Bản án số 156/2026/DS-PT ngày 13/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 156/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 156/2026/DS-PT ngày 13/03/2026 của TAND tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 156/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/03/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu Công ty trách nhiệm một thành viên B phải trả số tiền gốc đã vay và lãi suất.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐẮK LẮK Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 156/2026/DS-PT
Ngày: 13 - 3 - 2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Công Bình.
Các Thẩm phán: 1. Ông Y Phi Kbuôr;
2. Bà Nguyễn Thị My My.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Thùy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk
Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Lương
Thị Diệu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc
thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 392/2025/TLPT-DS ngày
27/10/2025, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm
số: 13/2025/DS-ST ngày 28/7/2025 của Tòa án nhân n khu vực 11 - Đắk Lắk bị
kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2026/QĐ-PT ngày 14/01/2026
và Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2026/QĐ-PT ngày 12/02/2026, giữa các đương
sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1963; địa chỉ: Đường T, phường H,
tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Huy V, sinh năm 2001
(Văn bản uỷ quyền ngày 06/3/2026); địa chỉ: Đường N, phường H, tỉnh Đắk Lắk, có
mặt.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Trần Đăng K, sinh năm 1970; địa chỉ: Đường L, phường H, tỉnh Đắk
Lắk, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2.2. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B.
Địa chỉ: Đường H, phường H, tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện theo uỷ quyền của các bị đơn: Ông Đỗ Công H, sinh năm 1981
(Văn bản uỷ quyền ngày 08/4/2025); địa chỉ: Đường H, phường H, tỉnh Đắk Lắk, có
mặt.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bị đơn: Luật Tạ Quang T,
Văn phòng Luật sư THT, Đoàn Luật sư tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ: Đường B, phường B,
tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
3.1. Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố N, phường K, tỉnh
Đắk Lắk (phường C, thành phố H, tỉnh Phú Yên cũ), vắng mặt;
3.2. Bà Huỳnh Hồ Thị T, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ M, khu phố T, phường H,
tỉnh Đắk Lắk (phường N, thành phố H, tỉnh Phú Yên cũ), hiện đang chấp hành án tại
Trại giam Đ, Bộ Công An, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt;
3.3. Bà Bùi Thị Cẩm D, sinh năm 1984; địa chỉ: Đường N, phường H, tỉnh Đắk
Lắk (phường N, thành phố H, tỉnh Phú Yên cũ), vắng mặt;
3.4. Nguyễn Thị Thuý D1, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ C, Khu phố T, phường
H, tỉnh Đắk Lắk (phường H, thành phố H, tỉnh Phú Yên cũ), vắng mặt;
3.5. Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố C, phường H, tỉnh
Đắk Lắk (phường N, thành phH, tỉnh Phú Yên cũ), vắng mặt;
3.6. Ông Nguyễn Thanh Q; nơi thường trú: Thôn B, V, huyện P, tỉnh Thừa
Thiên Huế; nơi hiện nay: Khu phố C, phường H, tỉnh Đắk Lắk (phường N, thành
phố H, tỉnh Phú Yên cũ), vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*/ Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, nguyên đơn
Nguyễn Thị G người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày nội
dung như sau:
Giữa Nguyễn Thị G ông Trần Đăng K Tổng Giám đốc Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên B mối quan hquen biết. Vì cần tiền đầu tư, đáo
hạn và trả lãi Ngân hàng của Công ty nên ông Trần Đăng K đã nhiều lần hỏi vay tiền
của bà Nguyễn Thị G. Mỗi lần vay tiền, ông Trần Đăng K gọi điện thoại trao đổi với
Nguyễn Thị G trước về số tin cn vay, sau khi bà Nguyễn Thị G đã thống nhất số
tiền cho vay thì bà G đem tiền trực tiếp đến Công ty nhiều lần giao cho bà Huỳnh Hồ
Thị T, là kế toán của Công ty, không thông qua chuyển khoản và một lần cuối cùng
do ông T1 lùn cùng Huỳnh Hồ Thị T đến nbà G lấy tiền nhưng ông T1 là người
trực tiếp nhận tiền và đem tiền đi trả cho Ngân hàng Vietinbank do ông Trần Đăng K
vay tiền của Ngân hàng. Mỗi lần đem tiền đến Công ty, Huỳnh Hồ Thị T đều
đưa Giấy mượn tiền, Giấy mượn tiền ông Trần Đăng K , Giấy mượn tiền ông
Nguyễn Thanh P Phó Giám đốc Công ty ký. Tại các Giấy mượn tiền đều kế toán
Công ty là bà Huỳnh Hồ Thị T, bà D1 (không rõ họ tên) ký xác nhận. Hiện nay, ông
Trần Đăng KCông ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B còn nợ bà Nguyễn
Thị G tổng cộng 15 Giấy mượn tiền với tổng s tiền 20.180.000.000 đồng, đã trả số
tiền 4.800.000.000 đồng, còn nợ số tiền 15.380.000.000 đồng. Cụ th15 giấy mượn
tiền như sau:
- Giấy mượn tiền ngày 30/9/2019, ông Trần Đăng K mượn số tiền 2.000.000.000
đồng, ngày 14/02/2020 đã trả số tiền 1.900.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ số tiền
100.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 02/10/2019, ông Trần Đăng K mượn số tiền
1.500.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ s tiền 1.500.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 06/11/2019, ông Trần Đăng K mượn số tiền
1.000.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ số tiền 1.000.000.000 đồng.
3
- Giấy mượn tiền ngày 07/11/2019, ông Trần Đăng K mượn số tiền 500.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ số tiền 500.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 16/12/2019, ông Trần Đăng K mượn số tiền
4.200.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ s tiền 4.200.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 06/02/2020, ông Trần Đăng K mượn số tiền 200.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ số tiền 200.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 19/02/2020, ông Trần Đăng K mượn số tiền
2.500.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ s tiền 2.500.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 27/02/2020, ông Trần Đăng K mượn số tiền
1.500.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ s tiền 1.500.000.000 đồng.
- Ngày 17/4/2020, ông Trần Đăng K gọi điện thoại hỏi mượn bà Nguyễn Thị G
s tiền 200.000.000 đồng đđóng tiền lãi. Sau khi gọi điện thoại, G đồng ý cho
mượn thì ông Trần Đăng K cử Huỳnh HThị T kế toán Công ty lên nhà G
viết Giấy mượn tiền với số tiền 200.000.000 đồng, bà G đã giao số tiền 200.000.000
đồng cho bà Huỳnh Hồ Thị T để đưa cho ông Trần Đăng K, chưa trả tiền gốc và hiện
còn nợ 200.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 24/6/2020, ông Trần Đăng K mượn số tiền 1.000.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ số tiền 1.000.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 01/7/2020, ông Trần Đăng K mượn số tiền 390.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc hiện còn nợ số tiền 390.000.000 đồng. Trong Giấy mượn
tiền ngày 01/7/2020, mặt sau tờ giấy có ghi “Mượn còn nợ 500.000.000 đồng”. Ngày
03/7/2020, mượn số tiền 90.000.000 đồng chưa trả tiền gốc, ngày 16/7/2020 mượn số
tin 100.000.000 đồng chưa trả tiền gốc, tổng cộng các lần còn nợ với số tiền
1.080.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 07/7/2020, ông Trần Đăng K mượn số tiền 700.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ số tiền 700.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 14/7/2020, ông Trần Đăng K mượn số tin 1.700.000.000
đồng, ngày 15/7/2020 đã trả s tiền 1.500.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ lại số tiền
200.000.000 đồng và ngày 15/7/2020 mượn thêm số tiền 200.000.000 đồng, tổng số
tiền còn nợ là 400.000.000 đồng.
- Giấy mượn tiền ngày 20/7/2020, ông Trần Đăng K mượn số tin 1.700.000.000
đồng, ngày 23/7/2020 đã trả số tiền 1.400.000.000 đồng, hiện còn nợ số tiền
300.000.000 đồng được xác nhận ngày 24/7/2020.
- Giấy mượn tiền ngày 27/7/2020, ông Trần Đăng K mượn số tiền 200.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc và hiện còn nợ số tiền 200.000.000 đồng.
Tiền lãi đi với 15 Giấy mượn tiền là 2.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày. Đối với
chứng cứ trong điện thoại của bà Nguyễn Thị G đã lập Vi bằng do ông Trần Đăng K
nhắn tin xác nhận mượn số tiền 4.300.000.000 đồng, hiện đã trả không liên
quan đến 15 Giấy mượn tiền nêu trên.
Do đó, Nguyễn Thị G khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần
Đăng KCông ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B phải có trách nhiệm liên
đới trả số tiền gốc 15.380.000.000 đồng tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ theo
4
quy định pháp luật 10%/năm, kể từ ngày thụ lý vụ án ngày 05/10/2021 đến ngày Tòa
án xét xử sơ thẩm.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Trần Đăng K trình bày nội dung
như sau:
Bản thân ông Trần Đăng K ng ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B
hoàn toàn không vay mượn tiền của Nguyễn Thị G. Các Giấy mượn tiền Nguyễn
Thị G cung cấp không hợp pháp, vì không phải chữ ký sống của ông K, không ghi cụ
th tên người cho vay, các Giấy mượn tiền đóng dấu bằng con dấu sẵn, con dấu này
chỉ sử dụng nội bộ quản hành chính của Công ty chứ không giá trị trong việc
vay mượn tiền. Công ty không ủy quyền bằng văn bản cho ông Nguyễn Thanh P
Huỳnh Hồ Thị T Hợp đồng vay mượn tiền các Giấy mượn tiền năm 2019,
2020 dưới danh nghĩa Công ty. Nguyễn Thị G nhiều lần mang tiền đến Công ty
với giá trị lớn nhưng việc giao dịch hoàn toàn không có chứng từ giá trị chứng
minh như Phiếu thu, Phiếu chi có đầy đủ chữ ký của kế toán, thủ quỹ, chủ tài khoản.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền ca ông Trần Đăng
K và Công ty Tch nhiệm hữu hạn Một thành viên B là ông Đỗ Công Hiệp trình bày
có nội dung như sau:
Việc Nguyễn Thị G khởi kiện không căn cứ, tại sao trong quá trình
vay tiền nhiều lần với số tiền rất lớn, Nguyễn Thị G không đưa tiền trực tiếp
hoặc chuyển khoản cho ông Trần Đăng K yêu cầu ông Trần Đăng K trực tiếp
vào các Giấy mượn tiền. Do đó, ông Trần Đăng K Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Một thành viên B không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh
Hồ Thị T trình bày có nội dung như sau:
Các Giấy mượn tiền do Công ty in sẵn, còn ai cho mượn tiền thì trực tiếp ghi
vào Giấy mượn tiền. T xác định các Giấy mượn tin Nguyễn Thị G khởi
kiện G cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B vay mượn, mục
đích để đáo hạn Ngân hàng và giải quyết công việc của Công ty, lãi suất thỏa thuận
và bà T là người thực hiện trả lãi cho bà Nguyễn Thị G. Quy trình các lần mượn tiền
của bà Nguyễn Thị G đều là giống nhau và đúng theo quy chế của Công ty, cụ thể
Nguyễn Thị G đem tiền đến Công ty, bà T người trực tiếp kiểm đếm tiền bà G
đem đến. Sau khi kiểm đếm tiền xong, T đem tiền lên bộ phận kế toán nhập tiền
vào, ông Nguyễn Thanh P đóng dấu Giấy mượn tiền đem Giấy mượn tiền xuống
cho bà Nguyễn Thị G. T khẳng định dòng tiền ra vào Công ty đúng quy định
pháp luật, có Giấy mượn tiền, bà T và ông Trần Đăng K là người ký tên, bà Nguyễn
Thị Thúy D1, Bùi Thị Cẩm D kế toán tổng hợp nháy vào mục kế toán,
Giấy mượn tiền ông Nguyễn Thanh P là người trực tiếp ký, vì thời điểm đó ông Trần
Đăng K không Công ty, ông Trần Đăng K y quyền cho ông Nguyễn Thanh P
tên, nên những Giấy mượn tiền ông Nguyễn Thanh P tên nhưng quên xóa
tên ông Trần Đăng K.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn
Thị Thúy D1 trình bày có nội dung như sau:
5
Ông Trần Đăng K, ông Nguyễn Thanh P, bà Huỳnh Hồ Thị T cấp trên của
D1, Bùi Thị Cẩm D đồng nghiệp, còn bà Nguyễn Thị G không phải nhân viên
Công ty nên bà D1 không biết.
D1 bắt đầu làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B từ
tháng 10/2019 nghỉ việc từ tháng 01/2021, công việc được phân công kế toán
tổng hợp kiêm kế toán thu chi. D1 nháy vào 05 giấy mượn tiền, cụ thể: Giấy
mượn tiền ngày 06/11/2019, số tiền 1.000.000.000 đồng; Giấy mượn tiền ngày
16/12/2019 số tiền 4.200.000.000 đồng; Giấy mượn tiền ngày 06/02/2020 số tiền
200.000.000 đồng; Giấy mượn tiền ngày 01/7/2020 stiền 390.000.000 đồng (Bà D1
không biết mặt sau Giấy mượn tiền này do ai viết); Giấy mượn tiền ngày
07/7/2020 số tiền 700.000.000 đồng. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên
B ông Trần Đăng K không văn bản y quyền cho ký nháy 05 Giấy mượn
tiền trên; lý do D1 nháy Huỳnh Hồ Thị T, nguyên Trưởng phòng Tài
chính Kế toán kiêm Kế toán trưởng yêu cầu nháy đT trình lãnh đạo phê
duyệt để huy động vốn cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B. Do
làm nhân viên, Huỳnh Hồ Thị T cp trên yêu cầu nên bà D1 nháy, việc
nháy bà D1 không có hưởng lợi gì. D1 không biết Huỳnh Hồ Thị T huy động
vốn như thế nào, nhưng khi T mang tiền về giao cho thủ quỹ tên Huỳnh Hồ Thị
D2 (không biết địa chỉ). Sau khi Huỳnh Hồ Thị D2 nhận tiền, bà D2 báo cho
D1 để lập phiếu thu, sau khi lập phiếu thu xong, bà D1 chuyn phiếu thu sang cho
Huỳnh Hồ Thị D2 đề trình kế toán trưởng bà Huỳnh Hồ Thị T lãnh đạo Công ty
ký. Huỳnh Hồ Thị T người lập các Giấy mượn tiền, các stiền thể hiện trên
phiếu thu được lập từ phần mềm kế toán nên được hạch toán đầy đủ vào sổ sách. Theo
05 Giấy mượn tiền nêu trên, chưa có đủ cơ sở để thể hiện Công ty Trách nhiệm hữu
hạn Một thành viên B mượn tiền, khi thể hiện nguồn tiền được Huỳnh Hồ
Thị T huy động vào cho Công ty đều lập phiếu thu cụ thể. Trong quá trình sản xuất
kinh doanh, Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B đôi lúc thiếu hụt nguồn
tin. Huỳnh Hồ Thị T huy động vốn, mượn tiền của ai đcho Công ty Trách nhiệm
hữu hạn Một thành viên B mượn tiền thì D1 không biết. D1 không biết Công
ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B mượn tiền của Nguyễn Thị G hay
không. Con dấu của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B do bphận hành
chính nhân sự quản lý, còn cá nhân nào quản lý con dấu tbà D1 không biết.
*/ Tại phiên tthẩm ngày 05/6/2025, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
ông Nguyễn Thanh Q trình y nội dung: Ông không làm việc tại Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên B, ông làm việc tại Công ty sát bên Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên B và ông chỉ biết ông Trần Đăng K Giám đốc Công
ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B, không có mối quan hệ gì. Ông trực tiếp
chuyển khoản tiền cho bà Nguyễn Thị G G hỏi mượn tiền của ông, sau đó
khoảng một hay hai ngày bà G trả lại cho ông bằng tiền mặt. Nội dung chuyển tiền
ông chỉ để tên ông K với các hiệu viết tắt chứ không liên quan đến ông Trần
Đăng K. Số tiền ông chuyển khoản cho bà G là tiền củanhân ông cho bà Nguyễn
Thị G mượn, không liên quan đến ông Trần Đăng K. Ông có thấy Nguyễn Thị G
đến Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B đòi nợ.
*/ Quá trình giải quyết vụ án, người làm chứng ông Nguyễn Ngọc L trình bày:
Ông vào làm việc tại ng ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B từ cuối năm
6
2015 cho đến nay. Từ khi vào Công ty làm việc cho đến nay, ông làm bảo vệ, nhiệm
vụ sắp xếp xe gọn gàng trông coi xe. Ông Trần Đăng K Giám đốc Công ty,
còn lại ông Nguyễn Thanh P, i Thị Cẩm D, Huỳnh Hồ Thị T, bà Nguyễn Thị
Thúy D1, Huỳnh Hồ Thị D2 làm việc trong Công ty, chức vụ của mỗi người như
thế nào trong Công ty ông không nắm rõ. Trước đây ông không biết Nguyễn Thị
G là ai nhưng sau khi xảy ra sự việc Huỳnh Hồ Thị T bị đình chỉ công tác thì ông
thy Nguyễn Thị G thường xuyên tới tìm Huỳnh HThị T. Ông không
phụ bà Nguyên Thị Gái mang tiền vào trong Công ty nhưng ông trực bảo vệ tại Công
ty có thấy bà Nguyễn Thị G đến Công ty một hay hai lần gì đó, có mang một bì, hay
gói đó vào gặp Huỳnh Hồ Thị T, không mang gì vào đưa cho T. Không
có lần nào bà Nguyễn Thị G nói lên gặp ông Trần Đăng K, bà Nguyễn Thị G chỉ gặp
Huỳnh Hồ Thị T một hay hai lần. Ông có thấy Nguyễn Thị G đến trước Công
ty la ó một hay hai lần nhưng ông không biết Nguyễn Thị G la ó việc gì. Ông
không biết con dấu tròn của Công ty và chữ ký hình dấu Công ty do ai quản lý
nhiệm vụ của ông chỉ bo vệ, trông xe cho Công ty, không tham gia họp Công ty.
Ông không biết bà Huỳnh Hồ Thị T huy động vốn bên ngoài để cho Công ty vay
mượn tiền hay không.
Tại Bản án dân s sơ thẩm số: 13/2025/DS-ST ngày 28/7/2025 của Tòa án nhân
dân khu vc 11 - Đắk Lắk đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều 357, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự; Điều 74 Luật
Doanh nghiệp.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị G,
buộc bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B phải trả cho nguyên đơn
Nguyễn Thị G với tổng số tiền 21.245.761.110 đồng (Trong đó: tiền gốc
15.380.000.000 đồng, tiền lãi là 5.865.761.110 đồng) về khoản vay tài sản.
Kể tngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc k từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu
khoản tiền lãi của stiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều
357, 468 Bộ luật Dân sự.
2. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số
08/2024/QĐ-BPKCTT ngày 26/11/2024 của a án nhân dân thành phố Tuy H
(nay là Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk) để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của
bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G, buộc
ông Trần Đăng K phải liên đới trả nợ cho bà Nguyễn Thị G.
4. Về chi phí giám định: Căn cứ Điều 161 Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn Công
ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B phải chịu chi phi giám định chữ ký số tiền
6.300.000 đồng (đã nộp đủ).
Ngoài ra, bản án thẩm còn quyết định về án phí, tuyên về quyền kháng cáo
quyền yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định pháp luật.
7
Sau khi xét xthẩm, ngày 11/8/2025, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Một thành viên B đơn kháng cáo, với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án thẩm,
đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người đại
diện theo uỷ quyền của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B giữ
nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các bị đơn
trình bày ý kiến, với nội dung: Ông Trần Đăng K xác định Công ty không vay tiền
của Nguyễn Thị G tài liệu về việc vay tiền chỉ do Huỳnh Hồ Thị T xác lập,
nên không sở để xác định Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B vay
tiền của G, bởi vì: Không chữ sống của ông Trần Đăng K trong các giấy
mượn tiền chỉ chữ hình dấu được khắc sẵn; các tài liệu, giao dịch do
Huỳnh Hồ Thị T thực hiện, bản thân ông K không bất cứ giấy tờ liên quan
đến việc vay mượn tiền của G, nên chứng tỏ T đã lợi dụng chức trách được giao
để móc nối, lập các chứng từ vay khống để buộc Công ty chịu trách nhiệm. Do đó,
bản án thẩm buộc Công ty phải trả tiền cho G không đúng không sở
pháp lý, nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án thẩm để điều tra, giải quyết
lại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên a trình bày ý
kiến, với nội dung: Vtố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cũng
như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ đúng các quy
định của pháp luật tố tụng dân sự; về nội dung: Do Tòa án cấp thẩm thu thập chứng
cứ chưa đầy đ nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên B và hủy bản án sơ thẩm. Đại diện Viện kiểm sát đề
nghị: Căn cứ khoản 3 Điều 308 khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Huỷ
toàn bộ Bản ánthẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại
vụ án theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết
quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng
cứ, lời trình bày của các đương sự ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận
định như sau:
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành
viên B, xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Toà án cấp thẩm xác định bà Huỳnh Hồ Thị T (nguyên Kế toán Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B) người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
trong vụ án. Tại cấp sơ thẩm, Toà án cấp sơ thẩm đã làm việc với Huỳnh Hồ Thị
T tại Trại tạm giam C biết T đang chấp hành án theo Bản án phúc thẩm số
575/2023/HS-PT ngày 01/12/2023 của Toà án nhân dân X (nay Toà X2), nhưng
Toà án cấp thẩm không tống đạt các quyết định, thông báo, văn bản tố tụng cho
T tại Trại giam, mà lại niêm yết các văn bản trên tại địa chỉ cư trú là không đúng quy
định tại khoản 2 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng dân sự, làm ảnh hưởng đến quyền
lợi ích hợp pháp của bà T.
8
[1.2] Toà án cấp thẩm xác định bà Bùi Thị Cẩm D người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan trong vụ án, Ủy ban nhân dân phường Tuy Hoà xác định D
không cư trú tại địa chỉ đường N, phường H, tỉnh Đắk Lắk, nên không thực hiện việc
niêm yết. Toà án cấp thẩm không xác minh địa chỉ trú cuối cùng của D để
tiến hành các thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho bà D mà chỉ gửi văn bản cho bà D
qua dịch vụ bưu chính (dịch vụ bưu chính chuyển hoàn tất cả các văn bản đã gửi) là
không đúng quy định tại Điều 177, Điều 179 của B luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của ông Trần
Đăng K Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B đều xác định Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B không vay tiền của bà Nguyễn Thị G. Trong
quá trình điều tra vụ án liên quan đến bà Huỳnh Hồ Thị T, ông Trần Đăng K có thừa
nhận hai lần thông qua T T đưa điện thoại để ông hỏi mượn tiền G
(Bút lục số 913).
Tại Kết luận giám định số 312/KL-KTHS ngày 22/7/2024 của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Phú Yên kết luận các chữ Trần Đăng K trong các Giấy mượn
tiền các ngày 02/10/2019, 24/6/2020, 01/7/2020, 07/7/2020, 30/9/2019, 20/7/2020
27/7/2020 Nguyễn Thị G cung cấp chữ hình dấu, không phải chữ
được ra trực tiếp; chữ Trần Đăng K trong Giấy mượn tiền đngày 14/7/2020
là chữ ký phô tô, không phải chữ ký được ký ra trực tiếp, nên không tiến hành giám
định so sánh.
Còn 06 Giấy mượn tiền đề các ngày 06/02/2020, 19/02/2020, 27/02/2020,
16/12/2019, 07/11/2019 và 06/11/2019 thì ông Nguyễn Thanh P ký. Quá trình giải
quyết vụ án, ông Nguyễn Thanh P không tham gia tố tụng.
Theo bà Huỳnh Hồ Thị T trình bày việc quản thu chi tiền mặt tại Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B từ năm 2019 - 2020 như sau: Đối với những
khoản thu tiền mặt đều lập phiếu thu, khoản chi đều lập phiếu chi, các khoản thu chi
đều ghi rõ, hạch toán cụ thể trong sổ quỹ tiền mặt của Công ty, sổ quỹ được quản lý
trên phần mềm kế toán Misa (Bút lục số 851).
Toà án cấp thẩm căn cứ vào các Phiếu thu số: PT09/30, PT10/03, PT11/13,
PT11/14, PT11/59, PT20.02/3, PT20.02/12, PT20.02/30, PT20.04/15, PT20.06/29,
PT20.07/04, PT20.07/10, PT20.06/10, PT20.06/21, PT20.07/43, PT20.07/15,
PT20.07/42, PT-LS20.07/03, PT20.07/46, PT20.07/50, được thể hiện trong Bảng
số tiền bà Huỳnh Hồ Thị T - Kế toán trưởng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành
viên B thực hiện việc vay trả nợ tiền gốc, lãi của Nguyễn Thị G cho Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B từ năm 2018 đến năm 2020 lập ngày
15/3/2022 (Bút lục số 888 - 901) Bảng kê đối chiếu số tiền các lần bà Nguyễn Thị
G cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B vay nhận tiền gốc, lãi từ
Huỳnh Hồ Thị T - Kế toán trưởng Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên
B từ năm 2019 đến ngày 03/12/2020, lập ngày 04/3/2022 (Bút lục số 774 - 777), được
Toà án thu thập trong quá trình điều tra vụ án hình sliên quan đến bà Huỳnh Hồ Thị
T để xác định việc vay tiền của Công ty Trách nhiệm hữu hạn Mt thành viên B. Tuy
nhiên, tại 02 bảng trên, T và bà G đều xác nhận khoản vay ngày 06/11/2019 với
số tiền 1.000.000.000 đồng đã được trả hết theo Phiếu chi số PC20/05/107 ngày
9
28/5/2020; khoản vay ngày 27/02/2020 chỉ còn nợ gốc 100.000.000 đồng theo Phiếu
chi số PC20/06/02 ngày 03/6/2020 (trả 1.400.000.000 đồng). T xác định khoản
vay 390.000.000 đồng đã được trả hết theo Phiếu chi số PC20/07/13 ngày 03/7/2020,
PC20/07/87 ngày 21/7/2020; khoản vay 100.000.000 đồng theo Phiếu thu số
PT20.07/10 (theo yêu cầu G là 90.000.000 đồng) đã được trả hết ngày 21/7/2020
theo Phiếu chi số PC20/07/87, còn bà G thì không đưa khoản vay này vào đối chiếu
tiền vay. Quá trình giải quyết vụ án này, G lại yêu cầu bị đơn phải trả các khoản
vay ngày 06/11/2019, ngày 01/7/2020, 03/7/2020, toàn bộ khoản vay ngày
27/02/2020. Toà án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào Phiếu thu để chấp nhận toàn bộ yêu
cầu của nguyên đơn chưa xem xét toàn diện các tài liệu chứng ctrong hồ
vụ án. Đồng thời, Toà án cấp thẩm không thu thập các Phiếu thu, Phiếu chi liên
quan đến việc trả gốc và lãi các khoản tiền vay mà bà G khởi kiện là thu thập chứng
cứ chưa đầy đủ.
Ngoài ra, tại Biên bản làm việc ngày 08/8/2022 (Bút lục số 932), Công ty Trách
nhiệm hữu hạn Một thành viên B có cung cấp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh P
Yên, trong đó có: Bảng xác nhận nợ vay ngoài, thời điểm xác nhận ngày 31/12/2018
(bản photo 01 tờ) tài liệu này được lưu trữ tại phòng kế toán Công ty trong thời
gian bà T làm kế toán lưu trữ cho đến nay; Biên bản họp ngày 30/11/2020 tại phòng
ông Hảo (bản photo có 01 tờ), tài liệu này do Ban Giám đốc Công ty tổ chức họp
ghi Biên bản do Phòng Phòng Tổ chức - Hành chính Công ty lưu; Bảng tổng hợp g
trị nợ đến ngày 23/11/2020 bản photo và kèm theo sổ cái tài khoản 34111.8 vay
ngắn hạn khác từ ngày 01/01/2019 đến ngày 23/11/2020, tài liệu này được lưu trữ tại
phòng kế toán Công ty trong thời gian bà T làm kế toán lưu cho đến nay; Báo cáoi
chính năm 2019 năm 2020 in từ phần mềm kế toán của Công ty; Sổ chi tiết i
khoản 3411.8 vay ngắn hạn khác sổ chi tiết tài khoản 6352 chi phí lãi vay năm
2019 và năm 2020 in từ phần mềm kế toán của Công ty do bà T và ông Phương thực
hiện (phần mềm kế toán của Công ty có tên gọi là CADS đã cài đặt sử dụng từ tháng
01 năm 2019 đến nay).
Như vậy, Toà án cấp sơ thẩm không thu thập các tài liệu trên để từ đó có căn cứ
xác định Huỳnh Hồ Thị T đưa số tiền vay của Nguyễn Thị G vào quỹ của
Công ty hay không? Công ty quản lý, sử dụng nguồn tiền vay của G vào các
hoạt động của Công ty hay không? Công ty sdụng tiền của mình đtrả lãi cho
bà G hay không, là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ.
[2.2] Về tuyên lãi, lãi suất: Toà án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải có nghĩa vtrả
tiền lãi đối với số tiền vay nhưng lại tuyên “Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật
(đối với các trường hợp quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành
án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong,
bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự” là không đúng với quy
định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng
Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp
luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
[3] Từ các nhận định như trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng Tòa án cấp
sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ chưa đầy đủ
10
cấp phúc thẩm không thể bổ sung, khắc phục được. Do đó, Hội đồng xét xử phúc
thẩm cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Một thành viên B, hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2025/DS-ST ngày
28/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk, giao hồ vụ án cho Tòa án
cấp thẩm thụ lý, giải quyết lại theo thủ tục chung, phù hợp với quy định của
pháp luật.
[4] Về chi phí giám định: Do hủy bản án sơ thẩm nên chi phí tố tụng sẽ được x
lý khi giải quyết lại vụ án.
[5] Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2024/QĐ-BPKCTT
ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà (nay a án nhân dân
khu vực 11 - Đắk Lắk) đã hiệu lực pháp luật việc giải quyết yêu cầu hủy bỏ
quyết định này được thực hiện theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[6] Về án phí:
[6.1] Án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ được xử lý khi giải quyết lại vụ án.
[6.2] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận một phần và hủy
bản án thẩm nên bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên B không
phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 3 Điều 148, khoản 3 Điều 308 khoản 1 Điu 310 của Bộ luật Tố tụng
dân sự.
Áp dụng Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Tng vụ Quốc hội quy định vmức thu, min, gim, thu, nộp quản sử dng
án phí lp Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một
thành viên B.
Tuyên xử:
1. Huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 13/2025/DS-ST ngày 28/7/2025 của
Tòa án nhân dân khu vực 11 - Đắk Lắk chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân
khu vực 11 - Đắk Lắk giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
2. Về chi phí giám định: Sẽ được xử khi giải quyết lại vụ án.
3. Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 08/2024/QĐ-BPKCTT
ngày 26/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà (nay a án nhân dân
khu vực 11 - Đắk Lắk) đã hiệu lực pháp luật việc giải quyết yêu cầu hủy bỏ
quyết định này được thực hiện theo quy định tại Điều 138 Bộ luật Tố tụng dân sự.
4. Về án phí:
4.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Sẽ được quyết định khi giải quyết lại vụ án.
4.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành
viên B không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được hoàn lại số tiền 300.000 đồng
(ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp ti Phòng Thi hành án dân sự khu vực M,
tỉnh Đắk Lắk theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án s AA/2023/0009171
ngày 13/8/2025.
11
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND tối cao;
- VKSND tỉnh Đắk Lắk;
- THADS tỉnh Đắk Lắk;
- TAND khu vực 11- Đắk Lắk;
- VKSND khu vực 11- Đắk Lắk;
- Phòng THADS khu vực M, tỉnh Đắk
Lắk;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Trương Công Bình
Tải về
Bản án số 156/2026/DS-PT Bản án số 156/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 156/2026/DS-PT Bản án số 156/2026/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất