Bản án số 141/2025/DS ngày 22/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 141/2025/DS

Tên Bản án: Bản án số 141/2025/DS ngày 22/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Số hiệu: 141/2025/DS
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Ông Phan Thế N yêu cầu ông Nguyễn Văn D trả tiền vay
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 141/2025/DS Bản án số 141/2025/DS

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 141/2025/DS Bản án số 141/2025/DS

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
KHU VỰC 5 - VĨNH LONG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 141/2025/DS – ST
Ngày: 22/9/2025
Về việc “Tranh chấp
hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hưng.
2. Bà Phạm Thu Hồng.
- Thư phiên tòa: Nguyễn Minh Phương Thư Tòa án nhân dân
khu vực 5 - Vĩnh Long.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 -
Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 187/2025/TLST- DS
ngày 26 tháng 5 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xsố: 92c/2025/QĐXXST DS ngày 20/8/2025 Quyết
định hoãn phiên tòa số: 124/2025/QĐST-DS ngày 05/9/2025. Giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Phan Thế N, sinh năm 1960 (Số CCCD:
************).
Địa chỉ: ấp P, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là xã H, tỉnh Vĩnh Long).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh
năm 1993 (có mặt).
Địa chỉ: Số H, khu phố G, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay là xã M,
tỉnh Vĩnh Long).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1968 (số CMND: *********)
(vắng mặt); Đinh Thị Cẩm H1, sinh năm 1969 (số CMND: *********) (vắng
mặt).
Địa chỉ: Số A, ấp A, M, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay là khu phố A,
phường A, tỉnh Vĩnh Long).
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại
phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H trình
bày: Thông qua người quen giới thiệu, ngày 31/01/2020 ông N cho vợ chồng
ông Nguyễn Văn D Đinh Thị Cẩm H1 vay số tiền 150.000.000 đồng (một
trăm năm mươi triệu đồng), thỏa thuận thời hạn vay 01 tháng, lãi suất
1,66%/tháng (thỏa thuận miệng), trả lãi nợ gốc vào ngày 01/3/2020, mục đích
vay để ông D H1 làm kinh tế lo chi phí sinh hoạt gia đình. Khi vay hai
bên không có lập hợp đồng nhưng có làm “Biên nhận về việc nhận tiền”. Khi giao
nhận tiền vay ông D là người trực tiếp nhận tiền, tuy nhiên trước đó ông D gọi
thông qua H1 về nội dung khoản vay được H1 đồng ý nên khi nhận
ông D thay luôn cho H1 H1 đang đi nuôi con gái sinh con tại Thành
phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, ông D giao cho ông N một giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CO
827720, số vào scấp giấy chứng nhận: CS06819, do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh B cấp ngày 17/7/2018, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 8, diện tích 100m
2
, loại
đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre do bà Đinh Thị
Cẩm H1 đứng tên để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Đến ngày 01/3/2020 ông D, bà H1
không trả nợ cho ông N theo thỏa thuận nên ông N liên hệ ông để yêu cầu trả
nợ nhưng không được. Ông N đã cho ông D, bà H1 một thời gian để làm ăn kiếm
tiền trả cho ông N nhưng ông D H1 không có thiện chí trả nợ cứ hẹn từ lần
này đến lần khác không trả nợ cho ông N. vậy, ông N yêu cầu Tòa án giải
quyết: buộc ông Nguyễn Văn DĐinh Thị Cẩm H1 liên đới trả cho ông N số
tiền gốc đã vay là 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), không yêu
cầu tính lãi. Ông N yêu cầu ông D, bà H1 thực hiện trả một lần khi án có hiệu lực
pháp luật. Ông N đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CO 827720, số vào sổ cấp giấy
chứng nhận: CS06819, do Sở Tài nguyên i trường tỉnh B cấp ngày
17/7/2018, thửa số 555, tờ bản đồ số 8, diện ch 100m
2
, loại đất trồng cây lâu năm,
tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre doĐinh Thị Cẩm H1 đứng tên cho
ông D, bà H1 khi ông D, bà H1 thi hành xong khoản nợ trên.
Bị đơn ông Nguyễn Văn D Đinh Thị Cẩm H1 vắng mặt trong suốt quá
trình giải quyết vụ án nên không có lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án được thẩm
tra tại phiên toà căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Bị đơn ông Nguyễn Văn D và Đinh Thị Cẩm H1 vắng mặt tại phiên
tòa không do đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên Hội đồng xét xử
căn cứ vào Điều 227 Bộ luật ttụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông D và
H1 phù hợp.
3
[2] Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là văn bản tiêu
đề “Biên nhận về việc nhận tiền” đề ngày 31/01/2020 thể hiện nội dung như sau:
“Tôi tên Nguyễn Văn D, sinh năm 1968 cùng với bà Đinh Thị Cẩm H1, sinh năm
1969, đăng ký thường trú: 195D, ấp A, M, thành phố B. Chúng tôi mượn của
anh Phan Thế N số tiền 150.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm năm mươi triệu
đồng). Thời gian mượn: 01 tháng (ngày trả 01/3/2020), chúng tôi đã nhận đủ số
tiền nêu trên, đồng ý tên vào biên nhận để làm bằng”. Trong quá trình giải quyết
vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ: thông báo về việc thụ vụ án; thông báo về
phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa giải cho phía
bị đơn là ông Nguyễn Văn D và Đinh Thị Cẩm H1, tuy nhiên ông D H1
vẫn vắng mặt không do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, đồng thời không
giao nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của ông D H1 đối với yêu cầu của
nguyên đơn ông N, cũng như không giao nộp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào đ
phản đối yêu cầu của nguyên đơn ông N đưa ra.
[3] Vì vậy, căn cứ vào Điều 91 và 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,
tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, Hội đồng xét xử xét thấy: có đủ căn cứ
xác định ông D H1 đã vay tiền của ông N số tiền vay theo văn bản có tiêu đề
“Biên nhận về việc nhận tiền” đề ngày 31/01/2020 với số tiền 150.000.000 đồng.
Xét thấy, bản thân ông D và bà H1 bên vay đã tham gia giao dịch về vay tiền với
ông N nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền vay của mình là vi phạm hợp
đồng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của ông N, do đó cần chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của ông N, buộc ông D và bà H1 phải liên đới hoàn trả cho
ông N số tiền vay 150.000.000 đồng vốn gốc là phù hợp với quy định tại Điều
463 466 Bộ luật dân sự năm 2015. Việc ông N không yêu cầu tính lãi sự tự
nguyện của ông nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Ngoài ra, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cũng xác định:
ông D giao cho ông N một giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có số phát hành: CO 827720, số vào sổ cấp
giấy chứng nhận: CS06819, do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh B cấp ngày
17/7/2018, thửa đất số 555, tờ bản đồ số 8, diện tích 100m
2
, loại đất trồng cây lâu
năm, tọa lạc tại M, thành phố B, tỉnh Bến Tre (nay phường A, tỉnh Vĩnh Long)
do Đinh Thị Cẩm H1 đứng tên để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ. Nay ông N cũng
đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này cho ông D, H1 khi ông
D, bà H1 thi hành xong khoản nợ 150.000.000 đồng nên trên nên Hội đồng xét xử
ghi nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: buộc ông D và bà H1 phải chịu
do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông N được Tòa án chấp nhận, án phí ông D
và bà H1 phải liên đới chịu là: 150.000.000 đồng x 5% = 7.500.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
4
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết
01/2019/NQ-TP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về
lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định vmức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Thế N.
Buộc ông Nguyễn Văn D Đinh Thị Cẩm H1 phải liên đới hoàn trả
cho ông Phan Thế N số tiền vay 150.000.000 đồng vốn gốc (Bằng chữ: Một trăm
năm mươi triệu đồng).
Ghi nhận ông Phan Thế N tự nguyện giao trả lại cho ông Nguyễn Văn D
Đinh Thị Cẩm H1 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với
thửa đất số 555, tờ bản đồ số 8, diện tích 100m
2
, tọa lạc M, thành phố B, tỉnh
Bến Tre (nay là phường A, tỉnh Vĩnh Long) theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số phát hành: CO
827720, số vào scấp giấy chứng nhận: CS06819, do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh B cấp ngày 17/7/2018 cho Đinh Thị Cẩm H1 đứng tên khi ông Nguyễn Văn
D và Đinh Thị Cẩm H1 thực hiện xong nghĩa vụ trả số tiền vay nêu trên cho ông
Phan Thế N.
Về án phí dân sự thẩm giá ngạch: Buộc ông Nguyễn Văn D
Đinh Thị Cẩm H1 phải liên đới chịu án phí 7.500.000 đồng (Bằng chữ: Bảy triệu,
năm trăm nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định
tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác.
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên a quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
5
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Phòng GĐ, KT, TT và THA THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN T
TAND tỉnh Vĩnh Long;
- VKSND khu vực 5 – Vĩnh Long;
- Phòng THADS khu vực 5 – Vĩnh Long;
- Các đương sự;
- Lưu (HS, VP).
Nguyễn Ngọc Đạt
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 141/2025/DS Bản án số 141/2025/DS

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 141/2025/DS Bản án số 141/2025/DS

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất