Bản án số 1353/2026/DS-PT ngày 14/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 1353/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 1353/2026/DS-PT ngày 14/07/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 1353/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 14/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 1353/2026/DS-PT Bản án số 1353/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1353/2026/DS-PT Bản án số 1353/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 1353/2026/DS-PT
Ngày: 14 7 2026
V/v Tranh chấp hợp đồng vay
tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Châu Kim Anh
Các Thẩm phán:
ông Bùi Hữu Nhân
ông Phan Nguyên Nguyên
- Thư phiên tòa: Thị Thu Thủy - Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 6 và ngày 7, ngày 14 tháng 7 năm 2026 tại Phòng xử
án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án
Dân sự thụ số 651/2026/TLPT-DS, ngày 06 tháng 4 năm 2026 v việc: “Tranh
chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 99/2026/DS-ST, ngày 28 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3788/2026/QĐ-PT, ngày
10 tháng 6 năm 2026 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:
- Nguyên đơn:Trn Ngc D, sinh năm 1989.
Địa ch: p T, th trn C, xã C, Thành ph Cần Thơ.
Người đại din theo y quyn ca bà Trn Ngc D:
ông Chu Văn T, sinh năm 1989.
ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1983.
Địa ch: S D đường T, phường A (phưng B, quận B cũ), Thành phố H Chí
Minh. (theo Giy y quyn s công chng 000932, Quyn s 02/2024/TP/CC-
SCC/HĐGD, ngày 06/02/2024 lập ti Văn phòng C).
2
- B đơn:Trn Th K, sinh năm 1958.
Địa ch: S C đường T, phường B, Thành ph H Chí Minh.
Người đại din theo y quyn ca bà Trn Th K:
ông T Minh Q, sinh năm 1996.
Địa ch: S F đường N, phường A (Phường G, Quận E cũ), Thành phố H Chí
Minh. (theo Hợp đồng u quyn s công chng 003497, quyn s 05/2024 TP/CC-
SCC/HĐGD, ngày 03/5/2025 lập ti Văn phòng C1).
- Người bo v quyn và li ích hp pháp cho bà Trn Th K:
Luật sư ông Hunh Phi L Văn phòng Luật sư Quốc Lut thuc Đoàn Luật sư
Thành ph H.
Địa ch: S F đường N, phường A (Phường G, Quận E cũ), Thành phố H Chí
Minh.
Do có kháng cáo của nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên
đơn trình bày:
Tháng 03/2022, do cần tiền để giải quyết công việc riêng nên bị đơn đề nghị
vay số tiền 1.020.000.000 đồng (một tỷ không trăm hai ơi triệu đồng) cả
nguyên đơn. Bị đơn là mẹ chồng của nguyên đơn.
Ngày 24/03/2022, nguyên đơn đã giao đủ số tiền 1.020.000.000 đồng (một tỷ
không trăm hai mươi triệu đồng), hai bên thỏa thuận và đồng ý thời hạn vay 20
tháng kể từ ngày nhận đủ tiền vay (thời hạn trả nợ vào ngày 24/11/2023) và lãi suất
mỗi tháng 1%/tháng. Hai bên lập “Giấy vay tiền”, nhưng do nguyên đơn học
thức kém nên đã ghi nhầm số tiền thành “120.000.000.000”.
Tài sản thế chấp là nhà đất tại thửa đất số 623, tờ bản đồ số 122 tại địa chỉ
304/13 Tỉnh Lộ 10, khu phố A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay
là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). Bị đơn có cam kết “sẽ gửi tiền lãi, nếu quá
20 tháng K không thanh toán tiền lãi thì D quyền thanh tài sản thế
chấp”. Bị đơn bàn giao cho nguyên đơn bản sao Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà tài sản gắn liền với đất để làm tin. Hiện nay, bị
đơn đang trực tiếp giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
Ngày 24/11/2023, đến hạn trả nợ nhưng bị đơn không trả. Ngày 06/02/2024,
nguyên đơn đã gửi thông báo yêu cầu trả nợ đến bị đơn. Tính đến nay đã đủ 30
3
ngày kể tngày bị đơn nhận được Thông báo yêu cầu trả nợ nhưng vẫn tránh
không trả tiền.
Vì vậy, nguyên đơn đề nghị Toà án giải quyết yêu cầu sau:
1. T1 buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền vay
1.020.000.000 đồng (Một tỷ không trăm hai mươi triệu đồng).
2. Buộc bđơn phải trả số tiền lãi suất hai bên đã thỏa thuận nêu trên tạm
tính từ ngày 24/03/2022 đến ngày 24/01/2024 (tức 22 tháng) là: 1.020.000.000
đồng (Một tỷ không trăm hai mươi triệu) đồng x 22 tháng x 1% = 224.000.000
đồng (Hai trăm bốn mươi bốn triệu).
Tổng cộng số tiền bị đơn phải trả là: 1.244.000.000 đồng (một tỷ hai trăm bốn
mươi bốn triệu). Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả toàn bộ số tiền nêu trên một
lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn Trn Th K người đại din theo u quyn ông T Minh Q
trình bày:
Trước đây, bị đơn có vay tiền của nguyên đơn tuy nhiên việc vay tiền chỉ thực
hiện bằng lời nói chứ không thông qua văn bản. Chỉ tồn tại 3 lần vay tiền là hai lần
100.000.000 đồng, một lần 90.000.000 đồng tổng cộng 290,000,000 đồng
không lập văn bản. Bị đơn nhờ cháu nội Sỹ Toàn H trả lãi trả gốc số tiền
210.000.000 đồng bằng việc chuyển tiền qua ngân hàng cho ông Trần Ngọc S, em
ruột nguyên đơn. Nay chỉ còn nợ số tiền 80,000,000 đồng. Không đồng ý với yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Thứ nhất, toàn bộ chữ viết chữ tại Giấy vay tiền nguyên đơn cung
cấp cho Tòa án không phải chữ chữ viết của bị đơn, vốn người
Hoa vốn không rành Tiếng Việt, chỉ thể viết tên khi nhìn chữ sẵn chứ không
thể tự viết nên chữ viết và chữ ký ở Giấy vay tiền này là giả mạo.
Thứ hai, vào ngày 23/3/2022, 24/3/2022 và ngày 25/3/2022 bị đơn đã trả cho
nguyên đơn tổng cộng số tiền 210.000.000 đồng tiền gốc đối với khoản vay
290.000.000 đồng của nguyên đơn. Vậy thì không thể xảy ra việc bị đơn tiếp tục
vay số tiền vào ngày 22/2/2022 hoặc ngày 24/3/2022 mâu thuẫn không
sở. nếu bị đơn vay số tiền 1.020.000.000 đồng vào ngày 22/2/2022 thì tại sao
không cộng dồn số tiền đã vay trước đó. Hay nếu là ngày 24/3/2022, là ngày bị đơn
trả 210.000.000 đồng, thì tại sao không trừ số tiền này.
Tại Bản án dân sự thẩm số 99/2026/DS-ST, ngày 28 tháng 01 năm 2026
của Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
4
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn
thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ gốc, trả lãi chậm trả theo 02 giấy vay tiền đề ngày
“24/3/2022 AL”, ngày “22/02/2022 DL” thông tin địa chỉ của bị đơn là: 304/13
Tỉnh Lộ 10, nơi cấp CMND của bà Trần Ngọc D tại Thành phố Cần Thơ; Giấy vay
tiền đề ngày 24/3/2022 AL, ngày 22/02/2022 DL thông tin địa chỉ của bà Trần
Thị K là: 304/13 Tỉnh L10, phường B, nơi cấp CMND của Trần Ngọc D tại
Thành phố Hồ Chí Minh, nội dung người làm chứng tên V Giấy biếu tặng
tiền” đề ngày 25/11/2023 AL. Số tiền không được chấp nhận gồm 1.020.000.000
đồng (một tỷ không trăm hai mươi triệu đồng) ngốc số tiền lãi 469.200.000
đồng (bốn trăm sáu mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng), tổng cộng là:
1.489.200.000 đồng (một tỷ bốn trăm tám mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng).
Chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu 10.960.500 đồng (mười triệu chín trăm
sáu mươi nghìn năm trăm đồng) chi phí giám định chữ ký, chữ viết. Nguyên đơn
đã tạm ng 4.627.500 đồng (bốn triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn năm tm
đồng) phải hoàn trả cho bị đơn số tiền 6.333.000 đồng (sáu triệu ba trăm ba
mươi ba nghìn đồng) chi phí giám định chữ ký, chữ viết.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015.
Án phí dân sự thẩm: Nguyên đơn phải nộp 56.676.000 đồng (năm mươi
sáu triệu sáu trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự thẩm, được cấn trừ
vào số tiền 24.660.000 đồng (hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng)
tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0012283 ngày
20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí
Minh (nay là Thi hành án dân sự Thành phố H). Nguyên đơn còn phải nộp
32.016.000 đồng (ba mươi hai triệu không trăm mười sáu nghìn đồng) án phí dân
sự sơ thẩm.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo.
Ngày 03/02/2026, nguyên đơn đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án
thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn ginguyên yêu cấu khởi kiện, giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Căn cứ cho yêu cầu kháng cáo là bị đơn cũng thừa nhận có việc vay mượn tiền của
5
nguyên đơn. Nhưng nêu đã trả tiền nhưng không căn cứ để chứng minh. Tại 2
kết luận giám định đều xác định bị đơn ký và viết họ tên. Riêng giám đính cuối xác
định chviết đã nhận đủ tiền do bị đơn viết. Bị đơn người cung cấp hợp đồng
vay tiền ngày 30/10/2018 hợp đồng ủy quyền. Đối với khoản tiền bị đơn thừa
nhận có vay mượn bằng lời nói, không liên quan trong vụ án này. Đại diện nguyên
đơn tại phiên tòa tự nguyện rút lại yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu trả lại số tiền
1.020.000.000 đồng.
Bị đơn, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn với lý do giấy
vay mượn tiền là giả mạo.
Hai bên đương sự không tự thỏa thuận với nhau về việc giài quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến
của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án
giai đoạn phúc thẩm:
V t tng: Thm phán, Hội đồng xét x thc hiện đúng quy định của Bộ
lut T tụng dân sự, đảm bảo cho các đương sự có các quyền và nghĩa vụ theo quy
định; gửi các Quyết định, Thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự đầy
đủ, đúng thời hạn. Hội đồng xét xử đúng thành phần, phiên tòa diễn ra theo đúng
trình tự và quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ trình bày
của các đương sự tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử sửa ánthẩm chấp nhận
1 phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, do bị đơn thừa nhận 1 phần khoản
nợ 290,000,000 đồng, nêu đã trả nhưng không đưa ra được chứng cứ để chứng
minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm
nhận định:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của nguyên đơn được làm trong thời hạn
luật định, phù hợp với quy định tại Điều 271, Điều 272 Điều 273 Bộ luật Tố
tụng dân sự năm 2015, đđiều kiện để được xem xét kháng cáo theo trình tự phúc
thẩm.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử
phúc thẩm cần đặt ra là xem xét 02 “Giấy vay tiền” ngày 24/3/2022 “Giấy biếu
tặng tiền” ngày 25/11/2023 âm lịch, do nguyên đơn cung cấp để làm căn cứ xem
xét yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
6
[2.1] Xét 02 “Giấy vay tiền” ngày 24/3/2022, nội dung của cả hai Giấy vay
tiền đều việc tẩy xóa, như sau: không xác định được số tiền nguyên thủy trước
khi bị sửa chữa. Không đủ sở kết luận các cụm chữ chữ số thể hiện số tiền
“120.000.000.000”, “Một tỷ hai chục triệu”, “1 tỷ 20 triệu”, “9 con số không” được
viết cùng thời điểm hay nội dung được viết thêm. Một số chữ số “0” trong dãy
số thể hiện số tiền vay được xác định viết thêm, nhưng không xác định được nội
dung ban đầu. Ngoài ra, không đủ cơ sở kết luận các nội dung về lãi suất
1%/tháng, thời hạn vay 20 tháng nghĩa vtrả đủ 1.020.000.000 đồng được lập
đồng thời với chữ ký của bị đơn.
[2.2] Xét “Giấy biếu tặng tiền” ngày 25/11/2023 âm lịch. Căn cứ Kết luận
giám định số 388/KL-KTHS ngày 05/9/2025 và Kết luận giám định lại số 356/KL-
KTHS ngày 02/12/2025 đều thống nhất xác định rằng các nội dung thể hiện nghĩa
vụ nợ 1.020.000.000 đồng, bao gồm các cụm chữ “1 tỷ, 20 triệu”, “nợ 1 tỷ, 20 triệu
gốc”, “Giấy này giá trị khi K trả đủ 1 tỷ, 20 triệu”, “còn nợ 1 tỷ, 20 triệu
gốc”, các chữ, số được viết thêm, không được viết ng thời điểm với các nội
dung khác trên văn bản. Ngoài ra, chsố “3” trong phần ghi ngày tháng đã bị
chỉnh sửa, nội dung nguyên thủy là số “2”. Do đó, “Giấy biếu tặng tiền” không th
được xem là căn cứ hợp pháp để xác định nghĩa vụ trả nợ của bị đơn
[2.3]. Những mâu thuẫn trong lời khai và biên bản đối chất giữa các bên, lời
trình bày tranh luận của các đương sự tại phiên tòa. Nguyên đơn xác định việc
cho vay 1.020.000.000 đồng chỉ thực hiện một lần, nhưng không xuất trình được
chứng cứ v nguồn tiền, phương thức giao nhận tiền, không chứng t ngân
hàng. Người làm chứng tên “V” được ghi trong giấy vay tiền không xác định được
đầy đủ họ tên, địa chỉ, mối quan hệ; chính nguyên đơn cũng không cung cấp được
thông tin nhân thân cụ thể, trong khi bị đơn phủ nhận việc có người làm chứng như
trình bày của nguyên đơn. Nguyên đơn thừa nhận toàn bộ nội dung trong giấy vay
tiền chủ yếu do D tự ghi (trong đó nội dung quan trọng nhất của hợp đồng
vay tài sản số tiền vay, thời hạn vay, lãi suất vay đều do chính nguyên đơn ghi),
bị đơn chỉ tên, ghi họ tên, nội dung “đã nhận đủ tiền” hay “đã nhận tiền”
cũng không phải chữ viết của bị đơn, căn cứ các bản kết luận giám định chỉ xác
định được chữ tên “Kiếu Trần Thị K” cùng một người ra đúng
theo chữ ký mà bị đơn cung cấp cho cơ quan giám định.
[2.4] Về nội dung thế chấp tài sản: Nguyên đơn cho rằng bị đơn thế chấp
bản sao giấy chứng nhận nhà đất để làm tin cho việc vay tiền nhưng trong 02 giấy
vay tiền, nội dung liên quan đến thế chấp (từ dòng “Tôi đưa” đến các dòng “Để
làm tài sản thế chấp” đến hết nội dung “chịu hoàn toàn trách nhiệm) đều được
7
nguyên đơn ghi nội dung liên quan đến việc đưa cho bị đơn mượn số tiền vay, lãi
suất vay thời hạn vay, tuy nhiên, những nội dung này lại không được bị đơn
thừa nhận.
[2.5] Nghĩa vụ chứng minh thông qua thủ tục đối chất do quá nhiều mâu
thuẫn nhưng trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án cấp thẩm đã triệu tập
nguyên đơn đến Tòa để đối chất với bị đơn. Nguyên đơn là người trong cuộc, nắm
nhất sự việc, lẽ ra nguyên đơn phải trực tiếp đối chất với bị đơn nhưng nguyên
đơn lại không có mặt, để người đại diện theo ủy quyền của mình tham gia đối chất.
Tòa án cũng yêu cầu nguyên đơn cung cấp giọng nói để thực hiện việc giám định
nhưng nguyên đơn cũng không cung cấp để làm sáng tỏ nội dung, sự thật khách
quan của vụ án.
[2.6] Từ các phân tích nêu trên, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận toàn
bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên
quyết định của bản án thẩm, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên
đơn.
[3] Đối với số tiền 290.000.000 đồng bị đơn thừa nhận vay của nguyên
đơn. Nhưng việc giao nhận số tiền bị đơn cho rằng đã trả 210.000.000 đồng
nhưng người giao người nhận không phải bị đơn. Ngoài ra nguyên đơn nêu số
tiền vay 290 triệu không liên quan đến số tiền trong giấy vay tr0ong vụ án này. Do
đó Hội đồng xét xử không xem xét, nguyên đơn được quyền khởi kiện bằng vụ án
khác khi có yêu cầu.
[4]Án pdân sự phúc thẩm nguyên đơn phải chịu, do không được chấp nhận
yêu cầu kháng cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ điểm d Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 99/2026/DS-ST, ngày 28 tháng 01 năm
2026 của Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh, không chấp nhận
kháng cáo của nguyên đơn, tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn
thực hiện nghĩa vụ trả tiền nợ gốc, trả lãi chậm trả theo 02 giấy vay tiền đề ngày
“24/3/2022 AL”, ngày “22/02/2022 DL” có thông tin địa chỉ của Trần Thị K là:
8
304/13 Tỉnh Lộ 10, nơi cấp CMND của Trần Ngọc D tại Thành phố Cần Thơ;
Giấy vay tiền đề ngày 24/3/2022 AL, ngày 22/02/2022 DL có thông tin địa chỉ của
Trần Thị K là: 304/13 Tỉnh Lộ 10, phường B, nơi cấp CMND của bà Trần Ngọc
D tại Thành phố Hồ Chí Minh, nội dung người làm chứng tên V và Giấy biếu
tặng tiền” đề ngày 25/11/2023 AL. Số tiền không được chấp nhận gồm
1.020.000.000 đồng (một tỷ không trăm hai mươi triệu đồng) nợ gốc số tiền lãi
469.200.000 đồng (bốn trăm sáu mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng), tổng cộng
là: 1.489.200.000 đồng (một tỷ bốn trăm tám mươi chín triệu hai trăm nghìn đồng).
2. Chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu 10.960.500 đồng (mười triệu chín
trăm sáu mươi nghìn năm trăm đồng) chi phí giám định chữ ký, chữ viết. Nguyên
đơn đã tạm ứng 4.627.500 đồng (bốn triệu sáu trăm hai mươi bảy nghìn năm trăm
đồng) phải hoàn trả cho bị đơn số tiền 6.333.000 đồng (sáu triệu ba trăm ba
mươi ba nghìn đồng) chi phí giám định chữ ký, chữ viết.
Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về án phí:
Án phí sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp 56.676.000 đồng (năm mươi sáu triệu
sáu trăm bảy mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được cấn trừ vào số tiền
24.660.000 đồng (hai mươi bốn triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) tạm ứng án
phí nguyên đơn đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0012283 ngày 20/3/2024 của Chi
cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (nay Thi hành
án dân sự Thành phố H). Nguyên đơn còn phải nộp 32.016.000 đồng (ba mươi hai
triệu không trăm mười sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu, được cấn trừ số tiền 300.000 đồng
tạm nộp theo Biên lai thu số 0010707, ngày 05/2/2026 của Thi hành án dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã thi hành xong án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
9
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
- TAND Khu vực 9, TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND Cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh;
- VKSND TP. Hồ Chí Minh;
- THADS TP. Hồ Chí Minh;
- Phòng THADS Khu vực 9, TP.Hồ Chí
Minh;
- Đương sự (để thi hành);
- Lưu: VT, HSVA. 20b
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 1353/2026/DS-PT Bản án số 1353/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 1353/2026/DS-PT Bản án số 1353/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất