Bản án số 12/2025/HNGĐ-PT ngày 27/03/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 12/2025/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 12/2025/HNGĐ-PT ngày 27/03/2025 của TAND tỉnh Đồng Nai về tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 12/2025/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/03/2025
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp tài sản sau khi ly hôn”, giữa bà Mai Thị Y kiện Võ Tấn S
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-PT
Ngày 27-3-2025
V/v tranh chấp tài sản sau khi ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành;
Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Phương;
Ông Nguyễn Đình Trung.
- Thư phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Phùng Đức Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số:
39/2024/HN-PT ngày 10 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp tài sản
sau khi ly hôn”;
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 53/2024/HNGĐ-ST ngày 15
tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ bị kháng cáo và kháng
nghị;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 10/2025/QĐ-PT
ngày 18 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Mai Thị Y, sinh năm 1982; nơi trú: Khu B, ấp V,
xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai; số điện thoại: 0326.969.01X.
- Bị đơn: Ông Tấn S, sinh năm 1975; nơi trú: Ấp T, B, huyện
C, tỉnh Đồng Nai; số điện thoại: 0937.298.85X.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Mai Văn L, sinh năm 1946;
2. Bà Trần Thị T, sinh năm 1945;
Cùng nơi trú: Tổ A, ấp T, B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; đề nghị
vắng mặt tại phiên tòa.
3. Bà Bùi Thị H, sinh năm 1969;
4. Chị Lâm Thị Kim C, sinh năm 1989;
Cùng nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; bà H đề nghị vắng
mặt;
- Người kháng cáo:Mai Thị Y - nguyên đơn.
- Kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Nguyên đơn bà Mai Thị Y trình bày:
Mai Thị Y - ông Tấn S trước đây vợ chồng; ngày 23/8/2017,
Y - ông S đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số:
172/2017/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tài sản chung
tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong thời kỳ hôn nhân,
Mai Thị Y - ông Võ Tấn S đã tạo lập tài sản sau: Quyền sử dụng đất diện
tích khoảng 125m
2
(5m x 25m) thuộc một phần thửa đất số 7, tờ bản đồ 39
(nay là thửa đất số 119, tờ bản đồ 39), tại ấp T, B, huyện C, tỉnh Đồng Nai,
thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây, Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền s dụng đất,
quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất, được gọi tắt giấy
chứng nhận) đứng tên ông Mai Văn L - Trần Thị T, 01 căn nhà cấp 4 cùng
các tài sản khác tọa lạc trên diện tích đất.
Nguồn gốc đất do Y ông S nhận chuyển nhượng của ông L - T
(cha m ruột của Y) o năm 2012, với giá chuyển nhượng 50.000.000
đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng đất, năm 2013, Y ông S xây dựng
nhà cấp 4; hiện tại, ông S đã chuyển nhượng lại cho chị Lâm Thị Kim C.
Năm 2017, khi ly hôn, Y - ông S thỏa thuận với nhau tự chia tài
sản chung, để trả nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, cụ thể, ông S - Yến
thỏa thuận bằng lời nói, Y đồng ý giao lại cho ông S toàn bộ diện tích đất
diện tích khoảng 125m
2
thuộc một phần thửa đất số 7, tờ bản đ39 (nay
3
thửa đất số 119, tờ bản đồ 39) và căn nhà cấp 4 tọa lạc trên đất cho ông S được
tiếp tục quản lý, sử dụng. Ông S phải trách nhiệm trả các khoản nợ chung
trong thời kỳ hôn nhân nhưng ông S không thực hiện trả nợ.
Cụ thể các khoản nợ sau:
- Vay Quỹ tín dụng nhân dân Xuân Định số tiền 150.000.000 đồng;
trong đó, sử dụng một phần tiền để xây dựng căn nhà cấp 4 vào năm 2013.
- Vay số tiền gốc 80.000.000 đồng (có lãi suất) của bà Đoàn Thị Kim
L1, nơi cư trú: Tổ A, ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Năm 2013, khi xây dựng căn nhà cấp 4 thì ông S - Y mua thiếu
vật liệu, xây dựng “Mười Nga” ấp T, B, số tiền còn nợ lại 42.000.000
đồng.
Tất các khoản vay trên do Y - ông S vay còn thiếu nkhi xây
dựng căn nhà cấp 4 năm 2013.
- Năm 2010, ông S - Y mượn giấy chứng nhận của ông Phạm Thanh
V - bà Nguyễn Thị H1, để đi cầm cố tại tiệm vàng K”, vay số tiền 50.000.000
đồng, đông S chuộc lại thửa đất số 1343, tờ bản đồ số 07 B (diện tích
khoảng 3.000m
2
), thửa đất do ông L - bà T chuyển nhượng và đã sang tên cho
Y - ông S. Trong năm 2010, ông S cho ông Trần Thanh V1 mượn giấy
chứng nhận của thửa đất này, để đi vay tiền. Do ông Trần Thanh V1 chưa trả
lại giấy chứng nhận, nên ông S - Y phải đi mượn giấy chứng nhận của ông
Phạm Thanh V - Nguyễn Thị H1, để cầm cố cho tiệm vàng “Kim Liên”,
vay số tiền 50.000.000 đồng, để chuộc lại giấy chứng nhận ông S - Y đã
cho ông Trần Thanh V1 mượn; bởi vì, ông Trần Thanh V1 đã mang đi cầm cố.
Sau khi ly hôn, do ông S không thực hiện trả nợ cho tiệm vàng “Kim Liên”,
nên ngày 06/6/2021, ông S ép Y đến nhà ông Phạm Thanh V - Nguyễn
Thị H1, mượn giấy chứng nhận, giấy nội dung Y nhận nợ chung với
ông S đối với số tiền 250.000.000 đồng nợ của Phạm Thanh V - Nguyễn
Thị H1. Số tiền 250.000.000 đồng này, là khoản nợ vay số tiền gốc 50.000.000
đồng từ tiệm vàng “Kim Liên”; sau đó, ông V - H1 đã trả 250.000.000
đồng cho tiệm vàng “Kim Liên”, chuộc lại giấy chứng nhận ông S - Y
đã mượn của ông V - H1, để cầm cố cho tiệm vàng “Kim Liên”. Theo nội
dung trong giấy ngày 06/6/2021, thì ông S - Y cam kết trả số tiền
250.000.000 đồng cho ông V - H1 trong vòng 06 tháng kể từ ngày
06/6/2021; tuy nhiên, đến nay Y chưa trả số tiền nào cho ông V - H1;
việc bà Y ký vào giấy nhận nợ ngày 06/6/2021 là do bị ép buộc.
4
Đối với ý kiến của ông S về số nợ của ông V - bà H1 khi ly hôn năm
2017, thì giữa ông S - Y chưa thỏa thuận; bởi , khi đó chưa ai đòi số
nợ này, nên đôi bên chưa thỏa thuận không đúng, khi ông S cho ông Trần
Thanh V1 mượn giấy chứng nhận của thửa đất số 1343, tờ bản đồ số 07 xã B,
không hỏi ý kiến Y, nên Y nghĩ giữa ông S ông Trần Thanh V1
quan hệ cậu cháu với nhau, thì ông S sẽ phải chịu trách nhiệm ttrả khoản
tiền nợ cho ông Phạm Thanh V - bà Nguyễn Thị H1
Tại phiên a thẩm, nguyên đơn xác định lại, không biết số tiền
50.000.000 đồng vay của ông Bùi Văn G, địa chỉ: SD, thôn X, thị trấn P,
huyện X, tỉnh Rịa - Vũng Tàu, đây là khoản vay riêng của ông S, không
liên quan tới Y.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đo đạc diện tích
đất tranh chấp Thẩm định giá tài sản theo yêu cầu được nguyên đơn
thống nhất, cụ thể:
- Theo trích lục đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính ngày
15/9/2023 do Văn phòng Đăng đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh C1 thực hiện,
phần đất đang tranh chấp diện tích đất 118.8m
2
thuộc một phần thửa đất số
119, tờ bản đồ 39, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai
- Theo Chứng thư Thẩm định giá do Công ty cổ phần T3 thực hiện, thì
Y xác định các tài sản trên diện tích đất 118.8m
2
do Y - ông S cùng tạo
lập được trong trong thời kỳ hôn nhân gồm: Nhà gia đình mái che; tuy
nhiên, nhà gia đình thời điểm xây dựng năm 2013 thì tường nchỉ mặt
ngoài còn mặt trong không tô, không sơn nước, không trần tôn lạnh. Theo
chứng thư, nhà gia đình tổng giá trị 174.420.000 đồng, Y xác định
giá trị căn nhà của bà Y - ông S bỏ tiền ra xây dựng là 130.000.000 đồng; phần
còn lại giá trị 44.420.000 đồng tiền do chị C bỏ ra tu sửa lại căn nhà sau
khi nhận chuyển nhượng lại nhà, đất từ ông S.
Về chi phí tố tụng: Y đã nộp số tiền 26.200.000 đồng, đề nghị giải
quyết theo quy định của pháp luật.
Nay nguyên đơn bà Mai Thị Y khởi kiện, yêu cầu Tòa án: Buộc ông Võ
Tấn S chia đôi các tài sản chung diện tích đất 118.8m
2
tài sản gắn liền
trên đất gồm (ngia đình giá trị 130.000.000 đồng; mái che giá trị
20.559.000 đồng) thuộc một phần thửa đất số 119, tờ bản đồ 39, ấp T, B,
huyện C, tỉnh Đồng Nai. Y yêu cầu giao lại toàn bộ các tài sản trên cho
5
ông S quản lý, sử dụng, yêu cầu ông S trả lại ½ giá trị tài sản chung bà Y được
nhận theo giá trị với số tiền là 558.789.500 đồng (làm tròn 558.789.000 đồng).
2. Bị đơn ông Võ Tấn S trình bày:
Ông Võ Tấn S thống nhất đối với phần trình bày quan hệ hôn nhân và ly
hôn như nguyên đơn trình bày. Trong thời kỳ hôn nhân, giữa ông S - Y
tạo lập được các tài sản chung như Y đã trình bày như trên; tuy nhiên, năm
2017, khi ly hôn, ông S - bà Y đã tự thoả thuận miệng với nhau về việc tự chia
tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, cụ thể, Y sẽ
giao lại cho ông S toàn bộ diện tích đất khoảng 125m
2
(5m x 25m) và căn nhà
cấp 4 toạ lạc trên diện tích đất thuộc một phần thửa đất số 7, tờ bản đồ 39 (này
là thửa đất số 119, tờ bản đồ 39), ấp T, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; ông S sẽ
người chịu trách nhiệm trả các khoản nợ chung của Y - ông S còn nợ lại
khi xây dựng căn nhà cấp 4, gồm các khoản nợ sau:
- 149.000.000 đồng tiền gốc lãi vay của bà Đoàn Thị Kim L1 hơn
68.000.000 đồng nợ của cửa hàng vật liệu, xây dựng “Mười Nga”. Các khoản
nợ này, ông S đã trả đcho Đoàn Thị Kim L1; khoản nợ 68.000.000 đồng
của cửa hàng vật liệu, xây dựng Mười N, sau khi ly hôn, ông S đã tự trả được
một số tiền, hiện tại còn nợ lại 42.000.000 đồng chưa trả, nhưng ông S xác
định sẽ chịu trách nhiệm trả số tiền này.
- Số tiền 50.000.000 đồng vay của ông Bùi Văn G; ông S xác định
khoản vay này ông S vay sau khi ly hôn với Y; trong đó, dùng 35.000.000
đồng để trả nợ tiền chuyển nhượng đất cho ông L - T; còn lại 15.000.000
đồng, dùng để trả lãi suất cho khoản tiền vay của Quỹ tín dụng.
- Đối với số tiền 150.000.000 đồng vay của Quỹ n dụng nhân dân X;
ông S xác định số tiền này bắt đầu vay 100.000.000 đồng từ năm 2010, đến
năm 2011, vay tiếp 50.000.000 đồng. Số tiền này, mục đích vay, để ông S -
Y mua xe, để chạy dịch vụ, thu nhập từ chiếc xe dùng đchi tiêu sinh hoạt
trong gia đình, chứ không sử dụng 1 phần tiền nào từ số tiền vay 150.000.000
đồng trên, để xây dựng căn nhà cấp 4 như bà Y đã trình bày.
vậy, ông S xác định tài sản đang tranh chấp theo yêu cầu khởi kiện
của Y đã được ông S - Y thỏa thuận giải quyết tự chia khi ly hôn năm
2017, bà Y đồng ý giao toàn bộ tài sản này cho ông S; ông S đã chịu trách
nhiệm trả các khoản nchung như đã trình bày trên, nên đây là tài sản riêng
của ông S.
6
- Đối với số tiền nợ của tiệm vàng K”, vào năm 2007, ông S - Y
mua của ông L - T diện tích đất khoảng 3.000m
2
thuộc một phần thửa đất
số 1343, tờ bản đồ số 07, B. Trong năm 2010, ông S - Y cho ông Trần
Thanh V1 mượn giấy chứng nhận của thửa đất số 1343, tờ bản đồ số 07, đi
cầm cố vay tiền. Khi ông S - Y cần vay tiền, do ông V1 chưa trả giấy
chứng nhận này, nên ông S - Y đã mượn giấy chứng nhận của ông Phạm
Thanh V - Nguyễn Thị H1, cầm cố cho tiệm vàng “Kim Liên”, đvay số
tiền 50.000.000 đồng, mục đích để chuộc lại giấy chứng nhận đã cho ông Trần
Thanh V1 mượn. Do số tiền nợ của tiệm vàng “Kim Liên” từ khi ông S - Y
cầm cố giấy chứng nhận để vay số tiền 50.000.000 đồng, đã đến ngày ông
Phạm Thanh V - bà Nguyễn Thị H1 thanh toán tiền cho tiệm V2”, để lấy lại
giấy chứng nhận mà ông S - bà Y mượn, số tiền cả gốc và lãi suất là
250.000.000 đồng. Nên vào cuối năm 2022, ông S - Y đã thỏa thuận miệng
với nhau, số tiền này schia đôi mỗi người ½ số nợ trên, trả cho ông V -
H1. Ông S đã trả cho cho ông V - H1 số tiền 50.000.000 đồng, còn bà Y đã
trả cho ông V - bà H1 số tiền nào chưa thì ông S không biết. Đối với số nợ của
tiệm vàng Kim Liên”, năm 2017, khi ông S - Y hôn hai bên chưa thỏa
thuận đối với số nợ này; bởi vì, thời điểm đó chưa ai yêu cầu ông S - Y
phải thanh toán.
Về nguồn gốc diện tích đất đang tranh chấp thuộc một phần thửa đất s
7, tờ bản đồ số 39, B (nay thửa đất số 119, tờ bản đồ 39): Vào đầu năm
2012, ông Mai Văn L - Trần Thị T (cha mẹ ruột của Y) thỏa thuận
miệng bán cho ông S - Y diện tích đất chiều ngang 08m, chiều dài 25m,
với giá 70.000.000 đồng, lúc thỏa thuận miệng thì hai bên chưa giao tiền
chưa nhận đất. Đến tháng 5/2012, thì ông S - bà Y giao cho ông L - bà T trước
số tiền 5.000.000 đồng, số tiền còn lại trả dần cho đến khi thanh toán đủ số
tiền 70.000.000 đồng. Năm 2015, ông Bùi Ngọc L2 con trai của ông L -
T về thương lượng với vợ chồng ông L ông S (thời điểm này Y đã bỏ
nhà đi), để lại cho ông L2 diện tích đất 03m x 25m, trong tổng diện tích 8m x
25m mà ông L - bà T đã thoả thuận miệng bán cho ông S - bà Y năm 2012, thì
ông S và vợ chồng ông L - T cùng đồng ý, nên diện tích đất 3m x 25m thì
ông L2 và vợ chồng ông L tự thỏa thuận mua bán với nhau. Giữa ông S và ông
L - bà T đã thống nhất làm lại hợp đồng mua bán đất lập ngày 09/11/2015, bên
bán ông L - T; bên mua ông S với diện tích 125m
2
thuộc một thửa đất
số 1344, tờ bản đồ 39, theo giấy chứng nhận vào sổ H01876/QD1339 do Ủy
ban nhân dân huyện C cấp ngày 25/11/2008 (sau nay tách thành thửa đất số 7,
7
tờ bản đồ 39 hiện nay đất số 119, tờ bản đồ 39), giá chuyển nhượng là
50.000.000 đồng, lần 1 thanh toán vào ngày 09/11/2015 số tiền 5.000.000
đồng, nhưng thực tế số tiền này đã được ông S - Y giao cho ông L - T
vào tháng 5/2012, khi đôi bên thỏa thuận miệng với nhau. Trong hợp đồng
mua bán đất lập ngày 09/11/2015, còn ông Hồ Văn T1 Hồ Thị H2
người làm chứng. Số tiền 50.000.000 đồng ông S đã thanh toán đủ cho ông L -
bà T; trong đó, ông S - bà Y cùng trả 5.000.000 đồng, còn lại số tiền
45.000.000 đồng là do ông S tự trả cho ông L - T. Đối với giấy sang
nhượng đất lập ngày 05/6/2012, do Y cung cấp không đúng, năm
2012, khi ông L - T chuyển nhượng đất cho ông S - Y, tđôi bên chỉ
thỏa thuận miệng, không làm giấy tờ.
Về nguồn gốc căn nhà cấp 4 tọa lạc trên diện tích đất đang tranh chấp:
Do ông S - Y ng nhau xây dựng vào cuối năm 2012, đến năm 2013, thì
hoàn tất. Khi xây dựng nhà thì vay các khoản nợ như ông S đã trình bày
trên. Giữa năm 2014, bà Y bỏ nhà đi; đến năm 2017, Y trở về và hai bên đã
thuận tình ly hôn theo quyết định của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
Ngày 23/5/2018, ông S đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất đang
tranh chấp và tài sản gắn liền trên đất cho chị Lâm Thị Kim C, với giá chuyển
nhượng 200.000.000 đồng, theo giấy bán nhà viết tay lập ngày 23/5/2018. Ông
S đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng và đã bàn giao nhà, đất cho chị C quản lý,
sử dụng. Ông S đã dùng toàn bộ số tiền 200.000.000 đồng, đ trả hết các
khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân giữa ông S - bà Y. Việc chuyển nhượng đất
giữa ông S - bà Y với ông L - T cũng nhưng việc chuyển nhượng đất giữa
ông S chị C vẫn chưa hoàn tất. Phần diện tích đất đang tranh chấp hiện tại
vẫn do ông Mai Văn L - bà Trần Thị T đứng tên trên giấy chứng nhận.
Đối với thửa đất do ông S - bà Y đứng tên giấy chứng nhận, sau khi
chuộc giấy chứng nhận vthì ông S - Y đã thế chấp cho Q n dụng nhân
dân Xuân Đ, để vay stiền 150.000.000 đồng. Ông không nhớ năm nhưng
khi hôn nhân rạn nứt nên ông S - bà Y đã thỏa thuận bán thửa đất này và thanh
toán tiền nợ cho Quỹ tín dụng nhân dân Xuân Định, số tiền còn lại thì bà Y
người giữ và tiêu xài.
Ông S thống nhất với kết quả trích lục, đo vhiện trạng thửa đất các
tài sản toạ lạc trên đất do ông S - Y tạo lập được trong trong thời kỳ hôn
nhân và phần tài sản do chị C tạo lập sau khi ông chuyển nhượng đất, nhà cho
chị C như bà Y đã trình bày ở trên. Ông đề nghị Tòa án căn cứ vào các kết quả
này, để giải quyết theo quy định của pháp luật
8
Về chi phí tố tụng: Y người khởi kiện nên phải chịu toàn bộ các
khoản chi phí tố tụng này.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Mai Thị Y về việc yêu cầu chia đôi
các tài sản chung như yêu cầu của bà Y thì ông S không đồng ý.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
3.1. Ông Mai Văn L và bà Trần Thị T:
Mai Thị Y con ruột của ông Mai Văn L - Trần Thị T, ông
Tấn S trước đây là chồng Y con rễ của ông bà. Năm 2012, ông L -
T thỏa thuận chuyển nhượng cho ông S - Y, sau đó lập giấy tờ viết tay,
phần diện tích khoảng 125m2 (5m x 25m) thuộc một phần thửa đất số 7, tờ
bản đồ 39, ấp T, B, huyện C, tỉnh Đồng Nai nhưng chưa làm thủ tục, tách
thửa sang tên cho ông S - Y. Giá chuyển nhượng 50.000.000 đồng,
nhưng ông L - bà T không nhớ đã ký vào giấy tờ chuyển nhượng năm nào.
Trong tổng số tiền 50.000.000 đồng, ông S - bà Y cùng nhau trả cho cho
ông L - T được 5.000.000 đồng; số tiền còn lại 45.000.000 đồng ông S
người tự trả cho ông L - T. Ông L - T xác định đã nhận đủ số tiền
50.000.000 đồng, đã giao đất cho ông S - Y. Diện tích đất tranh chấp hiện
tại vẫn do ông L - T người đứng tên trên giấy chứng nhận. Đối với yêu
cầu khởi kiện của bà Y, ông L - T không có ý kiến. Trong vụ án này, ông L
- bà T không có tranh chấp và không có yêu cầu khởi kiện độc lập.
3.2. Chị Lâm Thị Kim C:
Chị cháu ngoại của ông Mai Văn L - Trần Thị T, bà Y ruột
của chị. Vì là người trong gia đình, nên chị C biết rõ nguồn gốc đất đang tranh
chấp, nên vào ngày 23/5/2018, chị C người nhận chuyển nhượng 1 phần
thửa đất số 7, tờ bản đồ 39, B của ông Tấn S, với diện tích 125m
2
(5m x 25m) và căn nhà cấp 4 tọa lạc trên diện tích đất này, giá chuyển nhượng
200.000.000 đồng, hai bên làm giấy tờ mua bán viết tay như ông S cung cấp,
chị C đã giao đủ tiền cho ông S và đã nhận nhà, đất.
Thời điểm nhận chuyển nhượng diện tích đất từ ông S, chị C biết nguồn
gốc đất là do vợ chồng ông L - T chuyển nhượng lại cho ông S - Y, giấy
chứng nhận vẫn do ông L - T đứng tên. Diện tích đất này, đã được ông S -
Y thỏa thuận tự chia tài sản cho ông S, nên chị C đã chuyển nhượng với
ông S, không liên quan đến Y. Ngoài ra chị C còn thỏa thuận chuyển
nhượng của ông L - T diện tích đất ng trong thửa đất chị C nhận chuyển
9
nhượng của ông S, nên giữa chị C và ông L - T làm giấy tờ tay với nhau
tổng diện tích chuyển nhượng 150m
2
(trong đó 125m
2
diện tích chị
nhận chuyển nhượng của ông S). Thửa đất tranh chấp hiện tại do chị là người
đang quản lý, sử dụng.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Y về chia tài sản tranh chấp nêu trên
theo chị C không thỏa đáng, không đúng. tài sản này đã được Y
ông S thỏa thuận tự chia cho ông S, nên đây là tài sản của ông S.
Đối với việc chuyển nhượng đất giữa chị C ông S, đề nghị Tòa án
không giải quyết trong vụ án này.
3.3. Bà Bùi Thị H:
H là mẹ ruột của chị Lâm Thị Kim C, chị gái ruột của Y. Hiện
tại, H đang sinh sống cùng với chị C trong căn nhà tọa lạc trên thửa đất
đang tranh chấp. Diện tích đất căn nhà cấp 4 trên đất đã được chị C nhận
chuyển nhượng lại từ ông S. Trong vụ án này, H không ý kiến gì, đề
nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
4. Quyết định của cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 53/2024/HNGĐ-ST ngày 15
tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Y.
1/ Giao cho ông Tấn S diện tích đất 118.8m
2
thuộc một phần thửa
đất số 119, tờ bản đồ 39 B, huyện C. Ông Tấn S được toàn quyền sở
hữu các tài sản gắn liền trên đất.
2/ Ông Tấn S nghĩa vụ trả cho Mai Thị Y giá trị phần tài sản
chung bà Y được chia với số tiền 123.631.000 đồng.
3/ Ngoài ra, bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, thủ tục cấp giấy
chứng nhận, trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án, án phí
quyền kháng cáo theo luật định.
5. Kháng cáo - Kháng nghị:
Nguyên đơn Mai Thị Y kháng cáo; yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm
sửa bản án hôn nhân gia đình thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn.
Tại Quyết định kháng nghị phúc thẩm số: 16/QĐKNPT-VKS-DS ngày
28/8/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ; Đề nghị
10
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai sửa Bản án hôn nhân gia đình thẩm số:
53/2024/HNGĐ-ST ngày 15/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ theo
hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
6. Phần phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:
6.1. Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
- Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định về việc thu thập
chứng cứ, việc cấp tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ cho đương sự và chuyển hồ
cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định. Phiên tòa
thực hiện đúng các quy định của B lut T tng dân sự, đảm bảo đúng thành
phần, vô tư, khách quan và không có trường hợp phải thay đổi người tiến hành
tố tụng.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ
án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng các quy
định tại các Điều 70, 71, 72 và 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
6.2. Quan điểm đối với kháng cáo - kháng nghị:
Kiểm sát viên đã phát biểu, đánh giá vvụ án; kết luận cấp thẩm vi
phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; đề nghị Hội đồng xét xử hủy toàn bộ bản
án sơ thẩm và không xem xét kháng cáo và kháng nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Tòa án mở phiên tòa lần thứ hai, một số đương sự vắng mặt tại phiên
tòa, căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử
vụ án.
[2] Về nội dung:
- Theo các đương sự trình bày hồ vụ án thể hiện, diện tích đất
tranh chấp diện tích 118.8m
2
, thuộc 01 phần thửa đất số 119, tờ bản đồ số
39, B, huyện C, tỉnh Đồng Nai; hiện nay, thửa đất số 119 (có 172m
2
đất
hành lang bảo vệ an toàn công trình giao thông) vẫn thuộc quyền sử dụng của
ông Mai Văn L - Trần Thị T, theo Giấy chứng nhận số: DG 385763, được
Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 09/01/2023.
- Hồ vụ án thể hiện diện tích đất tranh chấp không các thủ tục sau
đây: Tách thửa, đo đạc, xác nhận phợp quy hoạch, được phép tách thửa
11
theo quy định của pháp luật hay không, hợp đồng chuyển nhượng được công
chứng, chứng thực, nộp thuế, phí …. liên quan đến việc chuyển nhượng giữa
ông Mai Văn L - bà Trần Thị T với bà Mai Thị Y - ông Võ Tấn S.
- Khoản 16 Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với
đất chứng thư pháp để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.
- Bản án thẩm tuyên: “Giao cho ông Tấn S diện tích đất 118.8m
2
thuộc một phần thửa đất số 119, tbản đồ 39 B…”, nhưng không công
nhận quyền sử dụng đất; trong khi đó, đất này, chị Lâm Thị Kim C đang trực
tiếp sử dụng đất vì nhận chuyển nhượng “giấy tay” từ ông Võ Tấn S; điều này,
dẫn đến việc khó khăn trong việc đăng ký, khai, cấp giấy chứng nhận.
Ngoài ra, phần đất diện tích 118.8m
2
thuộc một phần thửa đất số 119, tờ bản
đồ 39 B, huyện C, tỉnh Đồng Nai chưa căn cứ xác định đất ở. Việc
Tòa án tuyên “ông Tấn S được toàn quyền shữu các tài sản gắn liền với
đất...” trong khi phần đất này, chưa căn cứ xác định đủ điều kiện diện tích
tối thiểu, để tách thửa theo Quyết định số: 63/QĐ-UBND ngày 05/11/2024 của
Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Như vậy, bản án tuyên xử không thi hành được, phần
đất “giao” cho ông S là không đúng quy định pháp luật.
- Tại cấp phúc thẩm, ông Mai Văn L - Trần Thị T đơn đề nghị
xem lại hợp đồng mua bán đất ngày 09/11/2015, giữa ông bà với Tấn S, vì
giả mạo vthời gian, vợ chồng ông bà mắt kém, thiếu hiểu biết pháp luật;
đồng thời, ngày 02/10/2018, T không nhận 10.000.000 đồng từ ông S, chữ
ký của bà Trần Thị T là không đúng.
- Tòa án cấp phúc thẩm nhận được “Đơn khiếu nại” của Nguyễn Thị
T2 (Cửa hàng vật liệu xây dựng “Mười Nga”), đề nghị Tòa án giải quyết buộc
Mai Thị Y - ông Tấn S trả số tiền nợ mua vật liệu xây dựng vào năm
2014 là 42.000.000 đồng.
- Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn trình bày của bị đơn, thể hiện
một số nphát sinh trong thời kỳ hôn nhân; tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm
không đưa những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng
là có thiếu sót.
Kết luận: Từ những nội dung trên, chưa căn cứ xác định đất tranh
chấp thuộc quyền sử dụng của Mai Thị Y - ông Tấn S nhưng cấp
12
thẩm lại chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn là không có cơ sở; do đó, hủy
bản án thẩm (do chủ quan) để giải quyết lại theo thủ tục chung. Ngoài ra,
quan hệ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa nhiều bên trong vụ
án (đất tranh chấp) nợ chung cần phải được xem xét, để giải quyết triệt để
vụ án (nếu đương sự có yêu cầu khởi kiện).
[3] Về kháng cáo kháng nghị: Do hủy bản án thẩm nên không
xem xét, giải quyết kháng cáo và kháng nghị.
[4] Về chi phí tố tụng được cấp thẩm xác định khi giải quyết lại vụ
án.
[5] Án phí: Căn cứ khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị
quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí
lệ phí Tòa án; người kháng cáo không phải chịu án phí hôn nhân gia đình
phúc thẩm. Nghĩa vụ chịu án phí thẩm được xác định khi giải quyết lại vụ
án.
[6] Chấp nhận quan điểm của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308 và khoản 1 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Hủy toàn bộ Bản án hôn nhân gia đình thẩm số: 53/2024/HNGĐ-
ST ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ.
2. Chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, để
giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
3. Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm:
Người kháng cáo không phải phải chịu, trả lại cho bà Mai Thị Y
300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên
lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0012424 ngày 10-9-2024 của Chi cục
Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
13
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ (kèm hồ
sơ vụ án);
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm
Mỹ;
- Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Mỹ;
- Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai;
- Ủy ban nhân dân Bảo Bình, huyện Cẩm
Mỹ;
- Lưu: Hồ vụ án, Tòa Gia đình Người
chưa thành niên và Văn phòng (16).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký và đóng dấu)
Nguyễn Văn Thành
Tải về
Bản án số 12/2025/HNGĐ-PT Bản án số 12/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 12/2025/HNGĐ-PT Bản án số 12/2025/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất