Bản án số 770/2026/DS-PT ngày 17/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 770/2026/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 770/2026/DS-PT ngày 17/07/2026 của TAND TP. Cần Thơ về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 770/2026/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 17/07/2026
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Không nhận kháng cáo của bị đơn ông Lê Văn N, bà Trần Thị N1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 770/2026/DS-PT Bản án số 770/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 770/2026/DS-PT Bản án số 770/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN T Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 770/2026/DS-PT
Ngày: 17 7 2026
V/v “Tranh chấp về thực hiện
nghĩa vụ trả tiền”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trang
Các thẩm phán: Bà Trần Thị Thanh Giang
Bà Đào Thị Thủy
- Thư phiên tòa: Phạm Thị Thúy Thẩm tra viên Tòa án nhân n
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Nguyễn Xuân
Lộc - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân n thành phố Cần Thơ
xét xử công khai vụ án thụ lý số 936/2026/TLPT-DS ngày 17 tháng 6 năm 2026 về
việc “Tranh chấp về thực hiện nghĩa vụ trả tiền”.
Do Bản án dân sự thẩm số 100/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026
của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1010/2026/QĐ-PT ngày
18 tháng 6 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: 1. Ông Huỳnh Phú L, sinh năm 1954;
2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960;
Cùng trú tại: Khu V, phường T, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh
năm 1980 (Có mặt).
Trú tại: Khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ.
- Bị đơn: 1. Ông Văn N, sinh năm 1960 (Có mặt).
2. Bà Trần Thị N1, sinh năm 1962 (Có mặt).
Cùng trú tại: Khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
1. Ông Huỳnh Phú H1, sinh năm 1979 (Vng mt).
2. Bà Lê Thị V, sinh năm 1986 (Có mặt).
Cùng trú tại: Khu vực T, phường T, Thành phố Cần T.
Do có kháng cáo của ông Lê Văn N, bà Trần Thị N1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ
thẩm người đại diện theo uquyền của nguyên đơn vợ chồng ông Huỳnh Phú L,
Nguyễn Thị H Nguyễn Thị Mỹ L1 trình bày:
Vợ chồng ông Huỳnh PL, Nguyễn Thị H mối quan hệ sui gia với
vợ chồng ông Lê Văn N, bà Trần Thị N1. Nguyên vào năm 2005, vợ chồng ông L,
H được vợ chồng ông N, bà N1 cho ở nhờ trên phần đất với diện tích 40m
2
, đất
tọa lạc khu vực T, phường T, thành phố Cần Thơ. Hiện trạng phần đất mương,
hào nên vợ chồng ông L, H tự bồi đắp thành nền nhà cất căn nhà tiền chế
kích thước chiều ngang 4m, chiều dài 10m để sinh sống. Tại thời điểm đó, vợ
chồng ông N, N1 viết giấy tay hứa cho vchồng ông L nhờ trên phần đất
này đến cuối đời. Đến năm 2025, vợ chồng ông N, bà N1 quyết định bán một phần
đất (phần đất của vợ chồng ông L, H đang nhờ) nbếp yêu cầu vợ
chồng ông L, bà H tháo dỡ, di dời tài sản trên đất. Sau đó, vợ chồng ông N, N1
thay đổi ý yêu cầu vợ chồng ông L, H tháo dỡ, di dời căn nhà để trả toàn bộ
phần đất ở nhờ. Khi đó, hai bên xảy ra tranh chấp và vợ chồng ông L, bà H gởi đơn
ra chính quyền địa phương giải quyết. Ngày 20/11/2025, Tổ hòa giải khu vực T,
phường T tiến hành hoà giải vụ việc. Nội dung giải quyết, vợ chồng ông N, N1
có hứa nếu vợ chồng ông L, bà H tháo dỡ, di dời nhà trả lại toàn bộ phần đất ở nhờ
thì vợ chồng ông N, N1 đồng ý hỗ trợ số tiền 100.000.000 đồng (chi phí di dời
tài sản).
Đến ngày 16/12/2025, vợ chồng ông L, H đã tháo dỡ, di dời toàn bộ tài
sản để trả lại phần đất nhờ nhưng vợ chồng ông N, N1 không thực hiện đúng
như cam kết là trả tiền hỗ trợ chi phí di dời tài sản. Vợ chồng ông L, bà H đã nhiều
lần đến gặp vchồng ông N, N1 để yêu cầu nhưng vợ chồng ông N, N1
không giao trả số tiền trên trốn tránh, xua đuổi, xúc phạm danh dự vợ chồng
ông L, H trước mặt nhiều người. Việc vợ chồng ông N, N1 không thực hiện
đúng như lời hứa đã gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của vợ chồng
ông L.
Nay vợ chồng ông L, H yêu cầu vợ chồng ông N, N1 cùng trách
nhiệm liên đới trả số tiền hỗ trợ chi phí di dời tài sản là 100.000.000 đồng.
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vợ chồng ông
Văn N, bà Trần Thị N1 thống nhất trình bày:
3
Do mối quan hệ sui gia với nhau nên vào năm 2005, thấy vợ chồng ông
L, H khó khăn về chỗ nên vợ chồng ông N, N1 cho vợ chồng ông L, H
cất căn nhà nhờ trên đất mình và không lấy tiền cho thuê đất. Tháng 11/2025, vợ
chồng ông N, N1 nhu cầu cần bán đất nên làm đơn gởi đến khu vực T 2
giải quyết về việc yêu cầu vợ chồng ông L, H tháo dỡ, di dời tài sản để trả lại
phần đất ở nhờ. Tại buổi hòa giải, hai bên thoả thuận, vợ chồng ông L, bà H đồng ý
tháo dỡ, di dời tài sản, trả lại đất nhờ thời gian di dời 02 tháng. Vợ chồng
ông N, bà N1 thống nhất hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời tài sản với số là 100.000.000
đồng và khi nào vợ chồng ông L, bà H di dời tài sản xong thì sẽ giao tiền trên.
Ngày 16/11/2025, sau khi di dời tài sản xong, vợ chồng ông N, N1 ra khu
vực T để giao tiền trên cho vợ chồng ông L thì phát hiện vợ chồng ông L, H đã
gởi đơn (đơn đề ngày 13/11/2025) đến khu vực T giải quyết với nội dung cho
rằng vợ chồng ông N, N1 ý đồ không giao số tiền trên. Vợ chồng ông N,
N1 nhận thấy vợ chồng ông L, bà H làm như vậy không đúng. Trường hợp
không giao tiền, vợ chồng ông L, bà H qua gặp vợ chồng ông N để hai bên thương
lượng giải quyết nhưng lại đưa sự việc ra Tổ hoà giải khu vực T giải quyết. Việc
vợ chồng ông L, H nộp đơn ra địa phương để yêu cầu giải quyết đã làm nh
hưởng đến danh dự, uy tín, nghi ngờ lòng tốt, phủi sạch nghĩa tình vợ chồng
ông N đã cho nhờ trên đất. Đến nay, vợ chồng ông L, bà H lại tiếp tục nộp khởi
kiện vợ chồng ông ra Toà án giải quyết. Ý kiến vchồng ông N, N1 đất này
gia đình ông, đứng tên chủ sdụng. Do nhu cầu sử dụng đất nên lấy đất lại
yêu cầu vợ chồng ông L, H phải trách nhiệm tháo dỡ, di dời tài sản trả
đất.
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vợ chồng ông N, bà N1 không đồng
ý trả số tiền hỗ trợ là 100.000.000 đồng (chi phí di dời tài sản).
* Theo bản tự khai quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa
thẩm người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng ông Huỳnh Phú H1,
Thị V thống nhất trình bày:
Vợ chồng ông H1, V mối quan hệ con ruột nguyên đơn, bị đơn như
sau: Ông H1 là con ruột vợ chồng ông L, bà H; bà V con ruột của vợ chồng ông N,
N1 và giữa nguyên đơn với bị đơn có mối quan hệ sui gia với nhau.
Vào năm 2005, do thấy vợ chồng ông L, bà H gặp khó khăn về chỗ ở nên vợ
chồng ông N, N1 cho vợ chồng ông L nhờ trên phần đất của mình. Tháng
11/2025, vchồng ông N, N1 cần bán đất nên vợ chồng ông N, bà N1 làm
đơn nhờ Tổ hoà giải khu vực T giải quyết yêu cầu vợ chồng ông L, H di dời
tài sản đi nơi khác đtrả lại đất nhờ. Vợ chồng ông N, bà N1 hứa hỗ trợ chi phí
di dời tài sản với số tiền 100.000.000 đồng (thể hiện tại biên bản hòa giải sở tại
khu vực T). Ngày 16/11/2025, vợ chồng ông L, H di dời tài sản xong, vợ chồng
ông N, N1 ra khu vực T 2 để giao số tiền trên thì phát hiện vợ chồng ông L,
4
H đã viết đơn ngày 13/11/2025 trình khu vực T, nội dung đơn thhiện, vợ chồng
ông N, bà N1 có ý định là không giao số tiền trên.
Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vợ chồng ông H1, bà V không có ý kiến và
yêu cầu gì khác.
* Tại Bản án thẩm số 100/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm 2026 của Tòa án
nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ xét xử và quyết định như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Huỳnh Phú L,
Nguyễn Thị H đối với bị đơn vợ chồng Văn N, bà Trần Thị N1 về việc yêu
cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Buộc bị đơn vợ chồng ông N, bà N1 cùng trách nhiệm liên đới trả cho
nguyên đơn vchồng ông L, Hằng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu
đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi chậm thi hành án, án phí dân squyền
kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 03 tháng 4 năm 2026: ông N, N1 kháng cáo yêu cầu Toà án cấp
phúc thẩm sửa án thẩm theo hướng giảm mức nghĩa vụ thanh toán xuống còn
50.000.000 đồng phù hợp với điều kiện thực tế hoặc xem xét lại bản chất vụ việc
theo hướng quan hệ hỗ trợ dân sự, không phải bồi thường thiệt hại để đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị đơn vẫn giữ yêu cầu kháng cáo cho rằng do hoàn cảnh hiện nay
khó khăn phải cho con tiền trả nnuôi các cháu nên không còn tiền để giao trả
cho các nguyên đơn. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án thẩm theo hướng giảm mức
nghĩa vụ thanh toán xuống còn 50.000.000 đồng.
- Nguyên đơn: không đồng ý kháng cáo yêu cầu giữ nguyên bản án
thẩm.
- Bà Lê Thị V : thống nhất ý kiến của bị đơn.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng, tkhi thụ đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng
xét xử, Thư ký, đương sự đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự
Về nội dung: Nguyên đơn và bị đơn thống nhất về số tiền phải thực hiện
nghĩa vụ một bên giao trả đất, một bên hỗ trợ tiền. Nay các bị đơn đề nghị giảm số
tiền hỗ trợ đã thỏa thuận còn ½. Nguyên đơn không đồng ý nên không có căn cứ để
ghi nhận. Các bị đơn kháng cáo nhưng không đưa ra thêm chứng cứ mới nên
không có cơ sở để xem xét đánh giá lại.
5
Đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không
chấp nhận kháng cáo của các bị đơn: Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội
đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử thẩm, các bị đơn đơn kháng cáo đúng
theo quy định tại c Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc
trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí nên được xem là hợp lệ được chấp
nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Để xét kháng cáo, cần đánh giá khách quan toàn diện nội dung, cần
thiết phải xem xét lại toàn bộ hồ các bên đã thực hiện đối chiếu với quy định
của pháp luật. Lần lượt phân tích từng vấn đề liên quan:
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và lồng ghép với kháng cáo của bị
đơn.
[3.1] Căn cứ vào Biên bản hoà giải ngày 20/11/2025 lời thừa nhận của
các đương sthể hiện: Vào năm 2005, vợ chồng ông L, H được vợ chồng ông
N, bà N1 cho ở nhờ trên phần đất diện tích 40m
2
, đất tọa lạc khu vực T, phường T,
thành phố Cần Thơ. Hiện trạng phần đất lúc đó là mương, hào nên vợ chồng ông L,
H tự bồi đắp nền nhà cất căn nhà tiền chế kích thước chiều ngang 4m,
chiều dài 10m để sinh sống.
[3.2] Đến năm 2025, vợ chồng ông N, N1 quyết định bán một phần đất
của mình (trong đó có phần đất cho ở nhờ) và yêu cầu vợ chồng ông L, bà H di dời
toàn bộ tài sản và trả lại đất nhờ. Hai bên phát sinh tranh chấp và được Tổ hòa
giải cơ sở khu vực T, phường T giải quyết vào ngày 20/11/2025.
[3.3] Nội dung giải quyết, hai bên thoả thuận, nếu vợ chồng ông L, H
tháo dỡ, di dời căn nhà trả đất nhờ thì vợ chồng ông N, N1 đồng ý hỗ trợ
chi phí di dời với số tiền 100.000.000 đồng. Việc thoả thuận này được hai bên
đồng ý thể hiện trong Biên bản hoà giải sở ngày 20/11/2025. Đến ngày
16/12/2025, vợ chồng ông L, bà H đã tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản và trả lại đất ở
nhờ xong. Khi nhận lại đất, vợ chồng ông N, N1 không thực hiện đúng cam kết
là trả tiền hỗ trợ chi phí di dời tài sản trên.
[3.4] Căn cứ tại Điều 116; Điều 274; Điều 280 của Bộ luật Dân sự: Đối
chiếu các quy định trên, trong trường hợp này, bị đơn vợ chồng ông N, bà N1 đã
thoả thuận với vợ chồng ông L, H yêu cầu vợ chồng ông L, H tháo dỡ, di
dời tài sản và trả lại phần đất nhờ cam kết hỗ trợ chi pdi dời tài sản với số
tiền 100.000.000 đồng, đây việc thoả thuận giữa các bên điều kiện. Nvậy,
6
tại thời điểm hai bên thoả thuận thì quyền và nghĩa vụ của các bên đã phát sinh. Sự
thoả thuận này thể hiện sự ràng buộc trách nhiệm giữa các bên. Tuy nhiên, khi vợ
chồng ông L, H đã di dời tài sản trả lại phần đất nhờ xong nhưng phía vợ
chồng ông N, N1 không thực hiện nghĩa vụ giao tiền. Do đó, vợ chồng ông N,
N1 đã vi phạm nghĩa vụ dân sự đối với nguyên đơn.
Tòa án sơ thẩm tuyên buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền là có căn cứ để
chấp nhận nên cần giữ nguyên bản án đã tuyên.
[4]. Nay các bị đơn đề nghị giảm số tiền hỗ trợ đã thỏa thuận còn ½. Nguyên
đơn không đồng ý nên không căn cứ để ghi nhận. Các bị đơn kháng cáo nhưng
không đưa ra được chứng cứ gì mới nên không có cơ sở để chấp nhận.
[5]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị đơn không được chấp
nhận nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đối chiếu theo
quy định tại Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì
ông N, N1 thuộc trường hợp được miễn giảm án phí (do người cao tuổi) nên
ông N, bà N1 được miễn án phí theo quy định.
[6]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ là phù
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không nhận kháng cáo của bị đơn ông Văn N, Trần Thị
N1: Giữ nguyên Bản án dân sự thẩm số 100/2026/DS-ST ngày 31 tháng 3 năm
2026 của Tòa án nhân dân khu vực 4 – Cần Thơ.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Huỳnh P
L, Nguyễn Thị H đối với bị đơn vợ chồng ông Văn N, Trần Thị N1 về
việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền.
Buộc bị đơn vợ chồng ông N, N1 cùng trách nhiệm liên đới trả cho
nguyên đơn vchồng ông L, Hằng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu
đồng).
2. Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan
thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn
yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho
người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng
tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi
7
hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm
2015.
3. Về án phí dân sự thẩm phúc thẩm: Bị đơn vợ chồng ông N, N1
được miễn nộp án phí theo quy định (thuộc trường hợp người cao tuổi).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bcưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b 9 Luật
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT; (Đã ký)
- TAND khu vực 4 – Cần Thơ;
- Phòng THADS khu vực 4 – Cần Thơ;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Lê Thị Minh Trang
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 770/2026/DS-PT Bản án số 770/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 770/2026/DS-PT Bản án số 770/2026/DS-PT

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất