Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 14/2025/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST ngày 26/02/2025 của TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Bù Đăng (TAND tỉnh Bình Phước)
Số hiệu: 14/2025/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 26/02/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: chia tài sản chung, nợ chung sau ly hôn
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN BÙ ĐĂNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Bản án số: 14/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 02 - 2025
V/v: “Tranh chấp chia tài sản chung và
nợ chung sasu khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Đào
- Các Hội thẩm nhân dân: Lê Thị Thận
Ông Trần Đức Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tường Vi - Thư ký Tòa án của Tòa án huyện Bù
Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đăng tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng
Toản – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 02 m 2025, tại trụ sTòa án nhân dân huyện Đăng, tỉnh
Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ số:
254/2023/ TLST DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 về việc Tranh chấp chia tài sản
chung nợ chung sau khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
24/2025/QĐST – HNGĐ, ngày 19 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Trần Thị L, sinh năm 1978
Địa chỉ: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
Người đại diện theo ủy quyền của L: Nguyễn Thị Th, sinh năm 1995. (Có
mặt)
Địa chỉ: Khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Bình Phước.
- Bị đơn: Ông Dương Đình D, sinh năm 1974
Trú tại: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng N
Địa chỉ: Quốc lộ 14, thị trấn Đức Phong, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng: Ông Trương Văn Đ- Phó Giám đốc
Ngân hàng N. (Vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt)
- Bà Hồ Thị D, sinh năm: 1974
Địa chỉ: thôn E, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn Trần Thị L người đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Trần Thị L ông Dương Đình D ly hôn vào ngày 02/11/2023 theo Quyết định
công nhận thuận tình ly hôn sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải tại a số
209/2023/QĐCNTTLH của Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Quá trình
giải quyết ly hôn, ông D bà L chỉ yêu cầu giải quyết về phần hôn nhân và con chung,
không yêu cầu giải quyết về phần tài sản chung nợ chung. Tuy nhiên trong thời gian
chung sống bà L và ông D có tạo dựng những tài sản chung sau:
- Diện tích đất 335,2m
2
thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A,
xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
vào sổ cấp CS 03721 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày
28/8/2019 cho ông Dương Đình DTrần Thị L; tài sản trên đất là 01 căn nhà xây cấp
04 xây dựng năm 2010.
- Diện tích đất 22.540m
2
thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại Thôn A, xã
B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số
vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 02002 do UBND huyện Đăng cấp
ngày 07/7/2015 cho hộ ông Dương Đình D; tài sản trên đất 300 cây sầu rng trồng năm
2019.
- 01 chiếc xe máy hiệu Vision màu đỏ đen, biển kiểm soát 93L1- 361.12 mua năm
2018 giá khoảng 34.000.000 đồng, xe đứng tên bà L.
- 01 chiếc xe Wave màu xám đen mua lại xe tại tiệm mua bán xe Thái Hòa,
thị trấn Đức Phong, Bù Đăng với giá khoảng 10.000.000 đồng.
- 01 xe máy cày hiệu John Deere màu xanh lá cây mua tại tiệm xe mua bán xe
tại Long An năm 2021 g280.000.000 đồng và 01 xe máy cày màu đỏ, hiệu MTZ mua
năm 2023 với giá là 50.000.000 đồng.
- Khoản tiền công do ông D đi làm Nông trường Thọ Sơn 50.000.000 đồng;
tiền bán một dàn chảo cày đất 20.000.000đồng; tiền công của ông D đi làm cho ông
Cước ở Thọ Sơn là 10.000.000 đồng, tổng là 80.000.000 đồng.
Về nguồn gốc tài sản chung: Diện tích đất 335,2m
2
thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ
số 55, tọa lạc tại Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước do L và ông D mua của ông
Học (không nhớ họ tên, hiện nay đã chết) vào năm 2004 với giá 20.000.000 đồng. Khi
mua viết giấy tay, sau khi mua thì để trống đến năm 2010 mới làm 01 căn nhà xây cấp 4
trên đất và trồng một số cây ăn trái và sinh sống từ đó cho đến nay. Đến năm 2019 ông D
và bà L mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà L và ông D.
Đối với diện tích đất 22.540m
2
thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ s6, tọa lạc tại Thôn
A, B, huyện C, tỉnh Bình Phước nguồn gốc do ông D tự khai phá trước khi sống
chung với nhau. Tuy nhiên, chỉ đất trống, đến 1995 khi bà L kết hôn sống chung với
ông D thì vợ chồng dọn dẹp đất để trồng cây phê. Đến năm 2005, thì phá cây phê
trồng cây điều, đến năm 2006 thì phá cây điều trồng cây cao su. Đến năm 2019, tiếp tục
phá cây cao su để trồng sầu riêng và chôm chôn trên toàn bộ thửa đất. Việc trồng cây, đầu
tư trên đất đều do 2 vợ chồng bỏ công sức và tiền bạc.
Tại đơn khởi kiện đơn khởi kiện bổ sung ngày 09/01/2024 L yêu cầu Tòa
chia đôi tất cả các tài chung nêu trên, bà L sẽ nhận bằng hiện vật. Tuy nhiên, hiện nay
L xin rút các yêu cầu sau:
- Yêu cầu chia tài sản chung đối với thửa đất có diện tích 335,2m
2
thuộc thửa đất
số 34, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh nh Phước cùng tài sản
trên đất để L và ông D xử phần tài sản này với Ngân hàng N tài sản này hiện đang
thế chấp Ngân hàng, trường hợp bà L và ông D giải quyết xong khoản nợ với Ngân hàng
thì sẽ khởi kiện trong vụ án khác.
- Khoản tiền 80.000.000 đồng, trong đó tiền công do ông D đi làm ở Nông trường
Thọ Sơn 50.000.000 đồng; tiền bán một dàn chảo cày đất 20.000.000đồng; tiền công
của ông D đi làm cho ông Cước ở Thọ Sơn là 10.000.000 đồng.
Đối với diện tích đất 22.540m
2
thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ s6, tọa lạc tại Thôn
A, B, huyện C, tỉnh Bình Phước thì bà L chỉ yêu chia với tỉ lệ 4:6 L nhận 40%
quyền sử dụng đất cùng tài sản trên đất, giao cho ông D 60% quyền sử dụng đất và tài sản
trên đất (phần đất có vị trí có căn nhà cấp 4 xây trên đất).
Đối với các loại xe thì bà L nhận 01 xe vision và 01 xe máy cày màu đỏ, hiệu MTZ
mua năm 2023; giao cho ông D 01 chiếc xe Wave màu xám đen 01 xe máy y hiệu
John Deere (ông D đã bán).
Về nợ chung: Vào ngày 03/11/2023, L ông D vay Ngân hàng N số tiền
700.000.000 đồng. Để đảm bảo cho khoản vay này thì L và ông D đã thế chấp thửa đất
diện tích 335,2m
2
thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện
C, tỉnh nh Phước, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp
CS 03721 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 28/8/2019 cho ông
Dương Đình D và Trần Thị L thửa đất diện tích 4.364,8m
2
thuc thửa đất số 111,
tờ bản đsố 06, tọa lạc tại Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp CH 03894 do UBND huyện Đăng cấp
ngày 24/12/2019 cho ông Dương Đình D. Hiện nay, ông D L chưa trả cho Ngân
hàng khoản vay này nên Luyến đồng ý trả ½ khoản vay gốc và lãi cho Ngân hàng N theo
yêu cầu của phía Ngân hàng; yêu cầu ông D phải có nghĩa vụ trả ½ khoản vay gốc và lãi
cho Ngân hàng. Trường hợp bà L không trả được khoản vay này cho Ngân hàng thì bà L
đồng ý để cho Ngân hàng xử tài sản thế chấp đthu hồi nợ. Nếu Ngân hàng chỉ yêu cầu
một mình bà L phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thì bà L đồng ý.
Ngoài ra, vào ngày 07/8/2023 L vay của bà Hồ Thị D số tiền 110.000.000
đồng, khi vay làm giấy tờ, thỏa thuận lãi suất theo ngân hàng, thời hạn vay 04 tháng
nhưng không ghi vào giấy. Mục đích vay là để mua máy cày về cho ông D đi làm, trả nợ,
mua phân bón chi tiêu trong gia đình. Từ lúc vay tới nay L chưa trả cho bà D tiền
gốc khoản tiền lãi nào. Khi đi vay thì L không nói cho ông D biết vì từ trước tới nay
bà L người lo mọi việc trong gia đình. Tuy nhiên, sau khi vay về bà L nói với ông D
biết nhưng ông D không có ý kiến gì. Sau đó bà L sử dụng số tiền này để mua 01 xe máy
cày màu đỏ, hiệu MTZ mua năm 2023 với giá là 50.000.000 đồng cho ông D đi làm, trả
nợ, còn lại mua phân bón cho cây sầu riêng chi tiêu trong gia đình. Đồng thời khi
vay bà L đưa t bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 02002 do UBND huyện
Bù Đăng cấp ngày 07/7/2015 cho hộ ông Dương Đình D cho bà D để làm tin. Do đó,
L yêu cầu ông D cùng bà L mỗi người phải nghĩa vụ trả cho bà D số tiền 55.000.000
đồng. Đồng thời buộc D phải trả lại cho L ông D Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đã giao cho bà D.
Bị đơn ông Dương Đình D trình bày: Ông D Trần Thị L ly hôn vào ngày
02/11/2023 theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn sự thỏa thuận của các bên
tham gia hòa giải tại Tòa số 209/2023/QĐCNTTLH của Tòa án nhân dân huyện Đăng,
tỉnh Bình Phước. Quá trình giải quyết ly hôn thì ông D và bà L chỉ yêu cầu giải quyết về
phần hôn nhân con chung, không yêu cầu giải quyết vphần tài sản chung nợ chung.
Ông D xác định ông D và bà L chỉ có các tài sản chung sau:
- Diện tích đất 335,2m
2
thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A,
xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
vào sổ cấp CS 03721 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày
28/8/2019 cho ông ơng Đình D Trần Thị L. Nguồn gốc đất ông D bà Luyên
nhận chuyển nhượng của ông Học gần nhà nhưng hiện nay đã chết với giá 20.000.000
đồng vào khoảng năm 2010. Sau khi mua xong thì ông D, bà L xây dựng 01 căn nhà cấp
4 trên đất sinh sống cho tới nay. Tuy nhiên, hiện nay bà L xin rút yêu cầu chia tài sản này
để xử khoản vay với Ngân hàng N tông D đồng ý, nếu tranh chấp thì ông D sẽ
khởi kiện trong vụ án khác.
- 01 chiếc xe y hiệu Vision màu đ đen mua năm 2018 giá hơn 30.000.000 đồng;
01 chiếc xe Wave màu xám đen mua lại hơn 7.000.000 đồng; 01 xe máy cày màu xanh lá
cây mua lại năm 2021 với giá 270.000.000 đồng và 01 xe máy cày MTZ mua năm 2023
màu đỏ mua lại g50.000.000đồng. Ông D đồng ý giao 01 xe máy hiệu vision màu đỏ
đen và 01 xe máy cày màu đỏ, hiệu MTZ mua năm 2023 cho L. Còn ông D nhận 01
chiếc xe Wave màu xám đen và 01 xe máy cày hiệu John Deere (ông D đã bán).
Đối với thửa đất 22.540m
2
tài sản riêng của ông D thửa đấty do ông D khai
phá năm 1992, trước khi kết hôn với L. Sau khi khai phá thì ông D trồng y phê,
đến khi kết hôn với L thì ông D và L thay đổi cây trồng cây điều, được 02 năm
thì phá cây điều trồng cây cao su. Hiện nay trên đất ông D đã trồng cây sầu riêng và cây
chôm chôm khoảng 04 năm tuổi. Tuy nhiên, nay L khởi kiện yêu cầu chia tài sản
thửa đất này thì ông D đồng ý chia theo tỷ l04:06, giao cho L 40% quyền sử dụng đất
và tài sản trên đất; còn ông D sẽ nhận 60% quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Ông D
sẽ nhận vị trí đất căn nhà cấp 4 xây trên đất, giao phần đất tài sản trên đất còn lại
cho bà L quản lý, sử dụng.
Về nợ chung: Ông Danh xác định ông D L nợ Ngân hàng N số tiền
700.000.000 đồng vào đầu năm 2023, khi vay thế chấp Ngân hàng thửa đất diện tích
335,2m
2
thuộc thửa đất số 34, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh
Bình Phước, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất svào sổ cấp CS 03721
do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh nh Phước cấp ngày 28/8/2019 cho ông Dương
Đình DTrần Thị L thửa đất có diện tích 4.364,8m
2
thuộc thửa đất số 111, tờ bản
đồ số 06, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp CH 03894 do UBND huyện Đăng cấp ngày
24/12/2019 cho ông Dương Đình D đđảm bảo cho khoản vay. Mặc L người
đứng tên ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng nhưng ông D xác định đây nợ chung nên
ông D đồng ý trả ½ khoản nợ này cho Ngân hàng. Nếu ông D vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì
đồng ý cho Ngân hàng xử lý tài sản đã thế chấp. Trường hợp Ngân hàng chỉ yêu cầu mỗi
một mình bà L trả khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì ông D đồng ý.
Đối với số tiền 110.000.000đồng mà bà L trình bày vay của bà Hồ Thị D là khoản
nợ riêng của bà L, ông D không biết, không sử dụng số tiền này nên ông D không đồng ý
trả ½ khoản nợ y theo yêu cầu của bà L. Đồng thời ông D u cầu D phải trả lại bản
chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 02002 do UBND huyện Đăng cấp ngày
07/7/2015 cho hộ ông Dương Đình D cho ông D.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan N do ông Trương Văn Đ người đại
diện theo ủy quyền trình bày: Vào ngày 13/01/2023, bà Trần Thị L vay Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Bù Đăng số tiền 700.000.000
đồng theo Hợp đồng tín dụng số 5606-LAV- 202300399 với mục đích chăm sóc vườn
điều xen cà phê; lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 12,7%/năm; thời hạn vay 24 tháng;
ngày trả nợ cuối cùng là 13/01/2025, trả lãi 06 tháng một lần; lãi suất quá hạn là 19,1%.
Đề đảm bảo khoản vay này thì L ông D thế chấp thửa đất diện tích 335,2m
2
thuộc
thửa đất số 34, tờ bản đsố 55, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp CS 03721 do STài
nguyên Môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 28/8/2019 cho ông Dương Đình D
Trần Thị L thửa đất có diện tích 4.364,8m
2
thuộc thửa đất số 111, tờ bản đồ số 06,
tọa lạc tại Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được UBND huyện Bù Đăng
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp CH 03894 ngày 24/12/2019 cho
ông Dương Đình D.
Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng bà L đã vi phạm hợp đồng về việc trả lãi.
Mặc dù phía ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho bà L kế hoạch trả
nợ nhưng bà L vẫn không trả. Nay khoản nợ của L đã chuyển sang quá hạn từ ngày
14/01/2024. Do đó Ngân hàng yêu cầu L phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc
700.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn tạm tính đến ngày 18/6/2024 62.093.424 đồn, tổng
762.093.424 đồng. Hiện nay L ông D thống nhất cả L ông D nghĩa vụ
trả khoản nợ này cho Ngân hàng thì Ngân hàng không đồng ý vì người hợp đồng tín
dụng với Ngân hàng là bà L nên u cầu bà L là người nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.
Trường hợp L không trả hoặc trả không đủ nghĩa vụ với Ngân hàng thì Ngân hàng có
quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất, tài sản trên đất số A2023-042178005962/HĐTC ngày 13/01/2023 giữa
Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Đăng với
ông D, bà L để thu hồi nợ.
Đối với yêu cầu chia tài sản chung của bà L với diện tích 335,2m
2
thuộc thửa đất
số 34, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp CS 03721 do Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày 28/8/2019 cho ông Dương Đình DTrần Thị
L thì ngân hàng không đồng ý. Ngân hàng yêu cầu L phải trả hết các khoản nợ cho
Ngân ng thì Ngân hàng mới đồng ý việc chia tài sản chung thửa đất cùng tài sản trên
đất theo yêu cầu của L. Tuy nhiên, hiện này L xin rút yêu cầu chia tài sản đối với
diện tích đất này thì phía Ngân hàng đồng ý để cho bà L, ông D xử lý khoản nợ với Ngân
hàng.
Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hồ Thị D trình bày: Vào ngày
07/8/2023 D cho bà Trần Thị L vay số tiền 110.000.000 đồng với mục đích để trả
nợ mua máy cày, phân bón. Khi vay hai bên làm giấy, thỏa thuận lãi suất
1,5%/tháng thời hạn trả 04 tháng nhưng chỉ thỏa thuận miệng không ghi vào trong
giấy. Đồng thời L đưa cho D một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX
986713 đối với thửa đất số 14, tờ bản đồ số 6 địa chỉ Thôn A, B, huyện C, tỉnh Bình
Phước với mục đích là để làm tin cho việc vay tiền và trả nợ. L nói ông D đi làm và đã
ủy quyền cho bà L trong mọi giao dịch nên một mình bà L đứng tên vay cũng được. Khi
vay có người làm chứng là bà Dương Thị X và bà Dương Thị C. Tuy nhiên, từ thời điểm
vay cho tới nay bà L chưa trả cho D khoản tiền gốc và lãi nào.
Mặc dù chỉ một mình L vay nhưng mục đích vay để sử dụng trong gia đình,
ông D cũng có biết việc này. Do đó, bà L đề nghị bà L, ông D mỗi ngươi phải trả cho
D 1/2 số tiền này. Đối với phần lãi tbà D sẽ thỏa thuận với bà L sau nên không yêu cầu
trong vụ án này.
Đối với bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất D đang giữ của bà L thì
D đồng ý trả lại cho L, ông D khi L, ông D trả đủ tiền cho D. Ngoài ra, D
không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Người làm chứng Dương Thị C trình bày: C không L hỏi vay bà D
lúc nào nhưng vào khoảng tháng 8/2023, L nói với C cần vay số tiền 110.000.000
đồng của D để lo việc trong gia đình còn thực tế L vay tiền làm L nói
với ông D hay ông D biết L vay tiền hay không thì C không biết. Nhưng L nói
bà D yêu cầu phải có người đi cùng, chứng kiến nên bà L nhờ bà C đi cùng bà L và bà X
đến gặp bà D để ký tên làm chứng vào giấy vay tiền (C không đọc giấy trước khi ký).
Khi gặp bà D bà C không nghe bà D và bà L nói mục đích vay. Ngoài ra, bà C không
chứng kiến sự việc gì khác.
Người m chứng Dương Thị X trình bày: X em gái của ông Dương Đình
D, X không bà L hỏi vay D lúc nào nhưng vào khoảng tháng 8/2023, bà L có nói
với X cần vay số tiền 110.000.000 đồng của D đtrả nợ còn thực tế L vay tiền
để làm gì thì bà X không rõ. Nhưng bà D yêu cầu phải có bà X đi cùng chứng kiến và
L phải đưa sổ đất của gia đình cho bà D thì bà D đồng ý cho vay. Khi vay hai bên có làm
giấy, bà X không biết ai là người viết nhưng X vào giấy với cách người làm
chứng. Khi vay tiền thì bà L không nói cho bà X việc đã nói với ông D hay chưa và X
cũng không hỏi vì từ trước tới nay bà L người đi vay và trtiền. Sau khi bà L và ông D
mâu thuẫn cãi nhau, L bỏ đi thì X mới nói cho ông D biết L vay tiền của
D. Ngoài X thì còn Dương Thị C cũng đi cùng để vào giấy vay tiền với
cách là người làn chứng. Ngoài ra, bà X không chứng kiến sự việc gì khác.
Tại phiên tòa: Phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên những nội dung đã t yêu cầu khởi
kiện những nội dung đã thỏa thuận được với ông Dương Đình D; tuy nhiên vẫn giữ
nguyên yêu cầu buộc ông Dương Đình D phải có nghĩa vụ trả ½ số tiền vay bà Hồ Thị D
tương đương 55.000.000 đồng. Đồng thời đồng ý trả cho Ngân hàng N số tiền gốc và lãi
tạm tính tới ngày xét xử thẩm 835.128.780 đồng (trong đó nợ gốc 700.000.000
đồng và nợ lãi là 135.128.780 đồng).
Bị đơn ông Dương Đình D vẫn giữ nguyên những nội dung đã thỏa thuận được với
Trần Thị L; đối với khoản nợ 110.000.000 đồng của Hồ Thị D thì ông D xác định
đây là khoản nợ riêng của bà L nên ông D không đồng ý trả ½ số tiền này.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng N vắng mặt tại phiên tòa nhưng tại
bản tự khai ngày 26/04/2025, Ngân hàng yêu cầu L phải nghĩa vụ thanh toán cho
Ngân hàng số tiền gốc và lãi tạm tính tới ngày xét xử sơ thẩm là 835.128.780 đồng; trong
đó nợ gốc 700.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 117.474.671 đồng, lãi quá hạn
17.381.109 đồng.
Tại phiên tòa Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng có quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng
xét xử thực hiện đúng các quy định về tố tụng.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với
yêu cầu chia tài sản chung thửa đất diện tích 335,2m
2
thuộc thửa đất số 34, tờ bản
đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp CS 03721 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Bình
Phước cấp ngày 28/8/2019 cho ông Dương Đình D và bà Trần Thị L; đình chỉ giải quyết
đối với yêu cầu chia tài sản là khoản tiền công do ông D đi làm tổng là 80.000.000 đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L, ghi nhận sự thỏa thuận
của ông Dương Đình D Trần Thị L đối với việc chia tài sản thửa đất diện
22.540m
2
thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh
Bình Phước; đất đã được UBND huyện Đăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
số vào sổ cấp GCN: CH 02002 ngày 07/7/2015 cho hộ ông Dương Đình D với tỉ lệ: ông
Dương Đình D được chia 60% quyền sử dụng đất cùng tài sản trên đất; Trần Thị Luyền
được chia 40% quyền sử dụng đất cùng tài sản trên đất (vị trí tứ cận thể hiện tại
Mảnh trích đo địa chính s N
0
06013 ngày 03/4/2024 của Công ty TNHH MTV đo đạc bn
đồ và trc đa công trình 401). Ông D, bà L có trách nhim liên h với cơ quan nhà nước
thm quyền để đưc cp li giy chng nhn quyn s dụng đất theo quy định ca pháp
lut.
- Chia cho Trần Thị L 01 chiếc xe y nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen,
biển số 93L1- 361.12 được ng an tỉnh Bình Phước cấp giấy đăng ký xe mô xe 017930
ngày 10/4/2018 mang tên Trần Thị L; 01 xe máy cày màu đỏ, hiệu MTZ cho bà Trần Thị
L.
- Chia cho ông Dương Đình D 01 chiếc xe máy hiệu Wave màu xám đen, 01 xe
máy cày hiệu John Deere (ông D đã bán).
Về nợ chung:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của L, chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc
lập của Ngân hàng N.
Buộc bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền số
tiền gốc và lãi tạm tính tới ngày xét xử sơ thẩm là 835.128.780 đồng; trong đó nợ gốc
700.000.000 đồng, nợ i trong hạn 117.474.671 đồng, lãi quá hạn là 17.381.109
đồng.Ngoài ra L phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc phát sinh
theo Hợp đồng tín dụng số 5606-LAV- 202300399 ngày 03/11/2023 Ngân hàng N với
Trần Thị L kể từ ngày 27/02/2025 cho đến khi L thanh toán xong các khoản ngốc
của hợp đồng này. Trường hợp bà L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ trả nợ theo hợp tín dụng số 5606-LAV- 202300399 ngày 13//01/2023 thì Ngân ng
được quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài
sản gắn liên với đất số 5606-LAV- 202300399 ngày 13/01/2023 để thi hành án. Trường
hợp tài sản thế chấp không đủ thanh toán khoản nợ tL phải trách nhiệm trả hết
khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.
Buộc bà Trần Thị Lông Dương Đình D mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho
Phạm Thị Duyệt số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng).
Bà L và ông D phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa,
trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người tham gia tố tụng, căn cứ
vào kết quả tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện đơn
khởi kiện bổ sung của Trần Thị L khởi kiện ông Dương Đình D có nơi cư trú tại Thôn
A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước để yêu cầu chia tài sản chung nợ chung sau khi ly
hôn; Hội đồng xét xử xác định đây vụ án Hôn nhân gia đình về việc: Tranh chấp
chia tài sản chung và nợ chung sau khi ly hôn". Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1
Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân
dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
[2] Về sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị D và đại
diện Ngân hàng N: Xét thấy những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Thị
Duyệt đại diện Ngân hàng N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy
định nhưng vẫn vắng mặt có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ điều 227
Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với D người đại diện của Ngân
hàng N.
Xét yêu cầu chia tài sản chung của nguyên đơn Trần Thị L:
[3] Ông ơng Đình DTrần Thị L thống nhất trong quá trình chung sống
tạo dựng các tài sản chung như sau: Thửa đất số 34, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A,
xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số
vào sổ cấp CS 03721 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Bình Phước cấp ngày
28/8/2019 cho ông ơng Đình D Trần Thị L với diện tích 335,2m
2
; tài sản trên đất
là 01 căn nhà xây cấp 04 xây dựng năm 2010; 01 chiếc xe máy hiệu Vision màu đỏ đen,
biển số 93L1- 361.12 mua năm 2018 đứng tên bà Trần Thị L; 01 chiếc xe Wave màu xám
đen; 01 xe máy cày hiệu John Deere (hiện nay ông D đã bán) và 01 xe máy y màu đỏ,
hiệu MTZ mua năm 2023.
[4] Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án bà L xin rút yêu cầu chia tài sản chung là
thửa đất số 34, tờ bản đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước
diện tích 335,2m
2
đNgân hàng N xử tài sản này đây tài sản ông D bà L thế
chấp để vay khoản nợ chung 700.000.000 đồng. Ngoài ra, bà L xin rút yêu cầu chia tài
sản đối với khoản tiền công do ông D đi làm tổng 80.000.000 đồng. Do đó cần đình chỉ
giải quyết vụ án đối với các yêu cầu này của bà L.
[5] Đối với 01 chiếc xe máy hiệu Vision màu đỏ, biển số 93L1- 361.12 mua năm
2018; 01 chiếc xe Wave màu xám đen; 01 xe máy cày hiệu John Deere mua tại tiệm xe
mua bán xe cũ và 01 xe máy cày màu đỏ, hiệu MTZ mua năm 2023. Quá trình giải quyết
vụ án tại phiên tòa L ông D thống nhất thỏa thuận: Giao 01 xe vision 01 xe
máy cày màu đỏ, hiệu MTZ mua năm 2023 cho bà L quản lý, sử dụng. Giao 01 chiếc xe
Wave màu xám đen 01 xe máy cày hiệu John Deere (ông D đã bán) cho ông D quản
lý, sử dụng. Do đó, cần ghi nhận sự thỏa thuận này của ông D và bà L.
[6] Đối với thửa đất có diện 22.540m
2
thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 6, tọa lạc
tại Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, số vào sổ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CH 02002 do UBND huyện
Đăng cấp ngày 07/7/2015 cho hộ ông Dương Đình D, ông D cho rằng là tài sản riêng của
ông D vì thửa đất này do một mình ông D khai phá trước khi kết hôn với chị Luyến. Tuy
nhiên, ông D vẫn đồng ý chia thửa đất này cùng tài sản trên đất cho bà L theo yêu cầu của
L với tỉ lệ 04:06; ông D sẽ nhận 60% diện tích cùng tài sản trên đất; giao cho Luyến
40% phần diện tích đất cùng tài sản trên đất (ông D nhận vị trí đất có căn nhà xây cấp 4
trên đất). Do đó cần ghi nhn s tha thun này ca bà L ông D. C th như sau:
- Chia cho bà Trần Thị L quản lý, sử dụng phần đất và toàn bộ tài sản trên đất có
diện tích 9.016m
2
(có s tha 02 và v trí t cn theo Mảnh trích đo đa chính s N
0
06013
ngày 03/4/2024 của Công ty TNHH MTV đo đạc bản đồ và trắc địa công trình 401);
- Chia cho ông Dương Đình D quản lý, sử dụng phần đất toàn bộ tài sản trên
đất din tích 13.524,0m
2
(Có số thửa 01 vị trí tứ cận theo Mảnh trích đo đa chính
s N
0
06013 ngày 03/4/2024 của Công ty TNHH MTV đo đạc bn đồ trắc địa công
trình 401).
[7] Về khoản nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án L ông D xác định vào
ngày 13/01/2023, bà L có vay Ngân hàng N số tiền 700.000.000 đồng theo Hợp đồng tín
dụng số 5606-LAV- 202300399; với mục đích chăm sóc vườn điều xen phê; lãi suất
tại thời điểm ký hợp đồng là 12,7%/năm; thời hạn vay 24 tháng; ngày trả nợ cuối cùng là
13/01/2025, trả lãi 06 tháng một lần; lãi suất quá hạn 19,1%. Đề đảm bảo khoản vay
này thì bà Lông D thế chấp thửa đất có diện tích 335,2m
2
thuộc thửa đất số 34, tờ bản
đồ số 55, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp CS 03721 do Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh
Bình Phước cấp ngày 28/8/2019 cho ông Dương Đình D và bà Trần Thị L thửa đất có
diện tích 4.364,8m
2
thuộc thửa đất số 111, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện
C, tỉnh Bình Phước, đất đã được UBND huyện Đăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất số vào sổ cấp CH 03894 ngày 24/12/2019 cho ông Dương Đình D. Tuy nhiên,
quá trình thực hiện hợp đồng bà L đã vi phạm hợp đồng về việc trả lãi. Do đó Ngân hàng
yêu cầu L phải trả cho Ngân hàng Ngân hàng số tiền gốc i tạm tính tới ngày xét
xử thẩm 835.128.780 đồng (trong đó nợ gốc 700.000.000 đồng nợ lãi là
135.128.780 đồng) thì bà L và ông D đồng ý. Trường hợp bà L không trả hoặc trả không
đủ nghĩa vụ với Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát
mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản trên đất số A2023-
04218005962/HĐTC ngày 13/01/2023 giữa Ngân hàng N với ông D, L để thu hồi nợ.
Do đó cần ghi nhận sự tự nguyện này của bà L, ông D.
[8] Đối với khoản n110.000.000 đồng của bà Phạm Thị Duyệt ngày 07/8/2023:
Theo nội dung tại giấy vay tiền thể hiện chỉ một mình L đứng tên người vay và ký tên.
Ông D cho rằng khi vay tiền ông D không biết, sau khi L bỏ nhà đi vào tháng 9/2023
thì ông D mới được em gái là bà Dương Thị X cho biết việc bà L vay tiền bà D. Tại biên
bản lấy lời khai ngày 07/8/2024 ông D trình bày “…tôi đưa 51 triệu đồng về cho bà L trả
cho ông Toàn nhưng L nói L vay tiền trả rồi nên đưa tiền này cho con gái của chúng
tôi mượn. Theo tôi nghĩ thì số tiền L trả cho ông Toàn là tiền L mượn của bà D”.
Tại phiên tòa, ông D không xác định được số tiền 51.000.000 đồng L đã trả cho ông
Toàn phải là khoản tiền L vay của D hay là số tiền có sẵn trong nhà. Xét lời trình
bày này của ông D thấy rằng nếu số tiền này số tiền sẵn trong nhà thì ông D sẽ không
đưa cho bà L nói L trả cho ông Toàn khi L nói đã vay tiền đtrả nợ cho ông Toàn
nhưng ông D không có ý kiến, đồng thời lại đưa số tiền này cho con gái ông D, bà L vay.
Do đó, lời trình bày của ông D mâu thuẫn, không có sở. Tại phiên tòa ông D cũng
xác nhận việc chi tiêu trong gia đình đều do L là người thực hiện. Xét thấy thời điểm
bà L vay tiền bà D trong thời kỳ hôn nhân giữa bà L ông D, mục đích vay là để trả
nợ và chi tiêu trong gia đình. Ông D không chứng minh được đây là khoản vay riêng của
L. Theo quy định Điu 27 Điu 37 Luật hôn nhân gia đình thì v, chng phi
chu trách nhiệm liên đới đi vi giao dch do mt bên thc hin nhằm đáp ng nhu cu
thiết yếu ca gia đình. Do đó, căn cứ xác định đây khoản nợ chung trong thời kỳ hôn
nhân của bà L và ông D nên ông D phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà L trả số tiền mà
L đã vay của bà D.
[9] Đối với bản chính Giy chng nhn quyn s dụng đt s vào s cp CH 02002
do UBND huyện Bù Đăng cấp ngày 07/7/2015 cho hộ ông Dương Đình D vi thửa đất
diện tích 22.540m
2
thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện
C, tỉnh Bình Phước. Bà D và bà L đều xác định vic bà L giao giy chng nhn quyn s
dụng đất này cho bà D để làm tin đối vi khon vay 110.000.000 đồng ch không phi
thế chp quyn s dụng đất. Do hin nay, D đang giữ bn chính Giy chng nhn
quyn s dụng đất này nên cn buc D tr li cho bà L, ông D.
[10] Án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí dân s thẩm v chia tài sn chung: Theo kết luận đnh giá tài sn ngày
30/10/2024 ca Hội đồng đnh giá tài sn huyện Đăng thì thửa đất diện tích
22.540m
2
thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh
Bình Phước cùng tài sản trên đất có giá là 2.571.376.000 đồng, ông D đưc chia 60% tài
sn này và 01 xe Wawe có giá 3.000.000 đồng và xe máy cày có giá tr 58.000.000 đồng
(Theo biên bn tha thun giá ngày 27/12/2024 gia ông Dương Đình D Trn Th
L) nên ông D phi chu án phí vi tài sản được chia tương đương với s tin 59.904.768
đồng; Ngoài ra, ông D phi chịu án phí đi với nghĩa vụ tr s tiền 55.000.000 đồng cho
H Th D tương đương 2.750.000 đồng. Như vậy, tng án phí ông D phi chu
62.654.768 đồng.
Trần Thị L phải chịu án phí đối với 40% giá trị thửa đất có diện tích 22.540m
2
thuộc thửa đất số 14, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh nh Phước
cùng tài sản trên đất; giá trị 01 xe máy hiệu Vision màu đỏ đen giá trị 15.000.000 đồng
01 xe máy cày màu đỏ, hiệu MTZ gtrị 40.000.000 đồng (Theo biên bn tha
thun giá ngày 27/12/2024 gia ông Dương Đình D và bà Trn Th L); tương đương với
số tiền 44.606.512 đồng. Ngoài ra, L phải chịu án phí đối với nghĩa vụ trả nợ Ngân
hàng 835.128.780 đồng D 55.000.000 đồng, tương đương số tiền 39.500.000
đồng. Như vậy tổng án phí bà L phải chịu 84.006.512 đồng. Được khấu trừ số tiền tạm
ứng án phí L đã nộp 15.820.000 đồng theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0001408 ngày 04/12/2023, s0009030 ngày 24/02/2024 số 0009547 ngày 27/12/2024
của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đăng; L phải nộp tiếp số tiền 68.186.512
đồng.
Ngân hàng N không phải chịu. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã
nộp là 17.241868 đồng theo Biên lai số 0009306 ngày 30/7/2024 của Chi cục thi hành án
dân sự huyện Bù Đăng.
[11] Chi phí đo đạc 9.260.000 đồng chi phí xem xét, thẩm đnh tại chỗ tài sản
tranh chấp là 3.000.000 đồng; tổng 12.260000 đồng ông D và L mỗi người phải chịu
6.130.000 đồng. L đã nộp số tiền này nên buộc ông D phải trả lại cho L số tiền
6.130.000 đồng.
[12] Quan điểm của Đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 147; Điều 244; Điều 266
và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các điều 33, 27, 37, 59, 60, 62 Luật hôn nhân gia đình.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban
thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tài sản chung:
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất số 34, tờ bản đồ
số 55, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh Bình Phước, đất đã được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp CS 03721 do Sở tài nguyên môi trường tỉnh Bình
Phước cấp ngày 28/8/2019 cho ông Dương Đình D Trần Thị L với diện tích 335,2m
2
.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu chia tài sản khoản tiền công do ông D đi làm
tổng là 80.000.000 đồng.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Trần Thị L, ghi nhận sự thỏa thuận
của ông Dương Đình D Trần Thị L đối với việc chia tài sản là thửa đất số 14, tbản
đồ số 6, tọa lạc tại Thôn A, B, huyện C, tỉnh Bình Phước; đất đã được UBND huyện
Đăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp GCN: CH 02002 ngày
07/7/2015 cho hộ ông Dương Đình D với diện 22.540m
2
. Cụ thể như sau:
- Chia cho Trần Thị L quản lý, sử dụng phần đất diện tích 9.016m
2
và toàn
bộ tài sản trên đất (có s tha 02 và v trí t cn theo Mảnh trích đo đa chính s N
0
06013
ngày 03/4/2024 của Công ty TNHH MTV đo đạc bản đồ và trắc địa công trình 401);
- Chia cho ông Dương Đình D quản lý, sử dụng phần đất có din tích 13.524,0m
2
và toàn bộ tài sản trên đất (Có số thửa 01vị trí tứ cận theo Mảnh trích đo địa chính s
N
0
06013 ngày 03/4/2024 của Công ty TNHH MTV đo đc bản đồ và trắc địa công trình
401).
(Kèm theo bn án Mảnh trích đo địa chính s N
0
06013 ngày 03/4/2024 ca
Công ty TNHH MTV đo đạc bản đồ và trắc địa công trình 401)
Ông D, L có trách nhim liên h vi cơ quan nhà nước có thm quyền để đưc
cp li giy chng nhn quyn s dng đất theo quy định ca pháp lut.
- Chia cho Trần Thị L 01 chiếc xe y nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ đen,
biển kiểm soát 93L1- 361.12 được Công an tỉnh Bình Phước cấp giấy đăng xe
số 017930 ngày 10/4/2018 mang tên Trần Thị L; 01 xe máy cày màu đỏ, hiệu MTZ.
- Chia cho ông Dương Đình D 01 chiếc xe máy hiệu Wave màu xám đen 01 xe
máy cày hiệu John Deere (ông D đã bán).
Về nợ chung:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của L; chấp nhận toàn byêu cầu độc
lập của Ngân hàng N.
Buộc bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng N tổng số tiền số
tiền gốc lãi tạm tính tới ngày xét xử thẩm (ngày 26/02/2025) 835.128.780 đồng
(Tám trăm ba mươi lăm triệu một trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm tám mươi đồng);
trong đó nợ gốc là 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng), nợ lãi trong hạn là
117.474.671 đồng (Một trăm mười bảy triệu bốn trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm bảy
mươi mốt đồng), lãi quá hạn 17.381.109 đồng (Mười bảy triệu ba trăm tám mươi mốt
nghìn một trăm lẻ bảy đồng).
Ngoài ra bà L phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc phát sinh
theo Hợp đồng tín dụng số 5606-LAV- 202300399 ngày 13/01/2023 giữa Ngân hàng N
với bà Trần Thị L kể từ ngày 27/02/2025 cho đến khi bà L thanh toán xong các khoản n
gốc của hợp đồng này.
Trường hợp L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ theo
Hợp đồng tín dụng số 5606-LAV- 202300399 ngày 13/01/2023 thì Ngân hàng được
quyền yêu cầu xử tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản
gắn liên với đất số A2023-042178005962/HĐTC ngày 13/01/2023 giữa Ngân hàng N với
ông Dương Đình D, bà Trần Thị L để thi hành án. Trường hợp tài sản thế chấp không đủ
thanh toán khoản nợ thì bà L phải có trách nhiệm trả hết khoản nợ còn lại cho Ngân hàng.
Buộc Trần Thị Lông Dương Đình D mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho
Phạm Thị Duyệt số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi lăm triệu đồng).
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí dân s thm v chia tài sn chung và nghĩa vụ v tài sn: Trn Th L
phi chu 84.006.512 đồng (m mươi bốn triệu không trăm lẻ sáu nghìn năm trăm mười
hai đồng). Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí L đã nộp 15.820.000 đồng (Mười
lăm triệu tám trăm hai mươi nghìn) theo các Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001408
ngày 04/12/2023, số 0009030 ngày 23/01/2024 và số 0009547 ngày 27/12/2024 của Chi
cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng; L phải nộp tiếp số tiền 68.186.512 đồng (Sáu
mươi tám triệu một trăm tám mươi sáu nghìn năm trăm mười hai đồng).
Án phí dân s thẩm v chia tài sản chung nghĩa vụ v tài sn: Ông Dương
Đình D phi chu là 62.654.768 đồng (Sáu mươi hai triệu sáu trăm năm mươi bốn nghìn
bảy trăm sáu mươi tám đồng).
Ngân hàng N không phải chịu. Hoàn trả cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã
nộp là 17.241.868 đồng (Mười bảy triệu hai trăm bốn mươi mốt nghìn m trăm sáu mươi
tám đồng) theo Biên lai số 0009306 ngày 30/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện
Bù Đăng.
6. Chi phí đo đạc xem xét thẩm định tài sản tranh chấp: Ông Dương Đình D
phải trả lại cho bà Trần Thị L số tiền 6.130.000 đồng (Sáu triệu một trăm ba mươi nghìn
đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi
hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự,
thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đnh tại Điều 30 của Luật thi hành án dân
sự.
8. Quyền kháng cáo: Các đương sự mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Phước; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKS tỉnh Bình Phước;
- VKS huyện Bù Đăng;
- UBND xã, thị trấn;
- Đương sự;
- Chi cục THADS huyện Bù Đăng
- Lưu HS – DS.
Trương Thị Đào
Tải về
Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST Bản án số 14/2025/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất