, Tòa án cấp thẩm xét xử bị cáo Võ Ngọc Đ về tội
“Cố ý gây thương tích” theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự
là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh
Long, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về áp dụng tình tiết phạm tội “có tính chất côn đồ”: Do mâu thuẫn vợ
chồng xuất phát từ việc bị cáo nghi ngờ chị G quan hệ tình cảm với người khác
nên giữa bị cáo và chị G nhiều lần cự cải và đến khoảng tháng 6-7/2025 chị G đã
dẫn hai người con cùng về nhà mruột của chị sinh sống, bị cáo đã nhiều lần liên
lạc điện thoại nhắn tin nhưng chị G không đồng ý trở về nhà đoàn tụ. Hồ vụ án
thể hiện, bị cáo khai nhiều lần gọi điện nhắn tin cho bị hại yêu cầu trở về nhưng
bị hại từ chối dẫn đến việc ngày 27/7/2025 bị cáo chuẩn bị dao bỏ vào túi quần,
sau đó đi đến nhà bà M là mẹ chị G để kêu chị G trở về, chị G không đồng ý nên
bị cáo dùng dao hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng lưng chị G, khi chị G
ngã bị cáo liên tiếp đâm nhiều nhát vào cơ thể của chị G, hành vi của bị cáo sẵn
sàng dùng lực, hung hãn, coi thường tính mạng sức khỏe của bị hại, xem
thường pháp luật thể hiện tính chất côn đồ, phù hợp với hướng dẫn tại khoản 4
Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 nên Tòa án cấp thẩm
không áp dụng tình tiết định khung hình phạt tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật
Hình sự không phù hợp với quy định của pháp luật, do đó nhận định kháng nghị
của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long có căn cứ chấp
nhận.
[3.2] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tính chất hung hãn coi thường sức
khỏe của bị hại, thể hiện sự quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội và tấn công bị
hại liên tục gây ra thương tích cho bị hại nhiều vị tkhác nhau trên thể thuộc
trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng “cố tình thực hiện tội phạm đến cùng” theo
quy định tại điểm e khoản 1 Điều 52 Bluật Hình sự. Tòa án cấp thẩm nhận
định áp dụng tình tiết tăng nặng nêu trên đối với bị cáo Đ nhưng phần quyết định
của bản án chính phát hành không tuyên điểm khoản của tình tiết tăng nặng nêu
trên sai sót. Tòa án cấp thẩm Thông báo s 43/2026/TB-TA ngày
06/4/2026 sửa chữa, bổ sung bản án thẩm. Nhận định kháng nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long đối với nội dung này là có
căn cứ.
8
[3.3] Xét hành vi của bị cáo Đ sử dụng hung khí nguy hiểm trực tiếp xâm
phạm đến sức khỏe của bị hại nghiêm trọng, mặc dù bị hại có mối quan hệ là vợ
của bị cáo nhưng bị cáo liên tục tấn công bị hại gây ra thương tích cho bị hại
nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể của bị hại tại vùng lưng, tay, bẹn, mặt được xác
định tlệ tổn thương cơ thể 22%; hành vi phạm tội của bị cáo Đ nguy hiểm cho
xã hội, bcáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tình
hình an ninh trật tự tại địa phương nên cần xnghiêm để răn đe, giáo dục bị
cáo. Do đó, Tòa án cấp thẩm quyết định hình phạt treo skhông đảm bảo
tính nghiêm minh của pháp luật, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy
hiểm hành vi phạm tội của bị cáo; không đảm bảo việc răn đe giáo dục bị cáo nói
riêng phòng ngừa cho hội nói chung. vậy, kháng nghị của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long đề nghị không cho bị cáo hưởng
án treo là có căn cứ chấp nhận.
[4] Lời bào chữa của Luật sư T đề nghị giữ nguyên hình phạt như bản án sơ
thẩm không có căn cứ chấp nhận.
[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tại phiên
phù hợp với quy định pháp luật và nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được
chấp nhận.
[6] Các Quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, d khoản 2 Điều 357 của Bộ luật
Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 -
Vĩnh Long.
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2026/HS-ST ngày 24 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 9-Vĩnh Long về hình phạt.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại các điểm
a, i khoản 1 Điều 134); điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm e khoản 1
Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
năm 2025.
Xử phạt bị cáo Ngọc Đ 02 (hai) năm tù, vtội “Cố ý gây thương tích”.
Thời hạn phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
9
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ GĐKT I -TANDTC: 01;
- VKSNDTC (Vụ 7): 01;
- VKSND tỉnh Vĩnh Long: 02;
- TAND khu vực 9-Vĩnh Long: 01;
- VKSND khu vực 9-Vĩnh Long: 01;
- Phòng THADS khu vực 9-Vĩnh Long: 01;
- Bị cáo: 01;
- Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long: 01;
- Công an xã M: 01;
- Lưu Văn phòng: 01;
- Phòng GĐ,KT,TT&THA tỉnh Vĩnh Long: 01;
- Lưu hồ sơ vụ án: 02.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Võ Thị Mỹ Dung
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 65/2026/HS-PT Bản án số 65/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 65/2026/HS-PT Bản án số 65/2026/HS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất